Thứ Ba, Tháng Chín 21, 2021

Truyền thống

Độc đáo lễ Chol Chnam Thmay của đồng bào Khmer trên đất “chín rồng”

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hiện có khoảng trên 1,3 triệu người Khmer sinh sống. Trong quá trình lao động sản xuất, hội nhập và phát triển, đồng bào Khmer vẫn lưu giữ được nhiều nét văn hóa đặc sắc, góp phần xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam.

Phật Giáo Đời Sống

Thượng tọa Thích Đức Thiện: “Tôi đặc biệt khâm phục trước sự hy sinh của lực lượng tuyến đầu”

“Tôi đặc biệt xúc động và khâm phục trước sự hy sinh của đội ngũ y tế, các y bác sĩ, lực lượng vũ trang ở tuyến đầu, các tình nguyện viên phục vụ điều trị bệnh nhân Covid-19, chăm sóc F0”, Thượng tọa Thích Đức Thiện chia sẻ.

Phát biểu trên giai phẩm Giác Ngộ nhân Đại lễ Vu lan Phật lịch 2565 (2021), Thượng tọa Thích Đức Thiện, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự GHPGVN, Đại biểu Quốc hội khóa XV bày tỏ:

“Có thể nói chưa bao giờ đất nước chúng ta phải đối diện với những khó khăn như hiện nay. Dịch Covid-19 đã lan các tỉnh, thành phố, 19 tỉnh thành phía Nam cùng lúc thực hiện Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ và nhiều địa phương khác áp dụng giãn cách xã hội theo nhiều cấp độ. Trên thế giới, nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đang hứng chịu ảnh hưởng khốc liệt của làn sóng dịch thứ ba kể từ đầu năm 2020 cho tới nay.

Thượng tọa Thích Đức Thiện: "Tôi đặc biệt khâm phục trước sự hy sinh của lực lượng tuyến đầu" ảnh 1

Thượng tọa Thích Đức Thiện tặng quà đến tình nguyện viện là chư Tăng trẻ tỉnh Nam Định vào làm công tác tình nguyện tại Trung tâm Hồi sức tích cực người bệnh Covid-19 (H.Bình Chánh, TP.HCM) – Ảnh: Bảo Toàn.

Trong hoàn cảnh khó khăn này, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc, toàn xã hội đồng lòng, đạo lý tương thân tương ái, tinh thần đại đoàn kết của dân tộc ta từng được thể hiện qua nhiều thời khắc lịch sử lại một lần nữa bừng sáng lên trên đất nước hình chữ S thân yêu.

Thượng tọa Thích Đức Thiện: "Tôi đặc biệt khâm phục trước sự hy sinh của lực lượng tuyến đầu" ảnh 2

Thượng tọa Thích Đức Thiện với TS.BSCKII Nguyễn Thanh Vinh tại Bệnh viện Dã chiến số 10 – Ảnh: Bảo Toàn.

Tôi đặc biệt xúc động và khâm phục trước sự hy sinh của đội ngũ y tế, các y bác sĩ, lực lượng vũ trang ở tuyến đầu, các tình nguyện viên phục vụ điều trị bệnh nhân Covid-19, chăm sóc F0. Tôi cũng hết sức trân trọng sự đóng góp vô quải ngại của Giáo hội các cấp, chư Tăng Ni, Phật tử, công dân đã và đang đem trí lực, tài sản và thời gian, hiến tặng các trang thiết bị y tế, ngày đêm phục vụ hàng chục ngàn suất ăn cho đội ngũ ở tuyến đầu, chia sẻ với đồng bào các nơi, đặc biệt ở các vùng dịch.

Thượng tọa Thích Đức Thiện: "Tôi đặc biệt khâm phục trước sự hy sinh của lực lượng tuyến đầu" ảnh 3

Thăm hỏi và tặng quà đến lực lượng vũ trang đang làm nhiệm vụ tại các bệnh viện dã chiến – Ảnh: Bảo Toàn.

Với Phật giáo, những ai hy sinh bản thân để giữ được sự sống, mang lại bình yên cho chúng sinh, đó là những bậc Bồ-tát. Trong suy nghĩ của tôi, các y, bác sĩ, đội ngũ y tế, lực lượng giữ gìn sự bình an và những người thiện nguyện đang làm công việc của các vị Bồ-tát”.

Ân sâu nghĩa nặng

0
Có một thứ ân sâu nghĩa nặng mà ngôn từ chẳng làm sao với tới được. Bởi lẽ ở đó, không có sự cho đi và đòi lại, tất cả đều trôi chảy hồn nhiên, không có gì ngưng đọng để người cho và kẻ nhận phải lưỡng lự ngập ngừng, tính toan do dự.
Ảnh minh họa

Phật bảo trên thế gian này chẳng có thứ ân nghĩa nào sánh bằng ân nghĩa ấy. Ân cha nghĩa mẹ! Cao vót, sâu mầu.

Một buổi chiều mưa gió, tôi đã bắt gặp người đàn ông ấy trong bệnh viện. Cánh tay sạm nắng, nhăn nheo chợt run lên khi giọt máu sau cùng được rút ra khỏi huyết quản. Ông ngất đi một lát rồi tỉnh dậy, cầm ít tiền trong tay và lao đi thật nhanh. Lại một lần nữa, tôi vô tình gặp con người ấy phía sau cổng bệnh viện, trên tay đứa con nhỏ sốt ho hỏi nhìn cha với đôi mắt cầu khẩn. Ngắm con mấp máy mấy giọt sữa vừa đổi được từ máu mình, người đàn ông ấy đã mỉm cười. Tôi lặng người. Trong lòng chợt nghĩ, không biết mai kia lớn lên, đứa bé có biết chuyện này không? Huyết đào cha cho con, mai này lớn khôn khỏe mạnh, cha mừng. Còn chuyện hôm nay, ai sẽ kể cho con nghe? Thôi, bỏ đi. Bởi vì cha có muốn nhắc tới chuyện đó bao giờ đâu.

Có những chuyện tình cờ thoáng qua bên đường mà trở thành thiên thu diễm lệ. Có những vị Phật trong đời không phát ra tướng lông trắng giữa chặn mày, phóng luồng hào quang sáng lớn mà vẫn có thể tuyên nói diệu pháp sâu mầu bằng trái tim và ánh mắt từ ái, bao dung, hy sinh, độ lượng vô bờ. Rất tiếc trên đời này, không cây cọ nào có thể vẽ nổi một bức chân dung sống thực của hai đấng sinh thành. Cho nên rồi, đối với mẹ cha dù con cái có thương yêu, nghĩ tưởng tới đâu cũng vẫn thiếu thật nhiều so với đôi mảnh tình chung, một núi một biển ấy. Ở đó, không bờ không mé, không có rào giậu để cho bước chân con dù có lạc lối tới đâu, cũng được hồn của cha và tình của mẹ nâng đỡ đón trở về.

Cha mẹ ôm trọn cuộc đời con, con có mặt trong cuộc đời cha mẹ như một dòng sông mà cả ba phải hòa mình vào nhau, để có chung từ bên trong một nhịp đập trôi chảy đến vô cùng. Cho nên con khổ thì cha mẹ cũng khổ, con vui thì cha mẹ cũng vui, con tu hành cứu kính được giác ngộ giải thoát thì cha mẹ cũng sanh thiên. Đạo lý này không phải chỉ được nhấp trên đầu môi, mà đó là một sự co thắt trong từng khúc ruột, từ thuở hài nhi mới vào thai. Hình hài con là kết tinh của cha, là máu thịt của mẹ, là hơi thở và linh hồn của trái tim thấm đượm lòng yêu thương vô bờ.

Đôi khi vì mải mê theo đuổi một Đức Phật trong tâm tưởng mà chúng ta bỏ quên Đức Phật bằng xương bằng thịt ngay sát bên cạnh mình. Người đứng tựa cửa thật lâu vào mỗi chiều về, ngóng đợi bóng dáng ta từ tít xa đầu ngõ, bụng thầm cầu nguyện cho con đi đường bình an, mau về tới nhà. Ta quên đi Đức Phật sống động luôn bên cạnh mình, mà chỉ nhớ Đức Phật với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp như trăng rằm. Và vì thế ta đã chối bỏ những đường nét mặn mà khằn lên mắt môi mẹ cha qua bao năm tháng tảo tần, để cho ta có được cuộc sống hôm nay.

Một lời nói vô tình, một cái nhìn hời hợt, một cử chỉ thờ ơ… ta đâu có hay đã làm nhói đau lòng mẹ cha. Nhưng không vì thế mà trái tim người khô héo, chai sạn, ngược lại còn đỏ thắm yêu thương đến không ngờ. Lỗi lầm nào của con cha mẹ cũng bỏ qua, niềm vui nào của con cha mẹ cũng cho hết, nỗi khổ nào của con cha mẹ cũng xin nhận, miễn con được an vui hạnh phúc là đủ rồi. Hiện thân của lòng từ vô lượng ấy, ngoài trái tim của Bậc Giác ngộ ra, không trái tim nào có thể sánh nổi. Cho nên quên mất mẹ cha là đánh mất trái tim mình, làm sao ta có thể sinh tồn và khôn lớn mà nói chuyện thành người!

Đôi khi vì mải mê theo đuổi một Đức Phật trong tâm tưởng mà chúng ta bỏ quên Đức Phật bằng xương bằng thịt ngay sát bên cạnh mình. Người đứng tựa cửa thật lâu vào mỗi chiều về, ngóng đợi bóng dáng ta từ tít xa đầu ngõ, bụng thầm cầu nguyện cho con đi đường bình an, mau về tới nhà…

Hôm giã từ cha mẹ đi tu, mỗi chúng ta có thể đã đem lại niềm hạnh phúc lớn nhất cho người mà cũng có thể đã đem đến nỗi khổ lớn nhất cho người. Ngày nào tâm ta hết tham sân si thì ngày đó muôn cửa lành rộng mở đón cha mẹ trở về. Ngày nào tâm ta còn chìm ngập bóng tối vô minh thì ba đường dữ mở ra đưa đẩy mẹ cha trầm luân trong thống khổ. Cha yếu, mẹ già tại tiền thì xa con, nhắm mắt lại không ai chỉ lối đưa đường. Nỗi khổ này, biết con có nhớ đến hay không?Đã lâu rồi, âm hưởng lá thơ của mẹ ngài Động Sơn gởi cho ngài, vẫn ngàn năm vang vọng như hồi chuông thức tỉnh lòng người Thích tử xa nhà:

– Mẹ cùng con đời trước có nhân duyên mới kết thành tình mẹ con. Kể từ ôm thai trong lòng, sớm chiều cầu Thần khẩn Phật nguyện sanh được con trai. Thai bào đủ tháng, mạng sống như chỉ mành, sanh con được toại nguyện quý như châu như bảo, không nề sự hôi hám của phân uế, chẳng ngại sự bú xú nhọc nhằn. Con vừa thành người, dắt đến trường học tập; hoặc khi con đi chơi về trễ, mẹ đứng cửa trông mong.

