Dấu ấn lịch sử của các bậc danh tăng xuất thân từ Phú Yên (Cũ) trong dòng chảy Phật giáo Việt Nam hiện đại

Nằm ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, Phú Yên (cũ) là vùng đất có lịch sử hình thành gắn liền với tiến trình Nam tiến của dân tộc. Trong dòng chảy ấy, Phật giáo sớm bén rễ và phát triển, tạo nên một môi trường văn hóa – tôn giáo đặc sắc, nơi xuất thân của các bậc danh tăng có ảnh hưởng sâu rộng đối với lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nếu thế kỷ XIII đánh dấu sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm thời Trần với triết lý “nhập thế”, thì đến thế kỷ XVIII, vùng đất Phú Yên đã xuất hiện một vị cao tăng kiệt xuất: Tổ sư Liễu Quán. Sự ra đời của Thiền phái Lâm Tế Liễu Quán không chỉ đóng vai trò then chốt trong công cuộc chấn hưng Phật giáo Đàng Trong, mà còn định hình một dòng thiền mang đậm bản sắc thuần Việt, gắn bó mật thiết với văn hóa và đời sống nhân dân.

Thiền sư Liễu Quán (1667-1742), húy là Thiệt Diệu, quê tại làng Bạt Má, huyện Đồng Xuân, phủ Phú Yên. Mồ côi mẹ từ năm 6 tuổi, Ngài sớm bộc lộ chí nguyện xuất gia và cầu đạo khắp chốn tòng lâm Thuận Hóa. Đến năm 1708, sau khi được Hòa thượng Minh Hoằng Tử Dung chứng ngộ, Ngài đã biệt xuất bài kệ 48 chữ bắt đầu bằng “Thiệt tế đại đạo…”, khẳng định tông chỉ tu tập “Hành giải tương ưng” – nghĩa là làm và hiểu phải đi đôi để đạt ngộ chân không. Với phương pháp hành trì dung hòa giữa thiền và tịnh, Thiền phái Liễu Quán nhanh chóng lan tỏa, tạo dựng một hệ thống truyền thừa vững chắc và liên tục cho đến tận ngày nay. Từ một vị tăng xuất thân ở vùng đất Phú Yên, Ngài đã hình thành một hệ thống truyền thừa có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến Phật giáo Đàng Trong. Điều đáng chú ý là sức sống của dòng thiền này vẫn còn được duy trì cho đến hiện nay. Có thể nói, giá trị lớn nhất của Thiền phái Liễu Quán không chỉ nằm ở việc hình thành một hệ thống truyền thừa độc lập mà còn ở khả năng Việt hóa tinh thần Thiền tông. Chính đặc điểm này giúp Phật giáo Đàng Trong vừa tiếp thu ảnh hưởng từ Trung Hoa, vừa giữ được bản sắc văn hóa bản địa. Ngày nay, các ngôi chùa mang dấu ấn của dòng thiền Liễu Quán như chùa Bảo Tịnh ( do Ngài Tế Hẩu khai sơn), chùa Bình Quang (do Ngài Tế Dũng khai sơn),  chùa Hồ Sơn (ngài Tế Căn khai sơn), Chùa Kim Cang (Ngài Tế Duyên khai sơn)… Các ngài đều là những học trò đắc pháp với Thiền sư Liễu Quán, góp phần rạng rỡ dòng thiền Liễu Quán nói riêng và Phật giáo Miền trung nói chung.

Tổ Liễu Quán

Nếu Thiền phái Liễu Quán đặt nền móng cho diện mạo Phật giáo Đàng Trong thì sang thế kỷ XIX, sự nghiệp của Thiền sư Hải Bình – Bảo Tạng (1818 – 1872) lại mở ra một giai đoạn phát triển mới của dòng truyền thừa này ở phương Nam. Ngài thuộc đời pháp thứ 40 của dòng thiền Liễu Quán, Ngài xuất thân từ Tổ đình Long Sơn Bát Nhã và mang trong mình cốt cách của một hành giả khát khao giải thoát, xả phú cầu bần.

Thiền sư Bảo Tạng đóng vai trò như một nhịp cầu lịch sử, mang ngọn đèn thiền học từ miền Trung xuôi về phương Nam, khai mở và định hình Phật giáo vùng Đông Nam Bộ. Ngài đã khai sơn, trùng tu hàng loạt tự viện từ Ninh Thuận (chùa Linh Sơn, Phước Lâm), Bình Thuận (Cổ Thạch) đến Bà Rịa – Vũng Tàu (chùa Bửu Long, Châu Viên, Ngọc Tuyền…). Ngài không chỉ dừng lại ở việc kiến thiết cơ sở vật chất, mà còn thể hiện qua tầm nhìn vượt thời đại về giáo dục khi tổ chức in ấn bộ Kim Cang Chú Giải bằng chữ Hán tại núi Châu Viên vào năm 1858, tạo nền tảng tư tưởng cho thế hệ Tăng Ni kế cận trong bối cảnh phương Nam còn thiếu thốn kinh sách.

Bước sang thế kỷ XX, mạch nguồn truyền thừa kết tinh trọn vẹn qua đạo nghiệp của các bậc danh tăng lỗi lạc: Hòa thượng Thích Hành Trụ (1904 – 1984), Hòa thượng Thích Trí Nghiêm (1911 – 2003), Hòa thượng Thích Phúc Hộ (1904–1985).

