Khảo cứu về địa danh Tiêu Thiều qua một số Thư tịch cổ

Tiêu Thiều thôn (Hán: 簫韶村, tên Nôm: Thèo) là một làng cổ thời phong kiến thuộc tổng Đông Lỗ, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng. Năm Gia Long 13 (1814) triều Nguyễn đổi phủ Ứng Thiên thành phủ Ứng Hoà. | Toàn cảnh vùng đất Tiêu Thiều thôn
|
Đến đời vua Minh Mạng thì huyện Sơn Minh đổi là huyện Sơn Lãng. Năm Minh Mạng 12 (1831) thành lập tỉnh Hà Nội, phủ Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Nội. Năm 1888, triều Nguyễn cắt phần thành phố của tỉnh Hà Nội nhượng cho Pháp làm nhượng địa. Năm 1898 tỉnh lỵ Hà Nội được chuyển vào Cầu Đơ. Tháng 5 năm 1902 đổi tên tỉnh Hà Nội thành tỉnh Cầu Đơ. Năm 1904 tỉnh Cầu Đơ đổi tên thành tỉnh Hà Đông, vùng đất Tiêu Thiều vẫn thuộc tổng Đông Lỗ, phủ Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông. Đến năm 1960, hai làng Xuyết Lưu (綴流), Tiêu Thiều (簫韶) hợp lại thành thôn Thống Nhất thuộc xã Đông Lỗ, huyện Ứng Hòa[1]. Sau ngày 1.7.2026, thôn Thống Nhất sáp nhập với các thôn Mạnh Tân, Nhân Trai, Ngọc Trục thành thôn Đông Lỗ, xã Ứng Hòa, Hà Nội.
Vùng đất Tiêu Thiều xưa có ngôi cổ tự linh thiêng từ thời nhà Mạc, có Địa bạ thôn Tiêu Thiều khai tháng 3 năm Gia Long 4 (1805), có đình thờ Thành Hoàng làng và miếu thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh được sắc phong năm Duy Tân thứ 5 tháng 6 nhuận ngày mùng 8 (1911) và sắc phong năm Khải Định thứ 9 tháng 7 (1924). Khoa cúng Tổ trong sơn môn Mạnh Tân cũng nói đến vị sư trụ trì chùa Tiêu Thiều.
Tên chữ Tiêu Thiều lấy điển tích chỉ âm nhạc cổ điển tuyệt vời, thanh tao thời vua Thuấn. Khi tấu nhạc Tiêu Thiều đến độ hoàn mỹ thì chim phượng hoàng sẽ bay đến múa. Đó là cái tên mang yếu tố văn hóa, nghệ thuật đẹp đẽ mà các bậc tiền nhân đặt cho vùng đất của mình. | Trống hội Phật đản chùa Phúc Sơn |
Theo văn bia còn lưu giữ tại chùa Phúc Sơn cho biết: tấm bia đá có 2 mặt. Mặt trước bia khắc nguyên văn chữ Hán “Phúc Sơn tự bi ký 福山寺碑記” và toàn bộ nội dung; mặt sau bia khắc tên tuổi những người đã có tên ở mặt bia trước, nay ghi rõ số ruộng họ cúng vào chùa làm hương hỏa cùng việc họ mua sắm đồ tế khí thờ cúng vào chùa. Xin giới thiệu phần Hán tự và phiên âm như sau[2]:
福山寺碑記 (Phúc Sơn tự bi ký)
應天府山明縣東魯社簫韶村福山寺碑記 (Ứng Thiên phủ, Sơn Minh huyện, Đông Lỗ xã, Tiêu Thiều thôn, Phúc Sơn tự bi ký)
韙哉福山之寺古未有也意者天書分定地脈鍾 (Vĩ tai Phúc Sơn chi tự, cổ vị hữu dã. Ý giả thiên thư phân định, địa mạch chung)
靈其金相嚴然而生於大堤貢口處這箇誰識有 (linh. Kỳ kim tướng nghiêm nhiên nhi sinh ư Đại Đê Cống Khẩu xứ, giá cá thùy thức hữu)
平等無慧礙之佛而事之間有阮文端黃堂同造 (bình đẳng vô tuệ ngại chi Phật nhi sự chi? Gian hữu Nguyễn Văn Đoan, Hoàng Đường đồng tạo)
福山寺一間二廳而德風於前此至上年阮文端 (Phúc Sơn tự nhất gian nhị sảnh nhi đức phong ư tiền, thử chí thượng niên Nguyễn Văn Đoan)
黃堂再重修福山寺遂立石碑而慶延于后盛矣 (Hoàng Đường tái trùng tu Phúc Sơn tự, toại lập thạch bi nhi khánh diên vu hậu, thịnh hĩ!)