Con viết thơ về quyết xin xuất gia. Cha đã mất, mẹ già, anh yếu, em nghèo nàn, mẹ trông cậy vào ai? Con có ý bỏ mẹ, chớ mẹ nào có tâm quên con. Từ khi con cất bước tha phương, ngày đêm mẹ thường rơi lệ. Khổ thay! Nay con lại thệ chẳng về quê, mẹ cũng tùy chí nguyện của con. Mẹ không dám mong con như Vương Tường nằm giá, Đinh Lan khắc cây, chỉ mong con như Tôn giả Mục Liên độ mẹ thoát khỏi trầm luân, tiến lên Phật quả. Nếu mẹ không như vậy e phải có tội, con cần phải giải quyết cho xong.

Mỗi lời thơ là một hạt ngọc trai kết tinh từ trái tim tràn đầy hùng lực, bi lực và trí lực. “Mẹ chỉ mong con độ mẹ thoát khỏi trầm luân, tiến lên Phật quả” là một thông điệp, một sứ mệnh mà mỗi người con Phật phải hoàn thành trước khi muốn bước lên bến bờ giác ngộ giải thoát. Lá thơ không chỉ khắc lên tâm khảm thiền sư một di huấn tối hậu của từ mẫu, mà còn là lời tuyên thệ nguyện dẫn lối cho con đi suốt cuộc hành trình, đến khi nào rốt ráo viên mãn, chấm dứt tử sinh, lòng mẹ mới yên.

Ân cha như núi, nghĩa mẹ như biển, chúng ta không có con đường nào khác để lựa chọn ngoài một đạo lộ thẳng tiến trước mắt. Chừng nào giải quyết xong đại sự thì mới mong nhìn mặt mẹ cha, bằng không thì tội lớn khó tha! Cho nên hạnh phúc hay khổ đau của song đường đều gởi trọn nơi đời tu của mỗi chúng ta. Phật dạy, người xuất gia chỉ có tu hành tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn mới mong đền đáp ân sanh thành dưỡng dục của mẹ cha. Lời này, làm sao chúng ta dám quên!

Mùa Vu lan về là mùa hoa tâm nở. Hoa hiếu hạnh và đạo đức tròn đầy, tuy không gợi sắc màu mà hương thơm ngược gió bay xa. Chúng con cúi xuống cung kính dâng lên mẹ cha đời này và vô lượng vô lượng những đời khác, đóa hoa tâm tha thiết ngạt ngào. Nguyện từ lực cha mẹ luôn hộ độ cho chúng con, cùng chúng con đi suốt cuộc hành trình, vượt thoát nẻo tử sinh. Ngày thành Phật, chắc chắn có mẹ và cha đồng vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai với chúng con.

Kính mong cha mẹ hãy yên lòng…

Quê Hương là gì hả mẹ? Ý nghĩa của quê hương với đời sống tâm hồn của mỗi người?

0

“Quê hương là gì hả mẹ?

Mà cô giáo dạy phải yêu”

Không biết từ khi nào những thơ đó cứ được mọi người say sưa, ngân nga và nhanh chóng trở thành một giai điệu đẹp. Tình yêu quê hương của mỗi người được mẹ truyền lửa từ khi còn nhỏ. Để rồi trong mỗi bước đường đời, chúng ta lại khoắc khoải câu hỏi “Quê hương là gì hả mẹ” với nhiều ý nghĩa quý giá, nghe mà thấm thía, sâu sắc.

Quê hương là gì trong tâm trí mỗi người?

Sẽ chẳng có một thước đo hay một định nghĩa nào có thể diễn tả hết về quê hương. Chỉ biết rằng, tình yêu ấy trong cảm nhận của mỗi người đều mang một giá trị cuộc sống thật tốt đẹp. Trong bài thơ Quê hương là gì hả mẹ của nhà thơ Nguyễn Trung Quân, chúng ta lại một lần nữa sống lại những kỷ niệm, ký ức và nỗi nhớ quê hương dạt dào. Quê hương là gì được diễn tả trong tứ thơ:

“Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày

Quê hương là đường đi học

Con về rợp bướm vàng bay”.

Quê hương là hoài niệm đẹp của tuổi thơ, nuôi dưỡng ước mơ của bao người!

Chỉ với 4 câu thơ đấy thôi mà ta có thể cảm nhận quê hương rất đỗi bình dị, thân thương biết nhường nào! Chỉ có quê hương mới cho ta những khoảnh khắc ngọt của tuổi thơ, nuôi dưỡng ước mơ, chắp cánh hoài bão cho mỗi người bay xa trên cánh cửa đường đời phía trước. Quê hương cũng mang cho ta những bài học, dạy dỗ mỗi người khôn lớn, trưởng thành. Biết bao điều tươi đẹp của quê hương cứ tiếp tục chảy trôi mãi trong tâm trí mỗi người .

Quê hương là gì nữa hả mẹ? Quê hương được ví như: con diều biếc, cầu tre nhỏ, vàng hoa bí,… Quê hương luôn mang trong mình những điều nhỏ bé, bình dị và đời thường đến thế. Vì lẽ đó mà quê hương đi vào tâm trí, cảm xúc của mỗi con người nhẹ nhàng, sâu lắng. Quê hương đẹp đẽ, lung linh, ngọt ngào. Quê hương là tất cả những ký ức, tình cảm về mảnh đất nơi nuôi dưỡng chúng ta .

Ý nghĩa của quê hương

“Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi”

Chỉ hai câu thơ lắng đọng như vậy thôi đã diễn tả trọn vẹn ý nghĩa của quê hương lớn lao biết nhường nào. Quê hương là duy nhất, chỉ có một cũng giống như mỗi người chỉ có “một mẹ mà thôi”. Điều này nhắc nhở ta phải luôn nhớ về quê hương. Dù có đi đâu xa chăng nữa cũng đừng quên quê hương của mình. Mảnh đất “chôn rau cắt rốn” ấy còn có ý nghĩa gì với đời sống tâm hồn của mỗi người?

Quê hương được khởi nguồn từ những điều bình dị, bắt đầu từ tình cảm gia đình, làng xóm,…Quê hương nuôi dưỡng nhân cách, phẩm chất của mỗi con người. Nó giúp chúng ta biết rung động trước cái đẹp, biết đồng cảm, sẻ chia với những người khốn khổ.

Quê hương là duy nhất, chỉ có một cũng giống như mỗi người chỉ có “một mẹ mà thôi”

Quê hương trong đời sống tâm hồn của mỗi người

Tình yêu quê hương gắn liền với vòng tay, sự ấm áp và che chở của gia đình luôn đón chào những người con đi xa trở về nhà. Mảnh đất ấy không chỉ gắn kết những người thân trong một gia đình mà còn lan tỏa tới nhiều cá thể trong một cộng đồng. Chính điều đó đã tạo nên một sức mạnh to lớn, giúp đoàn kết, khơi dậy ý chí của dân tộc.

Cánh diều biếc thả trên cánh đồng từng mang dấu ấn của tuổi thơ tươi đẹp!

Quê hương ngọt ngào, gần gũi đến lại với chúng ta. Về với quê hương là bao nhiêu tủi hơn, ấm ức, mệt mỏi nhẹ nhàng tan biến. Khi đi xa trở về, ta như muốn điên cuồng tìm đến sự quen thuộc của từng cây đa, gốc me, gốc mít, ta chỉ muốn vỡ òa trong niềm hạnh phúc vô bờ bến. Ai cũng muốn gom lại hết mọi tình cảm yêu thương vào trong trái tim để được đi cùng nó đến suốt cuộc đời.

Những bài hát hay về quê hương khiến ai cũng nhớ nhà Tuyển tập những bài thơ 4 chữ về quê hương gây xúc động

Mỗi người cần làm gì cho quê hương?

Ý thức được sức sống mãnh liệt của quê hương, mỗi người cần phải làm gì đó cho quê hương của mình? Cảm xúc của con tim phải được chuyển hóa thành hành động mới có thể tồn tại mãi mãi. Hãy bắt đầu từ những điều đơn giản trong cuộc sống thường nhật.

Nhà thơ Tố Hữu từng nói “Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt – Như mẹ cha ta, như vợ như chồng” nhằm thức tỉnh mỗi người phải mở rộng tình cảm quê hương để nhân rộng thành tình yêu, trách nhiệm với đất nước.

Hãy thể hiện tình yêu quê hương, đất nước bằng những việc làm đơn giản, thiết thực nhất!

“Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà tự hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay”. Nếu ngày xưa, tình cảm dành cho quê hương được thể hiện bằng việc chống giặc ngoại xâm thì ngày nay nghĩa vụ dành cho quê hương của mỗi người lại khác. Hãy học tập, làm việc và không ngừng cống hiến sức lực của mình cho quê hương, đất nước. Đó mới là việc làm thiết thực nhất dành cho quê hương.

Còn với bạn, quê hương là gì? Quê hương trong bạn có gắn liền với nhiều kỷ niệm đẹp của tuổi thơ không? Và bạn đã dành tình yêu cho quê hương mình như thế nào? Hãy Yêu Quê Hương bằng những điều bình dị, nhỏ bé nhất hàng ngày. Dù sao đi nữa, đừng bao giờ quên quê hương của mình và hãy lan tỏa thứ tình cảm đáng quý ấy tới nhiều người hơn nhé!

Phan Hiền

 

Hiếu đạo: Tình thương trong ngày đại dịch

Lễ Vu lan là ngày mỗi chúng ta phải nhìn nhận lại, mình đã nhận được bao nhiêu nguồn sống tình thương của mọi người xung quanh mình, cộng đồng mình đang sống. Hãy thực hành hạnh hiếu mọi lúc mọi nơi theo tinh thần của Phật giáo.