Hòa thượng Hành Trụ là nhà giáo dục tiên phong, người đã đóng vai trò kiến tạo nên hệ thống đào tạo Tăng Ni quy củ tại miền Nam thông qua việc thành lập Phật học đường Tăng Già (1946) và Giác Nguyên (1947), Phật học đường Chánh Giác (1963).  Điều đáng chú ý là mô hình giáo dục mà Hòa thượng Hành Trụ xây dựng không chỉ nhằm đào tạo Tăng tài cho từng địa phương mà còn góp phần chuẩn hóa hệ thống giáo dục Phật giáo ở miền Nam trong giai đoạn trước năm 1975. Đây là bước chuyển quan trọng từ phương thức truyền thừa trong tự viện sang mô hình đào tạo có chương trình và tổ chức. Sự quy củ trong giáo dục mà Ngài vạch ra không chỉ dành riêng cho chư Tăng mà còn tạo tiền đề vững chắc cho việc tổ chức, tu học bài bản của phân ban ni sau này. Bên cạnh đó, Ngài để lại khối lượng di sản học thuật đồ sộ với hơn 15 tác phẩm dịch thuật kinh, luật, luận quan trọng như Sa Di Luật Giải, Kinh A Di Đà Sớ Sao, trở thành giáo trình chuẩn mực cho nhiều thế hệ.

HT. Thích Hành Trụ

Cũng trong giai đoạn này, sự xuất hiện của Hòa thượng Thích Phúc Hộ (1904–1985) là bậc danh tăng trụ cột, có công lao to lớn trong việc định hình và phát triển Phật giáo Phú Yên thế kỷ XX. Xuất gia năm 14 tuổi, thọ Cụ túc giới năm 19 tuổi, ngài đã dành trọn đời cho sự nghiệp giáo dục, làm Giáo thọ tại nhiều Phật học đường lúc bấy giờ. Ngài trực tiếp trùng tu các di tích lịch sử như Tổ đình Sắc tứ Từ Quang và Tổ đình Bửu Tịnh, đồng thời kiến thiết các cơ sở giáo dục, từ thiện như trường Bồ Đề và Cô nhi viện.

HT. Thích Phúc Hộ

Đặc biệt, trong những giai đoạn biến động, ngài là ngọn cờ lãnh đạo phong trào chấn hưng, giữ vững mạng mạch Đạo pháp qua các chức vụ lãnh đạo chủ chốt của GHPG Phú Yên, che chở Tăng tín đồ an toàn vượt qua Pháp nạn 1963. Ở tầm vóc quốc gia, Ngài đảm nhiệm vai trò Đàn đầu Hòa thượng tại nhiều Đại giới đàn và là Thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương GHPGVN, để lại di sản lớn lao về giới đức và tinh thần hoằng pháp độ sinh. Đặc biệt, năm Tân Hợi (1971), Ngài được cung thỉnh vào Hội Đồng Trưởng Lão Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Việt Nam Thống Nhất kiêm luôn chức Giám luật viện này. Đây là minh chứng rõ nét nhất cho đạo hạnh của Ngài đối với đạo pháp và giáo hội.

Bên cạnh đó là Hòa thượng Thích Trí Nghiêm, Ngài sinh tại xã Xuân Lộc, thuộc khu vực Sông Cầu, là minh chứng tiêu biểu cho tinh thần “Phật giáo nhập thế”. Dấu ấn lịch sử của Ngài là việc chủ trương kiến lập Trường Bồ Đề Tuy Hòa và Cô nhi viện Phước Điền (1956), đưa Phật giáo vượt ra khỏi khuôn viên tự viện để trực tiếp tham gia vào giáo dục và an sinh xã hội. Đặc biệt, công trình phiên dịch bộ Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (24 tập, 600 quyển) của Ngài là một công trình phiên dịch kinh điển quy mô của Phật giáo, cung cấp nguồn tài liệu vô giá cho công tác nghiên cứu Đại thừa tại Việt Nam.

HT. Thích Trí Nghiêm

 

Nhìn từ tiến trình lịch sử, có thể thấy Phú Yên không chỉ là quê hương của nhiều bậc danh tăng mà còn là một trong những địa bàn có ảnh hưởng lâu dài đối với sự phát triển của Phật giáo Việt Nam. Từ Tổ sư Liễu Quán, Thiền sư Hải Bình – Bảo Tạng đến Hòa thượng Hành Trụ và Hòa thượng Thích Trí Nghiêm, mỗi vị đều để lại những đóng góp riêng trên các phương diện truyền thừa tông môn, giáo dục Tăng tài, phiên dịch kinh điển và phụng sự xã hội. Chính những giá trị ấy đã tạo nên một nét bản sắc văn hoá Phật giáo có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi địa phương. Việc nghiên cứu và phát huy di sản của các bậc danh tăng không chỉ nhằm tri ân tiền nhân mà còn góp phần khẳng định vai trò của Phật giáo trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa đồng hành cùng sự phát triển bền vững của đất nước.

Ngày nay, bước vào giai đoạn lịch sử mới, khi địa giới hành chính Phú Yên và Đắk Lắk được sáp nhập để hình thành nên tỉnh Đắk Lắk mới, Phật giáo vùng đất Tổ mang một sứ mệnh kết nối đặc biệt. Từ những dải đất linh thiêng của Sông Cầu, Tuy An – nay hòa quyện cùng không gian đại ngàn Tây Nguyên Di sản của Tổ Liễu Quán, Tổ Bảo Tạng cùng các bậc danh tăng hiện đại không chỉ bồi đắp bề dày văn hóa cho vùng đất sáp nhập, mà còn trở thành nền tảng triết lý dung hợp, đồng hành cùng sự phát triển của Phật giáo tỉnh Đắk Lắk mới trong kỷ nguyên hiện tại.

Hoa Vân

Bài viết liên quan

Phản hồi