Thứ Hai, Tháng Chín 20, 2021

Câu chuyện lịch sử

Đoạn phim lược sử: Cuộc đời và đạo nghiệp Cố Hòa thượng Thích Minh Châu

Trưởng lão Hòa thượng Minh Châu xứng danh là nhà giáo dục mô phạm kiểu mẫu có một không hai của lịch sử Phật giáo Việt Nam đương đại.

95 năm hiện diện ở cõi Ta-bà, hơn 70 năm phục vụ cho Đạo pháp và Dân tộc, Hòa thượng Thích Minh Châu đã mở trường trong đạo và ngoài đời để đào tạo hàng ngàn Tăng Ni cấp cử nhân Phật học cho Giáo hội; hàng chục ngàn sinh viên có bằng cấp thành đạt cho xã hội.

Hôm nay, mặc dù Hòa thượng đã đi vào cõi Niết-bàn vô tung bất diệt, nhưng gương sáng trí tuệ và tinh thần giáo dục cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam, tinh thần phục vụ Đạo pháp và Dân tộc suốt đời của Ngài vẫn còn mãi mãi với non sông đất nước, với GHPGVN, với Phật tử ba miền Bắc, Trung, Nam, với Tăng Ni trong và ngoài nước, với tổ đình Tường Vân, với thiền viện Vạn Hạnh.

Mời quý vị cùng đón xem đoạn phim lược sử về “Cuộc đời và đạo nghiệp Cố Hòa Thượng Thích Minh Châu”  – Nguồn: Youtube Sen Việt.

Hãy hoàn thiện chính mình, thành công sẽ tự đến

Vào cuối đời Minh, có một nhà sưu tập thư họa nổi tiếng là Ngô Hồng Dụ. Trước khi mất, ông chỉ vào một bức họa và nói: “Tôi phải đem theo bức tranh này đi cùng, mọi người đốt nó đi giùm tôi”.

Bức họa đó chính là bức “Phú Xuân Sơn Cư Đồ” của một người tên là Hoàng Công Vọng.

Có lẽ cũng cần nói thêm một chút về bức tranh này.

“Phú Xuân Sơn Cư Đồ” là một trong 10 bức tranh nổi tiếng nhất Trung Quốc, cũng là tranh sơn thủy thủy mặc thời cổ Trung Quốc đạt trình độ nghệ thuật cao nhất. Bức tranh thể hiện phong cảnh tươi đẹp của hai bờ sông Phú Xuân tỉnh Chiết Giang vào đầu mùa thu. Họa sĩ là Hoàng Công Vọng đời nhà Nguyên. Bức tranh hoàn thành chưa được bao lâu thì ông qua đời. Đến đời vua Thuận Trị nhà Thanh, bức tranh này từng bị hỏa hoạn, chia thành hai phần. Hiện nay, phần đầu được đặt tên là “Thặng Sơn Đồ” với chiều dài khoảng 50 cm, cất giữ ở Viện bảo tàng tỉnh Chiết Giang; phần sau được đặt tên “Vô Dụng Sư Quyển” với chiều dài khoảng 640 cm, cất giữ ở Viện bảo tàng Cố Cung Đài Bắc.

Một tác phẩm lớn như vậy chắc chắn sẽ có một giai thoại tương ứng cho sự ra đời của nó. Chính xác thì nó là bức tranh thực hiện bởi một họa gia có một sự nghiệp rất ly kỳ. Ông chính là Hoàng Công Vọng, họa sĩ thời Nguyên.

Vào thời đó, ông đã trải qua nửa đời coi như là một kẻ thất bại. Ông trải qua hàng chục năm thi cử mới làm được một chức lại nhỏ, sau đó bị vướng án oan mà phải vào tù. Lúc ra tù thì đã nửa đời người, tay trắng vẫn hoàn trắng tay.

Một đời Hoàng Công Vọng long đong trắc trở, dường như tưởng đã đến lúc cuối đời.

Mãi đến năm 50 tuổi, ông mới bái đại danh họa Vương Mông làm thầy.

Hoàng Công Vọng mất 4 năm để tâm sự với dòng sông

Danh họa Vương Mông khi thấy người đàn ông 50 tuổi này xin làm học trò thì không chịu được đã nói thẳng: “Đã quá muộn để học, ông quay về đi thôi”. Nhưng Hoàng Công Vọng không cho đó là muộn, ông cũng không để tâm lời nói thẳng của Vương Mông, mỗi ngày đều dành vài tiếng đồng hồ trèo lên một tảng đá lớn mà ngắm cảnh núi sông.

(Ảnh minh họa: jianshu.com)

Qua một tháng thì tài nghệ vẽ của ông đã tăng lên nhiều, Vương Mông lấy làm lạ hỏi: “Mỗi ngày ông leo lên tảng đá to kia làm gì vậy?”

