Pháp phục Phật giáo Bắc truyền Việt Nam

Trong luật Ma-ha tăng-kỳ, Đức Phật nói với các Tỷ-kheo: “Như Lai Ứng Cúng là người an lạc bậc nhất, xuất gia ly dục là niềm vui bậc nhất, tùy theo chỗ mà ở, lúc đi khất thực phải đem theo ba y và bát, ví như đôi cánh của chim luôn dính sát vào thân”.

Bài trên Báo Giác Ngộ số 1122 – Thiết kế: Phòng Mỹ thuật BGN/Tống Viết Diễn

Ba y gồm: an-đà-hội (skt: antaravāsaka), uất-đa-la-tăng (skt: uttarāsaga) và Tăng-già-lê (skt: sagāti). An-đà-hội là nội y, hạ y; tức lớp áo mặc lót, gồm áo và lớp vải quấn phần hạ thể (xà-rông) được ráp từ năm mảnh dài nhỏ bằng thứ vải gai hoại sắc. Uất-đa-la-tăng là thượng y, nhập chúng y, tức áo khoác ngoài áo an-đà-hội, ráp bằng bảy miếng vải (thất điều y), để hở vai phải, được mặc lúc đi khất thực, giảng pháp, hành lễ v.v… Tăng-già-lê là áo rộng nhất (đại y), may từ chín (cửu điều) đến hai mươi lăm mảnh dùng để mặc trong các dịp đại lễ.

Màu của ba y chủ yếu là vàng sậm (hoại sắc), tuy nhiên, trong lịch sử, tùy theo điều kiện, phong tục tập quán của từng xứ sở mà Phật giáo được du nhập, truyền bá mà có sự thay đổi bằng nhiều hình thức khác nhau. Cả ba y đều được tạo thành từ nhiều mảnh vải có ý nghĩa đời sống phạm hạnh không tham cầu và vô sản; mặt khác, số mảnh vải còn tượng trưng cho trí tuệ của bậc xuất thế.

Vì thế, “Phật chế ba pháp y là áo mặc duy nhất của Tăng đồ khi thọ giới và cũng để làm trang phục hoạt dụng thường ngày như hành lễ, thuyết pháp, thọ trai, khất thực… vì đó là y phước điền, y giải thoát trong giới đức tinh nghiêm biểu hiện sự trang sức, là lễ phục đẹp nhất của người tu sĩ Phật giáo…” (Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Luật nghi).

Trong suốt chiều dài lịch sử du nhập và phát triển, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng của hai truyền thống Phật giáo lớn, đó là Ấn Độ và Trung Quốc. Có lẽ, pháp phục thuở sơ khởi của tu sĩ Phật giáo Việt Nam theo hình thức Nam truyền, do các nhà truyền giáo Ấn Độ truyền đến. Tiếp đó là giai đoạn đất nước mất quyền tự chủ, chịu sự đô hộ trong hơn 1.000 năm Bắc thuộc, nên pháp phục chắc chắn chịu ảnh hưởng của truyền thống Phật giáo Trung Quốc theo các hình thức pháp phục thời Đường, Tống v.v… Trong đó, có sự phân biệt rõ giữa pháp phục của Tăng quan theo quy định của các triều đại và pháp phục thông thường trong sinh hoạt hàng ngày của giới tu sĩ.

Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, cho đến nay hầu như chúng ta không còn thư tịch nào miêu tả cụ thể chi tiết về các hình thức trang phục ở các thời kỳ đó.

Một vài manh mối hiếm hoi còn sót lại để chúng ta có thể hình dung về pháp phục của tu sĩ Phật giáo Việt Nam trong quá khứ, đó là tôn tượng của Đức Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông tôn trí tại bảo tháp Huệ Quang ở núi Yên Tử trong pháp phục Nam truyền với pháp y uất-đa-la-tăng (skt: uttarāsaga) thất điều để trần vai bên phải. Và một tư liệu khác, đó là hình ảnh của Đức Trần Nhân Tông trong tác phẩm hội họa “Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ”1 được miêu tả trong trang phục áo tràng rộng – pháp phục của Phật giáo Bắc tông.

Sự khác biệt trên phải chăng mang tính ước lệ mà họa sĩ dùng để miêu tả về hình ảnh của một Tăng sĩ Phật giáo, hay đó là hình thức đời thường dân dã khiêm nhường của một sơn tăng khổ tu trên non cao với một hình ảnh của bậc Đại sĩ lãnh đạo Phật giáo thời Trần trong pháp phục nghi lễ mang tính cung đình?

Dưới thời nhà Nguyễn, pháp phục của giới tu sĩ được quy định rõ theo quan chế. Cụ thể, “chức Tăng cang2 được cấp 1 bộ pháp phục gồm 1 cà-sa, một áo hậu 5 màu3, một mão Quan âm, một mão Tỳ-lô có 5 hình Phật4; thiền cụ, 1 đôi giày, một đôi dép. Trụ trì cũng được cấp 1 bộ, các thứ đều như của Tăng cang, riêng áo hậu chỉ có 2 màu. Các pháp phục này được dùng mặc trong các dịp lễ công. Nếu Tăng cang, trụ trì nào bị cách chức hoặc qua đời thì giao lại cho chùa gìn giữ để dùng. Nếu cái nào cũ rách, xét rõ không thể dùng được thì bẩm do thần bộ (Bộ Lễ) xin chế cái khác để theo định chuẩn.”5

Pháp phục Phật giáo Bắc truyền Việt Nam ảnh 1

Ngoài ra, còn có trường hợp vua chúa, hoàng gia ban tặng pháp phục (đặc tứ y bát) cho các vị danh tăng thanh tu đạo hạnh, có biện tài được triều đình và quần chúng ngưỡng mộ. Đây là biệt lệ, pháp phục được xem như tặng phẩm cúng dường nên thường được chế tác công phu bằng những chất liệu quý báu, hình thức, màu sắc đa dạng thể hiện sự thành tâm kính ngưỡng của người dâng tặng. Vì thế những bộ pháp phục đặc biệt này thường được trân quý và lưu truyền qua nhiều đời; mang tính tượng trưng hơn là một pháp phục hoạt dụng thường ngày.