Trong những giá trị văn hóa đạo đức nền tảng làm nên cội nguồn văn hóa Việt Nam thì Văn hóa biết ơn đã trở thành nét đẹp truyền thống linh thiêng, cao quý và gần gũi của mỗi người Việt nam. Một xã hội thật sự tốt đẹp là khi được xây dựng vững vàng trên những nền tảng những đạo lý sâu sắc. Với dân tộc Việt Nam, lòng biết ơn được thể hiện ở việc phụng thờ tổ tiên, tôn vinh các bậc tiền bối, anh hùng liệt sĩ có công với đất nước, giang sơn. “Đạo lý uống nước nhớ nguồn” không chỉ là gìn giữ, biết ơn và bảo vệ những thành quả của thế hệ đi trước, mà còn là bản thân mỗi người phải luôn cố gắng, cống hiến cho những thành quả đó ngày cảng to đẹp hơn, rực rỡ hơn. Do vậy đạo lý ấy luôn là nền tảng vững chắc tạo nên một xã hội thân ái, nhân văn và đoàn kết.

Phật giáo ngay từ buổi đầu du nhập vào Việt Nam với tinh thần Từ bi – Trí tuệ, đã nhanh chóng hòa nhập vào nền văn hóa của người dân Việt. Giá trị đạo đức tiêu biểu của Phật giáo là tinh thần tri ân và báo ân được thể hiện cụ thể trong lễ Vu lan hàng năm theo truyền thống của đạo Phật. Lễ Vu lan dần trở thành ngày hội của tình thương yêu con người. Vu Lan xuất phát từ sự tích Bồ tát Mục Kiền Liên vị đại đệ tử của Phật, với lòng chí hiếu cứu mẹ ra khỏi cảnh ngã quỷ khổ đau tăm tối nơi địa ngục. Vu lan là ngày lễ truyền thống hàng năm nhằm để tưởng nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, ông bà, tổ tiên, là dịp để cho mỗi người nhắc nhở lại bổn phận làm con của mình, tinh thần hiếu thảo trong mỗi mùa Vu lan, đã trở thành bông hoa đạo đức, nhắc nhỡ mỗi người con phải tự soi xét, sống có hiếu hơn, đạo đức hơn, sống tốt hơn để đền đáp tình thương rộng lớn của những đấng sinh thành, người đã dâng trọng cả cuộc đời cho con.  Mùa vu lan không chỉ đơn thuần là cầu an lạc cho cha mẹ hiện còn tại thế và cầu siêu cho cha mẹ, ông bà và tổ tiên, bố thí cho những vong hồn không nơi thờ cúng, mà còn mang nhiều ý nghĩa rộng lớn hơn, nhân văn cao đẹp hơn đó là; mùa yêu thương đối với cộng đồng quốc gia và dân tộc.

Lễ Vu lan là ngày mỗi chúng ta phải nhìn nhận lại, mình đã nhận được bao nhiêu nguồn sống tình thương của mọi người xung quanh mình

Phật giáo với những triết lý duyên sinh, nhân quả, vô thường, vô ngã, mỗi một cá nhân hiện hữu đều do nhiều mối tương duyên, tương sinh để tồn tại. Do vậy không ai có thể sống một cuộc sống biệt lập, mà không có các mối quan hệ khác. Nhà Phật chủ trương mỗi người đều mang trên mình bốn ân nặng (Tứ Trọng Ân) đó là: 1, Ân trời đất (Thiên nhiên) bao bọc chở tre cho sự sinh sống của muôn loài. 2, ân quốc gia (đất nước). 3, ân Sư trưởng, phụ mẫu (Thầy tổ, thầy dạy, và cha mẹ, ông bà). 4, Ân thập phương tín thí (đồng bào, xã hội). “Tứ trọng ân” như một dòng suối trong lành, mát dịu, len lỏi đến từng trái tim của mỗi con người và đã trở thành nguồn sống tinh thần trong tâm thức con người: Tri ân và báo ân (1).

“Hiếu đạo không phải là một di sản đặc thù của người Phật tử mà là nghĩa vụ thiêng liêng của tất cả mọi người. từ các đấng thánh nhân cao cả cho đến một người bình thường không ai là không có cha mẹ sinh ra. Chính cha mẹ tạo nên hình hài của mỗi chúng ta. Nếu không do công ơn trời bể của hai đấng sinh thành thì sao chúng ta có mặt trên cõi đời này. Cha mẹ không những hy sinh một phần máu thịt cho con mà còn tốn hao biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt để nuôi nấng, mất hết bao thì giờ và sức lực để dạy con…. Tình thương của cha mẹ dành cho con là tình thương thiêng liêng không có bất cứ một thứ tình cảm nào trên cõi đời này có thể so sánh được” (2). Chính vì vậy trong Sám Mục Liên có dạy: “Hiện tiền đại chúng hãy nên biết rằng, ân đức cha mẹ không bến không bờ thực khó đáp đền. dù trăm nghìn đời nghiền thân làm vị đề hồ dâng cúng cho cha mẹ cũng không báo đáp hết công ơn cha mẹ”, bên cạnh đó còn phải vì cha mẹ mà làm những điều phúc thiện, lòng biết ơn không chỉ với đấng sinh thành, mơ rộng ra là thầy cô, bè bạn, chúng sinh quốc gia dân tộc.

Năm nay, mùa Vu lan lại tới trong tâm thức của những người con Hiếu. Nhưng trước tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn ra vô cùng phức tạp ở một số các tỉnh thành và đất nước như: Hà Nội, Đồng Nai, Quảng Bình, Khánh hòa, Lâm Đồng, Cần Thơ, Hà Tĩnh, Hà Nội….  nhất là Thành Phố Hồ Chí Minh và Bình Dương. Tính đến Chiều ngày 12/8/2021 Việt Nam đã có 246.568 ca nhiễm tính cả nhập cảnh và trong nước (3). Trước tình hình đó, Toàn thể các cán bộ, chiến sĩ, bác sĩ và toàn dân đã và đang ra sức thực hiện phòng và chống dịch bệnh. Hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, lời kêu gọi của Ủy Ban Trung ương MTTQ Việt Nam về phóng chống Covid, cũng như thực hiện Thông cáo của Ban Thường trực hội đồng trị sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam , toàn thể Tăng ni, Phật tử chung tay các ngành các cấp và chính quyền địa phương trong cuộc chiến phòng chống đại dịch COVID -19, bằng hành động cụ thể là ở yên tại chỗ, thực hiện nghiêm túc quy định 5K và chỉ thị 16. Đúng 6h ngày 27-7, các chùa, cơ sở tự viện trong cả nước sẽ đồng loạt cử 3 hồi chuông chống tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, đồng thời trì tụng kinh Dược Sư cầu nguyện dịch bệnh tiêu trừ.

Chư tôn đức Ban điều hành Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội cùng Tăng Ni sinh đang cấm túc tại Học viện tụng kinh Dược Sư cầu nguyện dịch bệnh sớm tiêu trừ và tổ chức lễ tụng kinh cầu siêu nhân mùa Vu Lan về.

Bằng các hành động thiết thực cụ thể, các cơ sở tự viện, Tăng Ni đã ủng hộ, đóng góp vật tư, trang thiết bị cho Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương đang phải chống dịch nặng nề. Từ tinh thần tri ân, báo ân, từ tình thương truyền thống của dân tộc, các Tăng ni, Phật tử tham gia cùng với các cấp chung tay trong công cuộc “Chống dịch như chống giặc” như: Chùa Giác Ngộ – Quỹ Đạo Phật Ngày Nay, trong những ngày thành phố Hồ Chí Minh cách ly, phong tỏa, chùa đã gửi tặng hàng trăm tấn thực phẩm cho người dân, được tiếp nhận từ các mạnh thường quân và tăng ni Phật tử. nhiều cơ sở của Giáo Hội đã được chung tay làm khu cách ly y tế như: Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Huế cơ sở 2, chùa Ích Minh huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, Và rất nhiều các cấp giáo hội ở các tỉnh thành trong cả nước đã và đang tực hiện nhiều các trương trình, quyên góp tài chính ủng hộ vào quỹ vắc xin, những chuyến xe chở nhu yếu phẩm, vật tư y tế đang ngày đêm chở tình cảm của cả nước hướng về thành phố mang tên bác. , .v.v..

Bên cạnh đó, thời gian này còn có đông đảo Tăng Ni, Phật tử đã tham gia tuyến đầu phòng chống dịch, trong đó phải nói tới phong trào “Cởi áo cà sa khoác áo blouse trắng phòng chống dịch”. Ngày 22/7/2021 tại hội trường Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, lễ xuất quân dành cho 299 tinh nguyện viên các tôn giáo tham gia phục vụ tại các bệnh viện dã chiến (đợt 1) đã được diễn ra. Trong đó có 80 tăng ni và Phật tử, trong số đó có 2 đại đức và 13 sư cô đã tham gia. Mới đây tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam Tại Hà Nội, đã có hàng trăm Tăng Ni sinh trẻ nộp đơn được tham gia tuyến đầu phòng chống dịch.

Trong đơn phát nguyện, ni sinh Thích Nữ Minh Nghĩa, lớp HV4 viết: “Chúng con là những Tăng Ni sinh trẻ, những người con của Như Lai, noi theo hạnh nguyện của Ngài với tinh thần từ bi, xin phát nguyện được tham gia phòng chống dịch COVID-19, góp phần nhỏ bé của mình sẻ chia những khó khăn với y, bác sỹ, các lực lượng tuyến đầu chống dịch. Chúng con nguyện cầu hồng ân Tam bảo, mong sao dịch bệnh sớm tiêu trừ để người dân trở lại cuộc sống bình thường. Nếu được tham gia vào đội tình nguyện chống dịch, là niềm vinh hạnh của chúng con, nguyện làm hết sức mình để giúp đỡ người bệnh”(4) Đại đức Thích Tâm Quang (Phan Trương Thanh Luận), đang tham gia tình nguyện tại Bệnh Viện Hồi Sức Cấp Cứu Covid-19 (Thành phốThủ Đức- Thành phố Hồ Chí Minh)  facebook: Chân Tịnh chia sẻ:

– “Tham gia chống dịch: Vui có, buồn có, lo lắng có, sợ cũng có…

– Đối diện với dịch bệnh hàng ngày ai chả sợ.

