Hoằng pháp tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền biên giới bắc Đồng Nai

PGĐS- Hòa trong niềm vui chào mừng thành công của Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh Đồng Nai lần I, nhiệm kỳ 2026-2031, Ban Biên tập xin trân trọng giới thiệu toàn văn tham luận của ĐĐ.Thích Minh Hậu, UVTT BTS GHPGVN tỉnh, phát biểu tại phiên trù bị của đại hội vào ngày 07/4/2026, chủ đề: Hoằng pháp tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền biên giới bắc Đồng Nai

 A. DẪN NHẬP

Tại các khu vực Bù Gia Mập (tỉnh Bình Phước cũ) nay là các xã Phú Nghĩa, Bù Gia Mập, Đắk Ơ và Đa Kia – khu vực biên giới phía Bắc tỉnh Đồng Nai, nơi đông đảo đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống – công tác hoằng pháp không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo thuần túy mà còn gắn liền với nhiệm vụ củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, ổn định đời sống tinh thần và giữ gìn sự hài hòa xã hội từ cơ sở.

B. THỰC TIỄN HÀNH ĐẠO TẠI MIỀN BIÊN GIỚI

I. Ứng Dụng Tứ Nhíếp Pháp vào công tác Hoằng Pháp.

  1. Đặc điểm đời sống của đồng bào dân tộc

Là địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới Bắc Đồng Nai, nơi có hơn 22 dân tộc anh em cùng sinh sống; trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 37%, chủ yếu là người S’tiêng. Bên cạnh ngôn ngữ của dân tộc mình, đa số đồng bào đều có thể nghe và hiểu tiếng Việt, nhất là thế hệ trẻ sau này. Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên không còn thuận lợi, đời sống kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, rất cần sự nâng đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần.

  1. Sự hiện diện của Phật giáo trong đời sống cộng đồng

Từ thực tiễn đó, trong những năm qua, Phật giáo tại địa bàn đã từng bước hiện diện thông qua việc hình thành và phát triển hệ thống cơ sở tự viện. Từ chỗ chỉ có 7 ngôi chùa ban đầu  ( 2021), đến nay đã có 14 chùa, phân bố phù hợp trên địa bàn bốn xã, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng và tu học của Phật tử; trong đó có nhiều đạo tràng mà Phật tử là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ rất cao – như Chùa Huệ Năng xã Đak Ơ; chùa Hương Lâm, xã Bù Gia Mập Phật tử dân tộc thiểu số chiếm trên 90%.

  1. Hoằng pháp gắn với từ thiện xã hội

Trong giai đoạn 2021–2026, các hoạt động từ thiện – xã hội được triển khai với tổng kinh phí trên 22 tỷ đồng, vận động xây dựng 18 căn nhà tình thương (trong đó có 16 căn dành cho đồng bào dân tộc thiểu số), cùng với việc trao hàng ngàn phần quà cho các hộ gia đình nghèo, học bổng và phương tiện học tập cho học sinh các cấp, hỗ trợ gạo hàng tháng cho các hộ gia đình đặc biệt khó khăn; bảo trợ cho các cháu khuyết tật; duy trì phòng thuốc nam gia truyền…Những hoạt động này góp phần giúp người dân ổn định đời sống, học sinh duy trì việc học, từ đó tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài của cộng đồng.

II. MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH TỪ THỰC TIỄN HÀNH ĐẠO

  1. Thứ nhất, xác lập Phật giáo vùng biên giới là lĩnh vực Phật sự đặc thù cần quan tâm đặc biệt

Việc sáp nhập địa giới hành chính tuy tạo thuận lợi cho công tác quản lý chung, nhưng đồng thời cũng đặt ra nguy cơ làm mờ nhạt vai trò và nhu cầu đặc thù của Phật giáo tại các vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa. Nếu công tác Phật sự chỉ được triển khai theo mặt bằng chung của toàn tỉnh, thiếu sự quan tâm đặc thù địa bàn, thì Phật giáo biên giới rất dễ bị bỏ quên trong quá trình phân bổ nguồn lực.

  1. Thứ hai, chú trọng công tác đào tạo và ổn định nhân sự Tăng Ni tại cơ sở vùng biên giới

Giáo hội cần khuyến khích, động viên và ghi nhận cụ thể để Tăng Ni an tâm trụ trì, gắn bó lâu dài với các cơ sở vùng biên giới.

  1. Thứ ba, bảo đảm nguồn trợ duyên ổn định cho công tác từ thiện tại vùng biên giới

Trong bối cảnh đời sống đồng bào vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, từ thiện xã hội là phương tiện quan trọng trong công tác hoằng pháp.

  1. Thứ tư, tôn trọng và dung hợp các giá trị văn hóa – tín ngưỡng truyền thống của đồng bào dân tộc

Hoằng pháp nơi vùng đồng bào dân tộc thiểu số không thể tách rời bối cảnh văn hóa bản địa. Việc tôn trọng tín ngưỡng truyền thống, phong tục tập quán và đời sống tinh thần của đồng bào là điều kiện tiên quyết để Phật giáo có thể hòa nhập và bén rễ lâu dài.

  1. Thứ năm, gắn công tác hoằng pháp vùng biên giới với chiến lược Hộ quốc an dân trong bối cảnh mới

Hoằng pháp tại vùng biên giới không chỉ nhằm phát triển số lượng tín đồ, mà quan trọng hơn là góp phần xây dựng nền tảng đạo đức xã hội, nâng cao ý thức trách nhiệm cộng đồng, tinh thần đoàn kết và ý thức giữ gìn an ninh trật tự tại cơ sở. Đây chính là sự tiếp nối sinh động truyền thống Hộ quốc an dân của Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh sáp nhập và phát triển hiện nay.

 

C. KẾT LUẬN

Hoằng pháp tại vùng dân tộc, vùng biên giới chính là sự thể hiện sinh động truyền thống Hộ quốc an dân của Phật giáo: Hộ quốc bằng đạo đức, An dân bằng từ bi. Việc chăm lo đời sống tinh thần cho nhân dân góp phần củng cố niềm tin xã hội, giữ gìn sự hài hòa cộng đồng và tăng cường sự ổn định từ cơ sở nơi biên giới, nối tiếp và phát huy phương châm “Đạo pháp- Dân tộc-Chủ nghĩa xã hội

BBT

Bài viết liên quan

Phản hồi