哉規模頓異凡間外積樂霑求功德中有所喜稱 (Tai! Quy mô đốn dị phàm gian. Ngoại tích lạc chiêm cầu công đức, trung hữu sở hỷ xưng)
不勝伐悅士皆曰唯能於是乎書刊一碑文為萬 (bất thắng phạt duyệt. Sĩ giai viết: Duy năng ư thị hồ thư san nhất bi văn vi vạn)
世準之 (thế chuẩn chi)
一會主 (Nhất hội chủ:)
阮文端 (Nguyễn Văn Đoan)
榜郡公郡夫人段氏玉典、范文梅 (Bảng Quận công, Quận phu nhân Đoàn Thị Ngọc Điển, Phạm Văn Mai)
范氏玉鳳、阮文耽、妻黃氏尤、白氏鑽 (Phạm Thị Ngọc Phượng, Nguyễn Văn Đam, thê Hoàng Thị Ưu, Bạch Thị Toan)
范氏芳、陳氏塢、阮世為 (Phạm Thị Phương, Trần Thị Ổ, Nguyễn Thế Vi)
延成八年陸月初五日秋節穀日立碑 (Diên Thành bát niên, lục nguyệt sơ ngũ nhật, thu tiết cốc nhật lập bi)
范世祿撰 (Phạm Thế Lộc soạn)
Dịch nghĩa:
Bia ký chùa Phúc Sơn, thôn Tiêu Thiều, xã Đông Lỗ, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Thiên
Lớn lao thay ngôi chùa Phúc Sơn! Thuở xưa nơi đây chưa từng có chùa. Thiết nghĩ, sách trời đã phân định sẵn, địa mạch tụ hội khí thiêng đất lành. Nơi đây tượng Phật vàng uy nghiêm hiển hiện ngay vùng cửa cống đê lớn, ai ai cũng nhận biết có Đức Phật bình đẳng rộng lượng, không chút vướng ngại, nên cùng lòng tôn kính phụng thờ.
Trong vùng có ông Nguyễn Văn Đoan cùng Hoàng Đường đồng lòng hưng công xây dựng chùa Phúc Sơn gồm một gian hai sảnh, khiến cho đức phong được lưu truyền từ trước. Đến năm vừa qua, ông Nguyễn Văn Đoan cùng Hoàng Đường lại tiếp tục đứng ra trùng tu lại chùa Phúc Sơn, bèn dựng bia đá này để phúc lành được kéo dài mãi về sau. Thật là thịnh vượng thay!
Quy mô chùa giờ đây đã hoàn toàn đổi khác, vượt trội hơn hẳn chốn phàm trần. Bên ngoài tích góp niềm vui gieo duyên công đức, bên trong ai nấy đều hân hoan ca ngợi, lòng vui mừng khôn xiết. Các bậc thức giả, nho sĩ đều nói rằng: “Chỉ có việc thiện này là đáng được khắc ghi vào bia đá để làm chuẩn mực truyền lại cho muôn đời sau”.
Danh sách những vị tham gia xây dựng chùa:
Chủ hội: Nguyễn Văn Đoan
Bảng Quận công và Quận phu nhân Đoàn Thị Ngọc Điển, Phạm Văn Mai.
Phạm Thị Ngọc Phượng, Nguyễn Văn Đam và vợ là Hoàng Thị Ưu, Bạch Thị Toan.
Phạm Thị Phương, Trần Thị Ổ, Nguyễn Thế Vi.