– Nhưng nhiệt huyết cống hiến, phụng sự nó lớn hơn nỗi sợ trong lòng, để rồi ta cớ vậy mà bước đi, mà tiến tới …

– Cuộc đời đẹp nhất là khi được dâng hiến đời mình cho đất nước, cho nhân dân… đó là lý tưởng là lẽ sống của người con Phật: Phụng sự chúng sinh là thiết thực cúng dàng chư Phật

– Đất nước đang trải qua những ngày đau bệnh. Mỗi người cùng chung tay để chữa lành. Đây là nỗi đu chung. Cũng là lời cảnh tỉnh để từ đây con người biết thương yêu nhau, bỏ qua hận thù”…

Đại đức Thích Tâm Quang (Phan Trương Thanh Luận), đang tham gia tình nguyện tại Bệnh Viện Hồi Sức Cấp Cứu Covid-19

Ở nơi tuyến đầu thầy nhắn gửi gắm mọi người: “Muốn gửi triệu lời yêu thương tới mọi người ngoài kia. Ước mong duy nhất là mọi người đừng để bản thân bị nhiễm bệnh, đừng trở thành F0, Mọi người khổ, xã hội khổ theo, lực lượng tuyến đầu lại thêm phần lo lắng, thao thức. Hãy bảo về chính mình. Cố lên, chúng ta xẽ quyết thắng đại dịch”

Phật tử Nguyễn Chí Tâm ở Quận Gò Vấp –  Thành phố Hồ Chí Minh. Một Phật tử trẻ cùng với mọi người tổ chức rất nhiều buổi thiện nguyện, giúp đỡ mọi người ở Thành phố Hồ Chí Minh những nhu yếu phẩm thiết yếu, hàng nghìn, vài nghìn xuất quà được trao tới mọi người trong khu cách ly, những hoàn cảnh khó khăn trong mùa dịch. Tâm nói: “Em thấy mình rất may mắn, may mắn và hạnh phúc hơn rất nhiều người. Mình còn sức khỏe, còn được thở, còn được hiện diện để phục vụ cho chúng sinh. Còn điều mà mình buồn nhất, là khi nhìn người mình quen biết, hay là chưa từng quen biết phải ra đi. Nói cách khác, nơi nuôi ta lớn lên, ta sống với nó. những việc làm thiện nguyện cũng giống như những thang thuốc, giúp cho nơi ta đi qua được sống dậy từng ngày”

Nếu như ở bên trong kia là những đội ngũ y bác sĩ, đang ngày đêm chăm sóc cho các bệnh nhân. Thì ngoài bên đây, những đội ngũ cán bộ, tình nguyện viên cũng đang tham gia tại các chốt kiểm dịch, để bảo vệ vùng xanh cho xóm làng, tổ dân phố cả ngày lẫn đêm, chẳng quản mưa gió hay nắng gắt. Chưa bao giờ thấy cuộc sống thường nhật thay đổi nhiều đến vậy, nhưng cũng trong những lúc như thế này mới thấy tình thương yêu đùm bọc lẫn nhãu của nhân dân ta thật bao la rộng lớn.

Một trận đại dịch trải qua, chúng ta càng nhận rõ về sự vô thường mỏng manh của cuộc sống. Cũng có những người không may đã qua đời, sự ra đi của họ mà bên cạnh không có người thân, không có bạn bè, chỉ lặng lẽ cô đơn được các đội ngũ y tế thực hiện nghi tức tẩm niệm giản đơn nhất và đem đi hỏa táng. Giáo hội Phật giáo Việt nam cũng tổ chức những buổi lễ cầu siêu cho những nạn nhân tử vong vì COVID-19, và cũng có rất nhiều chùa ở Thành phố Hồ Chí Minh được lựa chọn làm nơi thờ tạm tro cốt của người mất vì Covid như chùa Long Hoa, chùa Tường Nguyên, Pháp Viện Minh Đăng Quang..v..v

Trên tinh thần mùa Vu Lan – Báo hiếu, con người Việt nam luôn đề cao hiếu nghĩa, sống yêu thương đùm bọc lẫn nhau.

Những việc làm, tấm gương, những con người hàng ngày vẫn đang âm thầm cống hiến, giúp đỡ nhau; những bếp cơm thiện nguyện, những chuyến xe không đồng, những tình thương vẫn đang được trao gửi nhau trong những ngày vượt qua khó khăn. Đã được những người con Phật và mọi ngời thực hiện từ “Mệnh lệnh của trái tim”, vì một Việt Nam thân yêu.

Từ lòng hiếu với mẹ cha, đã trở thành lòng biết ơn Tổ quốc, lòng phục vụ vị nhân sinh và những khi như thế này, những người đệ tử Phật đã thực hiện “Mệnh lệnh từ trái tim”, để phụng sự nhân sinh. Vì Kinh dạy rằng; Hết thảy người nam, người nữ trong nhiều kiếp sống, họ đã từng là cha ta, là mẹ ta, anh chị em, người tân của ta. Chính vì vậy hết thảy đều là thân bằng quyến thuộc. Từ đây mỗi người con Hiếu, đã biến cái hiếu nhỏ bé, thành hiếu đạo- tình thương bao la rộng lớn, cùng chung tay đẩy lùi dịch bệnh, cùng đưa nhau qua những ngày khó khăn “Không để lại ai ở phía sau”.

Trên tinh thần mùa Vu Lan – Báo hiếu, con người Việt nam luôn đề cao hiếu nghĩa, sống yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Gần nhất là hiếu kính mẹ cha trong gia đình, hoan hỷ với anh chị em, bạn bè, kính lễ người trên, với xóm làng, và đất nước. Gia đình có Hiếu đạo, thì dòng họ có nề lếp gia phong, xóm làng, ngõ phố có yên vui và đất nước thái bình. Lễ hội Vu lan còn là ngày chúng ta phải nhìn nhận lại, mình đã nhận được bao nhiêu nguồn sống tình thương của mọi người xung quanh mình, cộng đồng mình đang sống và mình đã làm được những gì để lăng lượng tình thương ấy lan tỏa trở lại xã hội, trở lại cộng đồng, những người đã giúp đỡ chúng ta lớn lên và trưởng thành.

Chú thích:

(1) Trần Đăng Sinh (chủ biên). Đạo Lý Uống Nước Nhớ Nguồn Cơ Sở Triết Học Và Giá Trị Đạo Đức Trong Lịch Sử Dân Tộc, NXb Giáo Dục Việt Nam 2017, tr75

(2) Cao Văn Cang, Hiếu Hạnh xưa và nay, Nxb Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội, 2006, tr.95.

(3) https://dantri.com.vn/suc-khoe/dai-dich-covid-19/so-lieu-covid19.htm

(4).https://vov.vn/xa-hoi/hang-tram-tang-ni-sinh-xin-tham-gia-tuyen-dau-chong-dich-881058.vov.

Mùa Vu lan đến, Phật tử chúng ta nên làm gì?

0

Tháng 7 âm lịch về báo hiệu một mùa Vu lan đã đến, tháng mà những người con, người Phật tử thể hiện tinh thần hiếu đạo với tứ trọng ân. Mùng 1 tháng 7 như báo hiệu và nhắc nhở mỗi người con Phật hãy chăm làm việc thiện, báo hiếu trọng ân trong mùa Vu Lan này.

Ý nghĩa tháng 7 – mùa Vu lan

Tháng 7 âm lịch được gọi là tháng Vu Lan báo hiếu có nguồn gốc từ tích về ngài Mục Kiền Liên cứu mẹ. Đó cũng là thời điểm các vong nhân được xá tội, nên còn gọi là tháng Xá tội vong nhân. Đây đã trở thành dịp lễ quan trọng của người Việt nói chung và với những người Phật tử nói riêng bởi ý nghĩa sâu xa và trân quý.

Dựa theo kinh Vu lan với sự tích Tôn giả Mục Kiền Liên cứu mẹ, nhân ngày chúng Tăng mãn hạ Tự tứ, các Phật tử phát tâm cúng dường mười phương Tăng, hồi hướng công đức phước báo nguyện cầu âm siêu dương thái. Nhân dịp này, các Phật tử thường hay thiết lễ cúng kính ông bà cha mẹ đã quá vãng, đồng thời trải lòng bi mẫn sắm sanh lễ vật bố thí chư vị quỷ thần (người âm nói chung), thường gọi là thí thực cô hồn.

Như vậy, theo quan điểm của đạo Phật, mùa Vu lan Báo hiếu vào tháng Bảy âm lịch là “tháng báo hiếu”, bởi có ý nghĩa trọng tâm là giáo dục lòng hiếu thảo cho con người rất nhân văn và cao cả của đạo Phật đang có nguy cơ bị không ít người hiểu sai, bị dân gian hóa theo hướng cầu cúng ma quỷ, nhuốm màu tà kiến, mê tín. Dân gian ta gọi tháng 7 là tiết xá tội vong nhân, vì nhờ ơn của đức Phật mà tất cả các vong linh bị đoạ trong chốn khổ đau được tế bạt, siêu thoát.

Tháng 7 âm lịch về báo hiệu một mùa Vu lan đã đến.

Tháng 7 âm lịch về báo hiệu một mùa Vu lan đã đến.

Khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, ông bà tổ tiên chúng ta kết hợp cùng với lễ đạo hiếu, mùa báo hiếu để báo hiếu cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Phật giáo quan niệm phải yêu thương tất cả mọi loài, kể cả những người không mồ không mả, chết không thờ tự hay còn gọi là cô hồn. Khi còn sống, ông bà, cha mẹ nếu “có tội” thì theo luật nhân quả khi xuống âm phủ cũng bị đoạ vào chốn khổ đau và cũng được gọi là những cô hồn. Nên khi cúng cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ bao giờ người ta cũng cúng cho cả những người đó, phần là để cúng cả tổ tiên, ông bà, cha mẹ, phần là để những cô hồn khác cùng được hưởng phước lộc.

Hơn nữa, theo quan điểm của nhà Phật thì tháng 7 là tháng đẹp nhất trong năm. Có quan niệm cho rằng tháng 7 – mùa Vu lan là mùa xuân của Phật giáo. Sau 3 tháng an cư, chư Tăng tịnh hóa thân tâm, quay trở về hội lực phụng hóa chúng sinh để làm đẹp cho đời. Theo kinh Phật thì đây là tháng mười phương chư Phật đều hoan hỉ. Thêm nữa, rằm tháng 7 còn là ngày Tết Trung Nguyên (Tết giữa năm). Vì vậy, không có cơ sở nào để nói rằng tháng 7 là không may mắn.

Và nếu là tháng xấu thì sao lại có xá tội vong nhân? Vong nhân còn được xá tội huống chi con người? Chúng ta nên nghĩ tháng 7 là dịp bỏ qua mọi oán hận cho nhau, để cuộc sống chỉ còn lại điều may mắn, tốt đẹp.

Mùa Vu lan đến, Phật tử nên làm gì?

Tháng 7 âm lịch – mùa Vu lan, Phật tử chúng ta không phải kiêng những điều như quan niệm dân gian vẫn đồn. Nhà Phật dạy con người không sát sinh vào ngày rằm, mồng một, không làm điều trái, sống có phúc đức. Nếu làm được như vậy, ai cũng được điều lành, điều tốt, tâm lý bình an. Những ngày xấu, ngày tốt là do quan niệm, chứ đạo Phật không dạy con người kiêng kị trong tháng Bảy. Đạo Phật khuyên rằng, ngày nào cũng là ngày tốt, tháng nào cũng là tháng tốt và không có ngày, tháng nào xấu. Ngày xấu hay ngày tốt đều do quan niệm mà ra. Trong mỗi người bao giờ cũng có những phước đức, nếu có tâm, tích phước thì ma quỷ cũng phải sợ. Thay vì những kiêng kị không có cơ sở, mọi người nên làm điều thiện, tích đức.