Bình nhật, hầu hết các Tăng sĩ Bắc tông đều sử dụng bộ pháp phục đơn giản nâu sồng gần gũi với ruộng đồng dân dã theo tinh thần thiểu dục tri túc. Màu nâu sồng vỏ cây của Tăng sĩ miền Bắc hay màu vàng hoại sắc của chư Tăng miền Trung, dù có đôi chút khác biệt nhưng vẫn dựa trên tinh thần tùy duyên, vô ngã, vị tha của người con Phật chứ không phân biệt tông môn, pháp phái.

Đó cũng chính là cơ sở để Tổng hội Phật giáo Việt Nam (1952) quy định thống nhất về vấn đề pháp phục cho Tăng Ni, cư sĩ Phật giáo Việt Nam như sau: Đối với cư sĩ, mặc áo tràng năm thân màu lam. Sa-di, Sa-di ni mặc áo nhật bình màu lam. Tỳ-kheo mặc áo tràng màu nâu, Tỳ-kheo ni mặc áo tràng lam. Khi hành lễ, Tỳ-kheo mặc áo tràng (áo hậu) vàng, y vàng; Tỳ-kheo ni mặc áo tràng lam, y vàng. Tuy nhiên, chư Tăng, Ni miền Bắc vẫn bảo lưu truyền thống pháp phục nghi lễ gồm áo tràng nâu với pháp y màu vàng; trong khi tại miền Trung và Nam Bộ chư Tăng Ni có phân biệt rõ qua màu sắc áo tràng nâu (Tăng) và áo tràng lam (Ni). Các truyền thống này, về cơ bản vẫn được duy trì cho đến tận ngày nay.

Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng, mặc dù xuất phát từ nhiều truyền thống Phật giáo khác nhau (Trung Quốc, Ấn Độ) nhưng Phật giáo Việt Nam đã thâm nhập vào lòng dân tộc và mang những sắc thái đặc thù, mà trong đó hình thức pháp phục của Tăng Ni, Phật tử là một minh chứng. Ngoại trừ những bộ pháp phục mang tính lễ nghi để thích ứng với yêu cầu của từng giai đoạn, những triều đại lịch sử trong suốt hơn 2.000 năm du nhập và phát triển, thì trang phục của Tăng Ni, Phật tử Việt Nam vẫn duy trì được tinh thần của Phật giáo thuở ban đầu, đó là giản dị, khiêm cung, thanh tịnh, và giải thoát. Hình ảnh của vị tu sĩ Phật giáo trong lòng quần chúng Việt Nam luôn gắn liền với bóng áo nâu thuần phác của một đất nước nông nghiệp; đơn sơ gần gũi mà vững chãi như đất – trở thành một chỉnh thể bất khả phân ly trong tình tự dân tộc, đưa đất nước đi qua biết bao thăng trầm biến động của thời đại.

——————————————–

1 Tranh cuộn, kích thước 961 x 28cm miêu tả Trúc Lâm Đại sĩ (Trần Nhân Tông) hạ sơn, tương truyền của Trần Giám Như, họa sĩ Trung Quốc thời Nguyên vẽ. Tuy nhiên hiện nay, tác phẩm này đang còn nhiều tranh luận về vấn đề xuất xứ, tác giả; không loại trừ khả năng tác giả của nó là người Việt Nam.

Chức tăng quan, hàm chánh thất phẩm, theo quan chế nhà Nguyễn.

3 Màu sắc được thể hiện trên phần cổ áo tràng (giao lĩnh), còn gọi là áo hậu, một biến thể của y uất-đa-la-tăng (skt: uttarāsaga), theo truyền thống pháp phục Trung Quốc.

4 Mão tỳ-lô được đề cập trong phẩm phục Tăng cang nhà Nguyễn nêu trên gồm hai bộ phận tách rời gồm mão tì-lư và phần trang trí – dải Phật quan (ngũ phương Phật bảo quan). Hai bộ phận này được dùng kết hợp hoặc độc lập tùy theo từng nghi lễ khác nhau. Thí dụ, mão tỳ-lô kết hợp với dải Phật quan được vị sám chủ sử dụng trong nghi thức trai đàn chẩn tế, còn đối với các nghi lễ khác thì chỉ sử dụng mão tỳ-lô. Vì vậy, loại mão tỳ-lô này có khác biệt so với mão thất Phật của chư Tăng miền Bắc.

5 Châu bản triều Nguyễn – tư liệu Phật giáo qua các triều đại nhà Nguyễn 143 năm từ Gia Long 1802 đến Bảo Đại 1945. Lý Kim Hoa sưu khảo & biên dịch. Nxb. Văn Hóa Thông Tin, 2003.

Bài viết liên quan

Phản hồi