Ngày dựng bia: Bia dựng vào ngày lành tiết thu, mùng 5 tháng 6 niên hiệu Diên Thành thứ 8 (năm 1585, thời vua Mạc Mậu Hợp).
Người soạn văn bia: Phạm Thế Lộc.
Như vậy căn cứ theo nội dung văn bia cho thấy có cụ Nguyễn Văn Đoan là người làng Tiêu Thiều khi bấy giờ là hội chủ đứng lên kêu gọi dân làng và thập phương xây dựng ngôi chùa Phúc Sơn. Đặc biệt có cả Bảng quận công và Quận phu nhân cũng tham gia. Bảng quận công tên thật là Tống Đức Vị (宋德位) là một viên tướng phục vụ dưới quyền chúa Trịnh Tùng vào thời Lê Trung Hưng. Ông quê quán tại phủ Thiệu Hóa, xứ Thanh Hóa, từng giữ chức vụ Thái Bảo và được phong tước Bảng Quận công. Cuộc đời sự nghiệp của ông gắn liền với những biến cố lịch sử giai đoạn thời Lê – Trịnh (năm 1556 – 1573). Tống Đức Vị mất vào tháng 5 năm 1580. Văn bia chùa Phúc Sơn là một trong những tư liệu văn bia Phật giáo vô cùng quý giá từ thời nhà Mạc. Hiện nay, văn bia vẫn được lưu trữ bảo quản cẩn thận tại chùa, đồng thời năm 2022, nhà chùa và dân làng tạc tượng hai cụ Tống Đức Vị và Nguyễn Văn Đoan phối thờ tả hữu ban Đức Thánh Trần tại nhà Mẫu.
Tượng Phật chùa Phúc Sơn | Điện thờ Đức Thánh Trần phối thờ cụ Tống Đức Vị và Nguyễn Văn Đoan |
Căn cứ theo Địa bạ thôn Tiêu Thiều khai tháng 3 năm Gia Long 4 (1805): Thôn Tiêu Thiều phía đông giáp sông nhỏ đối ngạn xã Bài Nhiễm, tổng Bạch Sam, huyện Duy Tiên, phủ Lý Nhân, trấn Sơn Nam Thượng[3], lấy giữa sông làm giới. phía Tây giáp đường đê thôn Mạnh Tân bản xã và đường đê bản thôn, cùng lấy cột mốc đá làm giới. Nam giáp địa phận thôn Xuyết Lưu bản xã, lấy bờ ruộng nhỏ thôn ấy làm giới. Bắc giáp địa phận thôn Tư Can[4], xã Bài Nhiễm. Trong Địa bạ thôn Tiêu Thiều có nói đến ruộng công của làng tại xứ Bãi Nhạc ở phía bắc giáp ruộng Thần từ. Thần từ điền được chia đều cho dân bản thôn canh tác. Đó là minh chứng cho thôn Tiêu Thiều xưa có quần thể đình, chùa, miếu.
Theo Thần tích Thần sắc làng Tiêu Thiều, tổng Đông Lỗ, Phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông[5] năm 1938: Xưa đình làng phụng thờ Ngài Tản Viên Sơn Thánh làm Thành Hoàng làng. Làng Tiêu Thiều còn có ngôi miếu thờ phụng Thánh Mẫu Liễu Hạnh, có các sắc phong: Sắc phong năm Duy Tân thứ 5, tháng 6 nhuận, ngày mùng 8 (năm 1911); Sắc phong năm Khải Định thứ 9, tháng 7 (năm 1924). Trong năm có 2 ngày tế lễ lớn là ngày mùng 9 tháng giêng, mùng 3 tháng 3 âm lịch tại miếu. Đồ tế lễ là oản quả. Lý trưởng làng Tiêu Thiều thời điểm kê khai thần tích thần sắc là cụ Nguyễn Văn Tuân. Hiện nay ngôi đình thờ Thành Hoàng làng và miếu thờ Thánh Mẫu không còn, dân làng xây phủ Mẫu trong chùa Phúc Sơn năm 2020.