Noi gương hiếu hạnh của Mục Kiền Liên tôn giả, mỗi người Phật tử chúng ta nên dành tình cảm yêu thương cho gia đình, người thân. Dù ai đi xa cũng nên quay về tri ân, báo hiếu hai đấng sinh thành, bởi đó là những vị Phật tại gia. Sau đó, mỗi người hãy mở rộng tình thương để đền ơn những người đã mang lại điều tốt đẹp cho mình trong cuộc sống. Lối sống đẹp của Phật tử là biết làm ơn và đền ơn.

Tấm lòng của mỗi người hướng đến điều tốt đẹp là nghi lễ và món quà lớn nhất.

Tấm lòng của mỗi người hướng đến điều tốt đẹp là nghi lễ và món quà lớn nhất.

Ngày xưa, vào lễ Vu lan, con cháu thường lập đàn lễ lớn, dâng cơm canh, đốt vàng mã để tưởng nhớ, thể hiện đạo hiếu với tổ tiên, ông bà. Ngày nay, những nghi lễ ấy nên được đơn giản, không cần hình thức cầu kỳ. Bởi tấm lòng của mỗi người hướng đến điều tốt đẹp là nghi lễ và món quà lớn nhất. Chúng ta nên phổ biến rộng rãi những hành động đẹp mùa Vu lan như cài hoa hồng trên ngực áo, diễn giảng về công ơn cha mẹ để người trẻ thấm nhuần đạo hiếu.

Những việc cần làm trong mùa An cư

0
An cư kiết hạ là truyền thống Phật giáo hiện hữu trên hai ngàn năm ở Việt Nam. Về phương diện hình thức, các trường hạ tổ chức cho Tăng Ni tập trung về an cư tại địa điểm đã quy định.
Trì tụng kinh Dược Sư cầu quốc thái dân an, nguyện dịch bệnh tảo trừ tại hạ trường an cư cấm túc chùa Huê Nghiêm

Nhưng theo tôi, phương diện nội dung quan trọng hơn, đòi hỏi Tăng Ni phải thực tu, thực chứng được một pháp phần nào sau mỗi mùa an cư. Nếu chỉ có hình thức suông, không thể hiện đúng tinh thần đạo; vì nội dung tu chứng mới chính là mô hình mà Đức Phật muốn truyền trao.

Trên tinh thần tu chứng ấy, trong mùa an cư, Tăng Ni cố gắng phát triển đạo tâm, đạo hạnh. Từ tâm đạo bên trong hiện ra hạnh đức bên ngoài, mới có sức cảm hóa người đi trên con đường thánh thiện.

Theo kinh nghiệm bản thân, tôi thấy tuy cùng học chung trường lớp, tu cùng chùa, nhưng mỗi người làm được việc lớn nhỏ khác nhau. Thậm chí có người không làm được gì, vì mỗi người có phần tu chứng khác nhau. Trường lớp đào tạo chung như vậy, nhưng tự tu, tự học như thế nào để có sở đắc riêng, đó là điều tôi muốn nhắc nhở Tăng Ni.

Chúng ta, những người xuất gia, tự nguyện lấy việc tu hành làm lẽ sống, không ai áp đặt chúng ta, cũng không ai làm thay cho ta được. Đức Phật cũng dạy mỗi người tự quyết định vận mạng của mình.

Về phần tự tu của riêng tôi, đặc biệt thời còn là học tăng, trong ba tháng an cư, tuyệt đối tôi không ra khỏi chùa. Quyết tâm lập hạnh giữ mình, tự nhắc với lòng rằng cấm túc an cư, nhất định không đi đâu, dù được phép. Ngoài ra, trong mùa an cư, không bao giờ cho phép mình không đi quả đường. Vì nhớ lời Hòa thượng Thiện Hòa dạy rằng ba tháng an cư không đi quả đường quá 10 ngày là mất tuổi hạ.

Chúng ta kiểm điểm sinh hoạt tu học của bản thân để tự biết mình thuộc thành phần nào trong ngũ chủng Tăng: Thánh Tăng, Hiền Tăng, phàm Tăng, nghiệp Tăng, ác Tăng. Nghiệp Tăng thì có bệnh, phải bỏ thời khóa, hoặc sợ tham thiền, trốn tụng kinh, không đi quả đường.

“Thông điệp cốt lõi của Pháp Hoa” (Phần II) – Bài giảng của Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Quảng tại hạ trường chùa Huê Nghiêm

Ngoài thời khóa của trường hạ quy định, chúng ta nên tự tu với thời khóa riêng. Tu trong say mê, thích thú trắc nghiệm một pháp nào đó, mới giúp chúng ta sớm phát triển trí tuệ và đạo đức.

Sau thời công phu với đại chúng, tôi thường lạy thêm một thời sám hối, từ Hồng danh Bửu sám, đến lạy Ngũ bách danh, Tam thiên Phật, Vạn Phật. Tôi tự sắp xếp thời khóa sám hối riêng như vậy, vì xét mình nghiệp chướng nặng nề, cần hết lòng lạy Phật. Nhờ quyết tâm tu hành, dùng hạnh đức của Phật trang nghiêm thân tâm mà tiêu trừ nghiệp quá khứ, cảm nhận được lực gia bị của Phật và hiện hảo tướng, mới có thể gánh vác Phật sự thành công.

Thực tế cho thấy nhiều người khôn ngoan, học giỏi, nói hay, nhưng thiếu công phu hành trì, thiếu đức, lời nói suông, chẳng những không có sức thuyết phục, đôi khi còn phản tác dụng. Hơn nữa, khi gặp chướng duyên trên đường hành đạo, họ thường dễ bỏ cuộc. Trái lại, các Hòa thượng tu hành đạo cao đức trọng, không thuyết pháp vẫn dễ dàng cảm hóa được người qua tâm, qua đức độ.

Bên cạnh việc lạy sám hối, tôi dành nhiều thì giờ thọ trì đọc tụng kinh điển trong mùa an cư. Chúng ta không trực tiếp nghe Phật thuyết pháp nên cần đọc lại lời Phật dạy trong kinh. Từ bộ kinh nhỏ đến các bộ kinh lớn, cố gắng đọc đầy đủ để hiểu nghĩa sâu xa mà ứng dụng lợi lạc trong cuộc sống tu hành.

Tôi nhận thấy một số trường hạ không tụng các bộ kinh lớn, chỉ dành hai thời công phu sáng tối cho các đoạn kinh ngắn. Tụng thuộc lòng đến độ lờn cảm giác, miệng đọc làu làu mà tâm trí không phát hiện được gì mới lạ, cho đến nghĩ tưởng lăng nhăng đủ thứ. Thiết nghĩ tu lấy lệ như vậy không ích lợi gì.

Theo tôi, ngoài thời khóa tụng kinh tập thể, Tăng Ni phải siêng năng tự đọc các bộ kinh lớn như Bảo tích, Niết-bàn, Pháp hoa, Hoa nghiêm… Đọc đi đọc lại bằng tư duy cho chính mình nghe, không phải đọc cho Phật nghe. Đọc tụng để nghĩa lý kinh thấm sâu vào lòng, nhờ đó phá trừ được điên đảo vọng tưởng, tẩy sạch trần tâm, cảm nhận an lạc, giải thoát. Từ tâm thanh tịnh giải thoát ấy mới phát ra lời nói hòa hợp, việc làm tốt đẹp lợi ích cho người.

Một điểm khác không kém quan trọng trong thời khóa tu mùa an cư, tôi muốn nhắc đến vấn đề tham thiền. Xưa kia, Phật học đường thường quy định giờ thiền kéo dài nửa tiếng. Tôi nhận thấy những người không tha thiết tu, nghe tiếng kiểng thì bắt buộc lên thiền, nên ngồi uể oải, chỉ mong hết giờ xả thiền, xuống cho lẹ. Tu như vậy thực vô ích. Chúng ta ý thức đó là pháp tu nên phải nỗ lực thực sự.

Người thực tu, trước khi thiền, đã chuẩn bị thân tâm và khi xả thiền, hưởng được niềm vui vô tận, không phải ngồi cho mệt mỏi, chờ hết giờ. Chúng ta cố gắng thực hành, tự kiểm tra xem hôm nay hành thiền có tiến bộ gì cho tâm linh hay hiểu biết không, hay là dậm chân tại chỗ. Nếu cảm thấy buồn ngủ, mệt, chúng ta tự tìm nguyên nhân để khắc phục cho ngày mai kết quả hành thiền được tốt hơn. Mỗi ngày suy nghĩ, cải tiến, thực hiện pháp tu tốt đẹp hơn, đó là con đường của người thực tu.

Theo kinh nghiệm, tôi thấy vấn đề ăn ngủ, lao tác ảnh hưởng rất lớn đến việc tham thiền. Làm việc quá sức rồi ngồi thiền chắc chắn phải mệt mỏi, buồn ngủ. Tôi thường tự kiểm tra, điều chỉnh ăn uống, ngủ nghỉ, lao động cho vừa phải, thích hợp với cơ thể, bấy giờ ngồi thiền cảm thấy nhẹ nhàng. Có khinh an mới giúp chúng ta hăng hái tiến tu.

Tôi nhận thấy những bạn đồng tu, ngồi thiền nửa giờ, kiểng đổ vẫn còn ngồi, là biết họ thực sự nhập định, một lúc sau mới từ từ xả định. Để ý sẽ thấy người này trên bước đường tu hành, làm nên đạo nghiệp, vì họ thực tu cho chính họ, không phải tu cho trường lớp, cho bổn đạo.

Trong mùa an cư, khẩu hiệu thường đặt ra là thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức. Đối với tôi, pháp tu ban đầu của người sơ hạ, trau dồi giới đức bằng cách rèn luyện thể lực và tứ oai nghi cho đúng khuôn phép của người xuất gia là hình nghi đĩnh đạc; nghĩa là trước tiên chúng ta phải luyện thể lực sao cho sức khỏe tốt. Sức khỏe rất quan trọng vì nơi nào đạo cần chúng ta đến, chúng sanh mời chúng ta đi. Không khỏe làm sao phục vụ đạo, cứu giúp chúng sanh.

Tiến đến rèn cho được hảo tướng hay phạm tướng trang nghiêm. Đó là tướng đáng tin cậy, có sức thuyết phục người, trong đạo thường diễn tả là “Đường đường Tăng tướng, dung mạo khả quan”.

Ảnh tác giả

Tôi thường tâm niệm đã mang chí xuất gia, phải tu cho thành đức, học cho thành tài. Đức khó thấy, nhưng có giá trị vĩnh viễn. Hạnh là việc làm bên ngoài thấy được. Cố gắng tu tạo hạnh và kết thành đức, bấy giờ chúng ta không làm nhưng tự động có sức thuyết phục người cảm mến, tin theo.

Hòa thượng Thích Trí Quảng

Xưa kia, Hòa thượng Huệ Đăng tu ở núi Thiên Thai, một nơi hẻo lánh, chỉ có toàn tướng cướp, ít ai dám đến. Hòa thượng tu thiền và cũng là võ sư. Ngài hàng phục các tên trộm cướp dễ dàng mới có thể tu hành nơi đó. Chẳng những tu luyện sức khỏe phi thường, tinh thần ngài rất sáng suốt, phát huy chân tâm thanh tịnh, tạo thành lực thu hút Tăng Ni bốn phương đến tu học.

Trở lại thực tế, chúng ta chưa làm được như Tổ Thiên Thai, hay Tổ Hiếp Tôn Giả suốt đời không nằm, chỉ ngồi, tỏa sức sống mãnh liệt của hành giả an trụ thiền định. Tuy nhiên, chúng ta cũng có cách tập luyện tứ oai nghi.

Về tướng ngồi theo dáng thiền, ngồi như núi, không nhúc nhích. Tự mình rèn luyện cho được tướng này, ở trong phòng riêng một mình, chúng ta cũng tập ngồi trang nghiêm cho quen thành hạnh thành đức. Không phải bình thường phóng túng, ngồi kiểu nào cũng được và đợi đến khi có khách hay thiền mới ngồi trang nghiêm.

Đức Phật dạy chúng ta tu lúc nào cũng thúc liễm thân tâm, đến mức độ hành động trở thành tự nhiên, không phải đóng kịch để người cung kính cúng dường. Thành tựu được tướng ngồi trang nghiêm, tác động cho người nhìn thấy thương kính, phát tâm tu.

Ngoài ra, tập luyện tướng đi giải thoát, nhẹ nhàng như mây bay, khiến người sanh tâm kính tin Tam bảo. Khi Phật tại thế, Ngài chọn Mã Thắng và Kiều Trần Như có tướng đi giải thoát, được cùng đi khất thực với Ngài để đàn việt trông thấy đạo phong mà phát tâm.

Ngày nay trong thiền môn, chúng ta luyện tướng đi bằng cách đi kinh hành. Bước chân đều khoảng cách và nhịp mõ, tự nhiên người không lắc lư, luôn luôn đi thẳng và đi ngay. Bước đi kèm theo tiếng niệm Phật, nhưng chính yếu là niệm trong tâm chúng ta. Trong lòng nhớ nghĩ đến Phật nên tâm hồn thanh thoát, dễ hiện tướng giải thoát, nhẹ nhàng.

Từ bước đi, niệm Phật, nhớ nghĩ đến Phật, cảm được hạnh đức của Phật, khiến ta liên tưởng đến Báo thân Phật hay Phật tại thế. Ngài nghĩ gì, nói gì, làm gì thì: “Con niệm Phật để lòng nhớ mãi, hình bóng Người cứu khổ chúng sanh, để theo Ngài trên bước đường lành”.

Nhờ cảm hạnh Phật, chúng ta lập hạnh làm theo Ngài, lấy suy nghĩ, lời nói, việc làm của Phật trang nghiêm bản thân mình, nên dần từng bước chúng ta cũng giống Phật. Có cảm đức độ của Phật, chúng ta mới dễ tiến tu.

Tôi thường tâm niệm đã mang chí xuất gia, phải tu cho thành đức, học cho thành tài. Đức khó thấy, nhưng có giá trị vĩnh viễn. Hạnh là việc làm bên ngoài thấy được. Cố gắng tu tạo hạnh và kết thành đức, bấy giờ chúng ta không làm nhưng tự động có sức thuyết phục người cảm mến, tin theo. Cổ nhân có nói: “Mỹ mạc mỹ hồ đức, duy hữu đức bất trị dân tùng”, nghĩa là cái đẹp của đạo đức thực vô cùng, không diễn tả được, không bắt buộc, nhưng người tự nguyện tuân phục, làm theo.

Tấm gương sáng ngời của Đức Phật cho thấy Ngài là bậc tối tôn, nhưng chỉ dùng đức cảm hóa người. Và kế tiếp là hình ảnh của chư vị Tổ sư cũng giáo hóa bằng đức độ. Điển hình như Thiền sư Phù Vân ở núi Yên Tử tu hành, dù cách triều đình thật xa, nhưng đức độ của ngài đã tác động cho vua Trần Thái Tông, khiến vua không ngại gian nan, cực khổ, vượt qua chín suối, mười đèo để được gặp Phù Vân. Diện kiến ngài thì bao lo âu, buồn phiền, khó khăn đều rũ sạch và thốt lên lời nguyện dũng mãnh tự đáy lòng: “Cảm đức từ bi để nghìn kiếp nguyền cho thân cận. Đội ơn tế độ, nát muôn thân thà chịu đắng cay”.

Cảm đức từ bi nên nguyện ngàn kiếp được sống gần để nương theo đức của ngài mà tiến tu. Ơn tế độ cứu sống giới thân huệ mạng không kể xiết, dù có tan xương nát thịt cũng không hề nao núng.

Tóm lại, đó là một số kinh nghiệm tôi từng trải qua hơn 70 năm tu hành, xin thành tâm chia sẻ cùng quý pháp lữ đồng hành. Trong mùa An cư kiết hạ, tôi cầu mong Tăng Ni nỗ lực công phu tụng kinh, bái sám, kinh hành niệm Phật, thiền quán để rèn luyện cho được cơ thể khỏe mạnh, phạm tướng trang nghiêm, đức hạnh thánh thiện, tâm hồn trong sáng, giải thoát. Đó là thành quả tốt đẹp, xứng đáng nhận thêm một tuổi hạ, lớn thêm đạo đức trí tuệ, không phí công tu của chính mình, không cô phụ công ơn giáo dưỡng của thầy, Tổ, cũng như đền ơn được đàn việt đã phát tâm hỗ trợ cúng dường trong mùa An cư.

Cần tinh tế khi cúng dường y để trọn phần công đức

Mùa Vu lan – Tự tứ, kết thúc ba tháng an cư mùa mưa, mừng khánh tuế chư Tăng Ni thêm tuổi đạo, bạn phát tâm dâng cúng pháp y lên một bậc Trưởng lão Tăng là một ý tưởng tuyệt vời.

Hỏi: Tôi là một Phật tử, rất kính trọng một vị Hòa thượng đang hành đạo tại địa phương. Vào ngày Đại lễ Vu lan sắp tới đây, tôi muốn cúng dường lên Hòa thượng một lễ phẩm để tỏ lòng thành kính và gieo chút phước duyên với ngài. Tôi đã thưa hỏi Hòa thượng nên cúng dường như thế nào cho đúng pháp, ngài từ bi chỉ dạy là cúng dường gì cũng tốt nếu được làm bằng tất cả tâm thành. Sau khi về nhà suy nghĩ, tôi quyết định may một pháp y ca-sa để dâng lên Hòa thượng. Trong quá trình may chiếc y đó, tôi sẽ giữ tâm thanh tịnh, xem như đây cũng là cơ hội tu tập. Tuy nhiên, tôi không biết các quy chuẩn về pháp y ca-sa cho một vị Hòa thượng như chất liệu vải, màu sắc, quy cách, kích thước v.v… nên rất mong được quý Báo trợ duyên chỉ bày giúp tôi.

(NHÂN TRẦN, pvo3075…@gmail.com)

Bạn Nhân Trần thân mến!

Mùa Vu lan – Tự tứ, kết thúc ba tháng an cư mùa mưa, mừng khánh tuế chư Tăng Ni thêm tuổi đạo, bạn phát tâm dâng cúng pháp y lên một bậc Trưởng lão Tăng là một ý tưởng tuyệt vời. Bạn đã cẩn thận thỉnh ý Hòa thượng về việc cúng dường đúng pháp và ngài cũng dạy chung là “cúng dường gì cũng tốt nếu được làm bằng tất cả tâm thành”. Sau một thời gian suy ngẫm, bạn quyết định sẽ dâng cúng pháp y ca-sa do chính mình tự may lấy. Đặc biệt hơn nữa, trong quá trình chế tác cắt may pháp y, bạn phát nguyện gắng giữ tâm trong sạch để thành tựu trọn vẹn sự thanh tịnh cúng dường.

Sẽ không có gì để bàn trong việc phát tâm cúng dường pháp y này nếu bạn là một thợ may pháp phục Phật giáo chuyên nghiệp. Nhưng ở đây, bạn “không biết các quy chuẩn về pháp y ca-sa cho một vị Hòa thượng như chất liệu vải, màu sắc, quy cách, kích thước” thì khó đảm bảo rằng chiếc y ca-sa thành phẩm có thể hội đủ sự trang nghiêm, vừa ý, nói gọn là dùng được. Nếu Hòa thượng nhận y mà không dùng được (trường hợp này người nhận y thường đem cúng cho người nào cần) thì việc cúng dường pháp y của bạn có thể nói là chưa trọn phần công đức.

Thông thường, một người tu có ba y, sau đó tùy vào nhu cầu thực tiễn của mỗi vị mà có thể sắm thêm một số pháp y khác dùng trong các nghi lễ ứng phú, chứng minh hay thuyết giảng. Những loại pháp y này chỉ tương đồng về kích thước còn quy cách (số điều y, các phụ kiện…), màu sắc (vàng sẫm, vàng tươi, đỏ…), chất liệu vải (vải thường hay gấm, cứng mềm, nặng nhẹ…) hoàn toàn khác nhau. Trong thực tiễn thì người nhận y có thể cần loại y này mà chưa cần loại y kia, trong khi pháp cúng dường cần hợp thời, cúng ngay cái mà người nhận đang cần sẽ lợi ích hơn.

Vì thế, khi bạn quyết định dâng cúng pháp y ca-sa, thiết nghĩ, bạn nên gặp lại vị Hòa thượng để thưa thỉnh ngài cần loại ca-sa nào. Ví dụ, ngài cho biết hiện thời đang cần pháp y ca-sa 25 điều để chứng minh và đạo từ trong các trai lễ. Khi đã biết loại y (25 điều), bạn nên hỏi thêm về màu và chất liệu vải rồi sau đó mới tìm phương cách may y ca-sa.