Khoảng nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX có sư cụ Thích Đàm Viên thuộc sơn môn Mạnh Tân tu hành tại chùa Tiêu Thiều, sau khi viên tịch có bảo tháp. Hành trạng của vị Tổ không được đề cập rõ trong các tài liệu hoặc bị thất lạc, hiện nay chỉ còn lưu lại vài dòng trong khoa cúng chữ Hán và văn bia tại tháp. Sơn môn Mạnh Tân lại là nhánh nhỏ thuộc sơn môn Long Đọi Sơn và Đa Bảo. Căn cứ theo Khoa cúng Tổ chùa Mạnh Tân chữ Hán do Đức Đệ tam Pháp chủ soạn: Sơn môn Mạnh Tân lấy chùa Mạnh Tân trong xã Đông Lỗ làm chốn Tổ. Tổ khai sơn chùa Mạnh Tân là vị Tổ Ni Thích Đàm Kiền (Nam Mô Tư Phúc Mạnh Đỗ Tháp Tỷ khiêu Ni Giới Thích Đàm Kiền, Hy Hy Tịnh Đức Thuyền Sư), viên tịch ngày 7/7. Tổ Thích Đàm Kiền thụ giới Tỷ – khiêu Ni tại chốn Tổ Long Đọi Sơn. Kế đến trong khoa cúng lần lượt liệt kê các vị giác linh trong sơn môn pháp phái Long Đọi, Đa Bảo phần lớn trụ trì các ngôi chùa địa bàn Đông Lỗ và Châu Can như Thích Đàm Định (viên tịch 15/4), Thích Đàm Viên (viên tịch 21/4), Thích Đàm Nhàn (viên tịch 12/4), Thích Đàm Tài (viên tịch 30 Tết), Thích Đàm Hoàn (viên tịch 8/chạp), Thích Đàm Hựu (viên tịch 5/5), Thích Đàm Nhạn, Thích Đàm Châu, Thích Đàm Trần (viên tịch 25/10) và gần đây nhất là sư cụ Thích Đàm Hiện (tân viên tịch ngày 18/3/Bính Ngọ – 2026). Tổ Thích Đàm Viên vốn là cô ruột nuôi sư cụ Thích Đàm Hựu ở chùa từ nhỏ. Sau năm 1960 toàn bộ chùa Phúc Sơn bị tiêu thổ, sư cụ Thích Đàm Hựu lại đang trụ trì chùa Hồng Ân thôn Tư Can nên xá lợi Tổ được rước về nhập tháp chung với giác linh sư cụ Thích Đàm Còng tại Châu Can.
Phủ Mẫu | Ban thờ Tổ |
Tiêu Thiều xưa và Đông Lỗ nay vẫn lưu giữ nhiều nét văn hóa làng xã đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ, với hệ thống đình, đền, chùa cổ kính gắn liền với đời sống tâm linh của cộng đồng cư dân nông nghiệp. Tiêu biểu trong vùng có chùa Phúc Sơn và các thiết chế văn hóa làng xã lâu đời, là nhân chứng cho quá trình khai phá, dựng làng giữ nước của cha ông từ thời phong kiến.
Ngày rằm tháng 6 năm Bính Ngọ – Dương lịch 2026
Tác giả: Bùi Thế Cường – Phúc Kim
[1] https://miendisanngoaido.unghoa.hanoi.gov.vn/di_san/di-tich-dinh-thong-nhat-ung-hoa/
[2] Do niên đại đã lâu, một số chữ trên bia đá đã bị mờ. Tác giả ngắt dòng theo đúng thứ tự chữ Hán trên bia
[3] Nay là sông Nghĩa, thôn Nghĩa Lập, xã Chuyên Mỹ, Hà Nội
[4] Nay là thôn Châu Can, xã Chuyên Mỹ, Hà Nội.
[5] Viện Thông tin Khoa học Xã hội
Trống hội Phật đản chùa Phúc Sơn
Tượng Phật chùa Phúc Sơn
Điện thờ Đức Thánh Trần phối thờ cụ Tống Đức Vị và Nguyễn Văn Đoan
Phủ Mẫu
Ban thờ Tổ
Phản hồi