Cách hay nhất là bạn cần tìm một thợ may pháp y ca-sa chuyên nghiệp. Hiện nay, những người thợ may y lành nghề và có tâm cũng khá dễ tìm. Người thợ sau khi nhận lời sẽ đến gặp người nhận y để lấy số đo chính xác và ghi nhận thêm các yêu cầu chi tiết (như kiểu cách, chất liệu của móc y, màu sắc của các đường viền…). Bạn cũng có thể nhờ người thợ này mua vải may y đúng màu sắc và chất liệu giúp bạn. Nếu hội đủ duyên lành như vậy, bạn sẽ yên tâm về phẩm vật dâng cúng của mình, và chắc chắn phẩm vật đó sẽ trang nghiêm, hợp thời, người nhận và người cúng đều hoan hỷ.

Ngoài ra, còn một cách khác có tính phương tiện là bạn dâng tiền may pháp y. Bạn cũng thưa rõ hoàn cảnh cũng như tâm nguyện, nếu được Hòa thượng hoan hỷ hứa khả cho cách này thì bạn dâng tịnh tài may y, Hòa thượng chứng minh và nhờ những vị thị giả của ngài lo liệu việc may y giúp. Thường thì những vị thị giả của các ngài sẽ chu toàn những việc như vậy rất gọn gàng và nhanh chóng. Khi nào Hòa thượng nhận được y thì pháp cúng dường của bạn thành tựu.

Chúc bạn tinh tấn!

Tinh thần an cư mùa mưa trong Phật giáo Nam truyền

0

Sau ngày rằm tháng Sáu âm lịch, chư Tăng các nước Phật giáo Nam truyền như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Campuchia, Lào và chư Tăng Phật giáo Nam truyền Việt Nam bắt đầu thực hành an cư mùa mưa, từ ngày 16-6 âm lịch cho đến ngày 15-9 âm lịch.

Khác biệt về thời gian an cư giữa Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền

Theo lịch của Ấn Độ cổ đại, mùa mưa bắt đầu từ ngày trăng tròn tháng Āsāḷhā (Sk. Āṣāḍha) và kết thúc vào mùa mưa trăng tròn tháng Kattika (Sk. Kārttika).

Ngài Huyền Trang ghi: “Theo Thánh giáo của Đức Như Lai thì một năm phân làm ba mùa: Từ ngày 16 tháng Giêng đến ngày 15 tháng Năm tức là mùa nóng. Từ ngày 16 tháng Năm đến ngày 15 tháng Chín là mùa mưa. Từ ngày 16 tháng Chín đến ngày 15 tháng Giêng (năm sau) là mùa lạnh… Nên chư Tăng ở Ấn Độ y theo Thánh giáo của Phật tọa an cư có hai mùa, hoặc ba tháng trước hoặc ba tháng sau. Ba tháng trước tức từ ngày 16 tháng Sáu đến ngày 15 tháng Chín”. (1)

Tinh thần an cư mùa mưa trong Phật giáo Nam truyền ảnh 1

Chư Tăng Phật giáo Nam truyền

Riêng ngài Pháp Hiển cho rằng: “Tiền an cư là ngày mùng một hắc ngoạt (2) tháng Năm” (3) (nhằm ngày 16 tháng Năm theo lịch Trung Hoa). Tuy nhiên, ở Trung Hoa, chư Tăng an cư ba tháng hạ lấy mốc thời gian bắt đầu vào ngày 15 tháng Tư. Điều này căn cứ vào kinh Vu lan bồn do ngài Trúc Pháp Hộ (226-303) dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán có nói: “Ngày rằm tháng Bảy là ngày Tự tứ của mười phương Tăng…”. (4) Theo đó, nếu ngày 15 tháng Bảy chư Tăng làm lễ Tự tứ thì ngày an cư phải bắt đầu vào ngày 15 tháng Tư. Các nước ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc đều lấy mốc thời gian này mà thực hành an cư. Chính vì vậy mới có sự sai biệt về thời gian an cư của Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền.

Duyên khởi Phật chế pháp an cư

Lúc Đức Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha (Vương Xá), Veḷuvana (Trúc Lâm), nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bấy giờ, việc cư trú mùa mưa chưa được Đức Thế Tôn quy định cho các Tỳ-khưu nên các vị ấy du hành trong mùa mưa bị dân chúng chê bai. Các Tỳ-khưu nghe được những lời phê phán ấy đã trình sự việc lên Đức Thế Tôn. Nhân đó Đức Phật bảo các Tỳ-khưu rằng:

– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép vào mùa (an cư) mưa (vassaṃ). (5)

Xứ Ấn Độ một năm có ba mùa, mùa mưa gồm bốn tháng nhưng Đức Phật cho phép Tăng chúng an cư mùa mưa ba tháng, còn một tháng cuối cùng của mùa mưa, Ngài cho phép vị Tỳ-khưu đã an cư ba tháng mùa mưa thành tựu viên mãn được nhận y Kaṭhina do thí chủ cúng dường và thọ hưởng năm quả báu của Kaṭhina.

– Này các Tỳ-khưu, Ta cho phép thành tựu Kaṭhina cho các Tỳ-khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa. Này các Tỳ-khưu, khi các ngươi có Kaṭhina đã được thành tựu, năm điều này sẽ trở thành được phép (đối với các ngươi): việc ra đi không phải báo, việc ra đi không mang theo (đủ cả ba y), sự thọ thực thành nhóm, (sử dụng được nhiều) y theo như nhu cầu, sự phát sanh về y tại nơi ấy sẽ là của các vị ấy. (6)

Có hai thời điểm an cư được Đức Phật cho phép là tiền an cư và hậu an cư.

– Này các Tỳ-khưu, đây là hai thời điểm vào mùa (an cư) mưa: thời điểm trước và thời điểm sau. Thời điểm trước thì nên vào ngày kế của (ngày trăng tròn) tháng Āsāḷha, thời điểm sau thì nên vào (ngày trăng tròn) tháng Āsāḷha đã trôi qua một tháng.

Thời tiền an cư từ ngày 16 tháng Sáu đến 15 tháng Chín âm lịch. Thời hậu an cư ngày 16 tháng Bảy đến 15 tháng Mười âm lịch. Các Tỳ-khưu thường nhập hạ trong thời tiền an cư, chỉ khi nào có việc không kịp thời tiền an cư mới theo thời hậu an cư. Ðến thời kỳ an cư mà vị Tỳ-khưu nào cố ý không nhập hạ thì phạm tội Tác ác. Những vị Tỳ-khưu nhập hạ trong thời hậu an cư thì không được hưởng quả báu Kaṭhina.

Phát nguyện an cư ba tháng mùa mưa

Ðến ngày an cư, vị Tỳ-khưu phải tìm trú xứ thích hợp để nguyện an cư mùa mưa. Chỗ an cư có thể là một ngôi chùa, ngôi tịnh thất hoặc một liêu cốc riêng; muốn an cư mùa mưa ở đâu thì nguyện ở đó. Vào ngày hoặc đêm 16 tháng Sáu âm lịch (tiền an cư), hay 16 tháng Bảy âm lịch (hậu an cư), vị Tỳ-khưu nhập hạ phải phát nguyện một mình hoặc phát nguyện chung với các Tỳ-khưu khác cùng an cư mùa mưa chung tại trú xứ đó. Lời phát nguyện nhập hạ như sau: – Tôi nguyện an cư mùa mưa tại chùa này hết ba tháng. (7)

Sau khi đã phát nguyện an cư mùa mưa, vị ấy phải nhập hạ tại nơi ấy trong ba tháng không được rời khỏi. Trong trường hợp đặc biệt như cha mẹ, thầy tổ bị đau bệnh hay viên tịch, hoặc có Tăng sự quan trọng, hoặc có thí chủ thỉnh mời làm những Phật sự cần thiết, thì vị Tỳ-khưu phải xin nguyện tạm thời rời trú xứ an cư nhưng không được quá bảy ngày, nghĩa là phải trở lại trú xứ trước lúc mặt trời mọc của ngày thứ bảy.

Cách nguyện để ra đi, rời trú xứ an cư như sau: – Nếu không có sự trở ngại cho tôi, tôi sẽ trở về trong vòng bảy ngày. (8)

Vị Tỳ-khưu ấy có thể nguyện trong tâm cũng được, nguyện ra lời hoặc đến trình báo mục đích chuyến ra đi của mình với một vị khác cũng tốt, nhưng phải ghi nhớ thời gian mình ra đi để quay về trong khoảng thời gian bảy ngày cho phép. Đến ngày an cư mùa mưa, các vị Tỳ-khưu đều phải phát nguyện nhập hạ, dù ở nơi đó có tổ chức trường hạ hay không. Thậm chí chỉ có một mình, Tỳ-khưu ấy cũng phải nguyện nhập hạ đúng phép.

Ý nghĩa của an cư mùa mưa

An cư mùa mưa là một truyền thống tốt đẹp của Phật giáo được Đức Phật ban hành và Tăng chúng truyền thừa đến ngày hôm nay. Tu tập trong xã hội hiện đại, hàng xuất gia khá bận rộn với nhiều Phật sự, thế sự đa đoan, nên an cư cũng là một dịp tốt để nhìn lại chính bản thân mình, tự mình gột rửa, trau giồi, rèn luyện thân-khẩu-ý thêm nữa, nỗ lực tu tập giới-định-tuệ.

Tinh thần an cư mùa mưa trong Phật giáo Nam truyền ảnh 2

Nghi thức thắp đèn hạ trong mùa An cư của Phật giáo Nam Tông

Ngay cả với Đức Phật, vào thời an cư ba tháng mùa mưa, Ngài cũng muốn độc cư thiền tịnh.

“Lúc Đức Thế Tôn đang trú tại Icchānaṅgala, một ngôi làng Bà-la-môn trong xứ Kosala. Ngài đã cho gọi các Tỳ-khưu đến và bảo:

– Này các Tỳ-khưu, Ta muốn sống độc cư thiền tịnh trong ba tháng, không tiếp một ai, trừ một người đem đồ ăn lại.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỳ-khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Như vậy, không một ai đến viếng Thế Tôn, trừ một người đem đồ ăn lại.

Rồi Thế Tôn, sau khi ba tháng ấy đã mãn, từ chỗ thiền tịnh độc cư đứng dậy, gọi các Tỳ-khưu:

– Này các Tỳ-khưu, nếu các du sĩ ngoại đạo đến hỏi các ông: ‘Với sự an trú nào, này chư Hiền, Sa-môn Gotama an trú nhiều trong mùa mưa?’. Ðược hỏi vậy, này các Tỳ-khưu, các ông hãy trả lời cho cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: Với định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này chư Hiền, Thế Tôn an trú nhiều trong các mùa mưa”. (9)

Trong hai năm nay, dịch bệnh SARS-CoV-2 hoành hành khắp nơi. Mặc dù vậy, trên tinh thần của giới luật, chư Tăng vẫn thực hiện phận sự an cư, quay về sống với chính mình, chánh niệm và tỉnh giác. Dù xã hội có biến động ra sao, vị hành giả tu tập phải giữ vững niềm tin, chí nguyện và phận sự của mình. Mặc dù không theo trường hạ tập trung, không cúng dường lễ lộc như những năm không dịch bệnh, việc an cư mùa mưa là cơ hội để các vị Tỳ-khưu đặt xuống những lo toan thế sự, những trách nhiệm chức sự, cùng ngồi lại tu tập và rèn tâm luyện ý cho được tịnh thanh. Hy vọng rằng, với tâm niệm lành, với thân nghiệp thiện, cùng với hồng ân Tam bảo ba đời mười phương sẽ hộ trì cho chúng sinh được vô lượng an lành và cùng nhau vượt qua đại dịch, an toàn đồng đều nhau cả thảy.

———————————

Linh Sơn pháp bảo Đại tạng kinh, tập 190, Đại Đường Tây vực ký, Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn, Đài Bắc, tr.354-355.

Một tháng chia làm hai thời kỳ: mùng 1 đến rằm là trăng lên, gọi là bạch ngoạt; 16 đến cuối tháng là trăng xuống, gọi là hắc ngoạt.

3 Linh Sơn pháp bảo Đại tạng kinh, tập 199, Nam hải ký quy nội pháp truyện, Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn, Đài Bắc, tr.698.

4 Linh Sơn pháp bảo Đại tạng kinh, tập 65, Kinh Vu lan bồn, Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn, Đài Bắc, tr.584.

5 Vin.i.136. Indacanda (dịch) (2009), Đại phẩm, tập 1, Buddhist Cultural Centre, Sri Lanka, tr.347

6 Vin.i.253. Indacanda (dịch) (2009), Đại phẩm, tập 2, Buddhist Cultural Centre, Sri Lanka, tr.111.

Giác Giới (2002), Luật nghi tổng quát, NXB.Tôn Giáo, Hà Nội.

8 Giác Giới (2002), Luật nghi tổng quát, NXB.Tôn Giáo, Hà Nội.

Kinh Tương ưng bộ, tập 2, NXB.Tôn Giáo, Hà Nội, tr.714.

Nguồn gốc của nghi thức cầu siêu, tại sao phải thực hiện cầu siêu?

Cầu siêu là một nghi thức tâm linh giúp cho linh hồn có thể siêu thoát khỏi cảnh lang thang, vất vưởng. Đồng thời giúp người sống cảm thấy thanh thản, bình an. Dưới đây là nghi thức tụng kinh cầu siêu tại nhà mà các Phật Tử nên biết.

Tại sao phải cầu siêu?

Lễ cầu siêu là một nghĩa cử cao đẹp mà con cháu dành cho ông bà tổ tiên đã khuất. Cầu tức là cầu nguyện, siêu có nghĩa là siêu thoát. Cầu siêu có nghĩa là cầu nguyện cho vong linh đang lưu lạc dưới địa ngục, ngạ quỷ có thể siêu thoát khỏi cảnh khổ đau và siêu sinh về cõi Tịnh độ.

nghi thuc cau sieu 4

Kinh điển dạy rằng, trong trạng thái thân trung ấm, vong linh trở nên thông minh hơn lúc còn sống rất nhiều. Họ có nhiều năng lực thần thông và có thể đọc được tâm trí của người khác, biết được gia đình có thực sự quyến luyến hay vui sướng khi họ ra đi. Vì thần thức quá tinh thông, họ lại càng thấy đau lòng khi biết rằng người thân thực sự không quan tâm tới cảnh khổ của họ.

Nguồn gốc của nghi thức cầu siêu

Nguồn gốc của nghi thức cầu siêu chính là bắt nguồn từ cầu chuyện của Đức Mục Kiền Liên. Trong Kinh kể rằng, vì muốn giúp mẹ thoát khỏi địa ngục khổ sai, ngài đã dùng phép thần thông để biết nơi mẹ mình đang đọa lạc. Sau đó ngài đến cầu xin Đức Phật tìm cách giúp Ngài cứu mẹ. Đức Phật dạy rằng, nhân dịp Chư Tăng sau 3 tháng an cư, tịnh tiến tu tập ba phần giới, định, tuệ, tích lũy được đầy đủ công đức, nên cúng dường với tâm bình đẳng, thanh tịnh để chư Tăng chú nguyện vào phẩm vật cúng dường với tâm bình đẳng thanh tịnh, để chư Tăng chú nguyện vào phẩm vật cúng dường.

nghi thuc cau sieu 3

Kể từ đó nghi thức cầu siêu đã bắt đầu hình thành. Các Phật tử có lòng hiếu thảo, noi theo tấm gương Đại Hiếu Mục Kiền Liên và theo lời chỉ dạy của Đức Phật, có thể nguyện cầu cứu khổ cho ông bà cha mẹ của mình. Chúng ta không có thần thông, không thể biết giờ này họ còn đang lưu lạc nơi đâu.

Những người lúc sống biết tu tập thì được sinh về cõi Tịnh Độ, nếu làm nhiều việc thiện tạo phúc thì sau khi mất sẽ lên cõi Trời. Còn nếu lúc sống phạm nghiệp sát sinh, bất hiếu, dâm dục, uống rượu, trộm cắp… thì khó có thể tránh khỏi đọa vào các cõi thấp như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

Bài kinh cầu siêu tại gia cho các phật tử

Nguyện Hương Cầu Siêu

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

(Tác Đại Chứng Minh)

Nam Mô U Minh Giáo Chủ Cứu Khổ Bổn Tôn Cứu Bạt U Đồ Địa Tạng Vương Bồ Tát

(Tác Đại Chứng Minh)

Nguyện dâng hương mầu này

Cúng dường tất cả phật

Tôn pháp các Bồ Tát

Vô biên chúng Thanh Văn

Cùng hết thảy Thánh Hiền

Duyên khởi đài sáng chói

Trùm khắp mười phương cõi

Xông thấu các chúng sanh

Đều phát lòng Bồ đề

Xa lìa hết nghiệp vọng

Trọn nên đạo Vô thượng

Hiền tiền đệ tử chúng con, cùng tang gia hiếu quyến, một lòng thành kính, phần hương thanh tịnh, phụng cúng Như lai, phủ phục trước đài, kính dâng Từ Phụ, Tây phương giáo chủ, Địa Tạng thần oai, đệ tử hôm nay, tụng Kinh niệm Phật, một lòng chân thành, hồi hướng kỳ siêu cho hương linh (cụ ông hoặc cụ bà, cô) tánh danh……..,Thọ Tam quy giới, pháp danh….., Hưởng thọ (60 trở lên) hưởng dương (59 trở xuống) …..

nghi thuc cau sieu 2Nghi thức lễ cầu siêu

Nguyện hương linh nương nhờ Phật lực, đến Đạo Tràng thính Pháp nghe kinh, bỏ tâm trần tục, phát khởi tâm Bồ Tát, xa lìa uế trược, đồng cầu sanh Tịnh Độ.

Phổ nguyện: tang gia quyến chủ, hiếu sự châu viên, chánh Pháp phụng thừa, phước duyên sung mãn. Thân tâm an lạc, tứ đại đều hòa, trí đức viên dung, nhất thừa liễu ngộ.

Năm phần hương quyện khắp mười phương

Kết lại thành mây nguyện cúng dường

Trên khói hương này mong phật ngự

Chứng minh đệ tử tấc lòng thành

Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát (3 lần)

Phục nguyện

Nam Mô Lạc Bang Giáo Chủ Đại Từ Bi Phụ Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà phật

(Tác Đại Chứng Minh)

Nam Mô U Minh Giáo Chủ Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát

(Tác Đại Chứng Minh)

Phục Nguyện

Thần siêu cõi tịnh

Nghiệp dứt Ta Bà

Sen vàng chín phẩm nở hoa

Pháp thân hiện A Di Đà thọ ký

Hiện tiền đệ tử chúng con, nguyện đem công đức thọ trì kinh chú, xưng tán hồng danh, hồi hướng cầu siêu cho hương linh, nguyện Đức Phật A Di Đà Tây Phương Tịnh Độ, Bồ Tát Địa Tạng Từ tôn, phóng bạch hào quang nhi tiếp dẫn. Phục vì hương linh  (cụ ông hoặc cụ bà, cô) tánh danh…….., Thọ Tam quy giới, pháp danh….., Hưởng thọ… tuế (60 trở lên) hưởng dương…. tuế (59 trở xuống). Vãng sanh…….niên, …….ngoạt, …………nhựt kiết thời mạng chung.

Nguyện hương linh thừa tư Tam Bảo lực, thính Pháp nghe Kinh, văn vạn đức hồng danh chi lục tự, Ta Bà dĩ thoát, Cực Lạc đắc sanh, ngự đài hoa Sen thượng phẩm thượng sanh, y bản nguyện tùy duyên hóa độ, Phật từ gia hộ, tiếp dẫn hương linh, chánh niệm phân minh, vãng sanh lạc cảnh.

Phổ nguyện: người mất siêu thăng, người còn phước lạc, chúng sanh được thấm nhuần mưa pháp, tất cả nơi đâu cũng đều trọn thành Phật đạo.

Hoa Nguyễn

Đọc nhiều

Cần điều tra clip và xử lý cán bộ đòi chôn sống nhà sư.

Giữa lúc cơn khủng hoảng truyền thông Phật giáo đang leo thang vì những bài báo lá cải tiếp tục bồi bút sau khi...

Sự thật về người quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao...

Ngày 13/3/2021, ngay sau khi báo Thanh Niên Online đưa tin: ”Quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao cấu trẻ em:...

Cần Lên Án Báo Tuổi Trẻ Khi Đem Phật Giáo Ra Biếm Họa

Ngày 15/1/2020, Tuổi Trẻ Online đã có sự can thiệp chỉnh sửa lại thông tin đăng tải, buộc lòng phải lên tiếng xin lỗi...

Khai tôn giáo trong căn cước công dân, phải có “giấy chứng nhận xuất...

 Đây là một thắc mắc lớn mà người viết đã nhiều lần đặt ra trong khi trực tiếp thực hiện các thủ tục liên...