Hoàng Công Vọng trả lời: “Tôi ngắm nhìn núi sông, những bãi cỏ dài và các ngư dân quay về lúc chiều muộn”.

Hoàng Công Vọng quả thật đã bị mê hoặc với hội họa phong cảnh. Suốt 29 năm sau đó ông đi khắp danh sơn đại xuyên các nơi.

Vào mùa thu năm ông 79 tuổi, ông cùng sư đệ nhân lúc rảnh rỗi đến chơi Phú Dương, Chiết Giang. Chỉ thấy vào buổi sáng dòng sông trong vắt như một tấm gương đồng, đến tối thì các ngôi sao như rơi xuống vắt ngang lưng trời.

Hoàng Công Vọng quyết định không rời đi nữa mà ở lại nơi này. Ông đã ở lại nơi này hết 4 năm. Trong 4 năm đó, ngày nào ông cũng đầu đội nón tơi, chân đi giày cỏ mà đi bộ hàng chục dặm dọc theo bờ sông. Bất kể nắng mưa cũng chưa từng dừng lại.

Người dân quanh vùng thấy một ông già đầu bạc trắng ngày nào cũng đi như thế, mới bảo rằng: “Ông đã già sắp chết rồi, hà tất mỗi ngày phải làm thế”.

Nhưng đối với Hoàng Công Vọng thì cái chết không phải là việc do ông quyết định, nên ông cũng không quan tâm đến nó. Điều duy nhất mà Hoàng Công Vọng có thể quyết định chính là vẽ, bởi vì có những bức tranh vẫn còn đang dang dở. Vào năm 80 tuổi, ông bắt đầu vẽ kiệt tác “Phú Xuân Sơn Cư Đồ”.

Trong lịch sử Trung Quốc, chưa từng có ai bỏ ra 4 năm ròng để đối thoại với một dòng sông. Và cũng chưa từng có ai quan sát sông Phú Xuân để hiểu về nó như ông. Bốn năm sau, danh tác “Phú Xuân Sơn Cư Đồ” hoàn thành.

Một phần của bức tranh Phú Xuân Sơn Cư Đồ dài khoảng 50cm tách ra từ bức họa gốc dài 8,5m. (Ảnh: anxinpiao.com)

Khi sư đệ của ông thấy bức tranh, đã bật khóc đến nỗi không nói nên lời.

Lúc bức tranh vẽ xong, Hoàng Công Vọng giơ bút lên và ném nó xuống sông. Ông hét to sung sướng: “Tôi đã hoàn thành”.

Thanh Nguyên Duy Tín – Thiền sư đời Tống sau khi giác ngộ có giảng:

“Lão tăng trong 30 năm trước, khi chưa học Thiền, thấy núi là núi, thấy nước là nước. Sau nhân theo bậc thiện tri thức chỉ cho chỗ vào, thấy núi chẳng phải núi, thấy nước chẳng phải nước. Rồi nay khi đắc Đạo quy về bản thể y nhiên của mình thì thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước”.

Hoàng Công Vọng chính là đã làm được như thế, ông không chấp vào sự thất bại trong 50 năm đầu đời của mình. Không oán thán phàn nàn, mà chỉ là bỏ hết rồi bắt đầu lại. Trong 30 năm tiếp theo của cuộc đời mình, đi khắp nơi ngắm núi xem sông, không cầu làm nên việc có thể dương danh ở đời, mà chỉ đơn giản là tìm ra bản ngã chân thực của mình.

Đời người vốn không có con đường nào bằng phẳng cả, mỗi bước đi đều gập ghềnh trắc trở. Để vượt qua chông gai trong đời, chỉ cần mỗi ngày đều thực hiện tốt, từng bước mà vượt qua.

(Ảnh minh họa: quwenge.com)

Hãy hoàn thiện chính mình, thành công sẽ tự đến

Tôi từng đọc một câu như thế này: “Cuộc sống không thiếu những kẻ truy cầu, nhưng cuộc sống chỉ thành toàn cho những người hoàn thiện chính mình”.

Điều này làm tôi nhớ đến một bộ phim “Ba chàng ngốc” (3 Idiot) của  Bollywood. Nhân vật nam chính Rancho có nói: “Hãy hoàn thiện chính mình, thành công sẽ tự đến”.

Một ngày nọ vào năm lớp 6, Rancho gặp vấn đề với môn Toán và bị thầy giáo phát hiện. Việc này cũng không hoàn toàn do Rancho, vì cậu ta vốn dĩ là con của một người làm vườn, vốn ham thích học tập nên hay lấy cắp đồng phục của cậu chủ nhỏ vì cậu chủ không thích học. Sau khi bị phát hiện thân phận, ông chủ quyết định rằng việc này đã lỡ sai rồi thì cứ để như vậy. Ông cho phép cậu bé Rancho thay con ông ta tiếp tục đi học nhưng toàn bộ văn bằng tốt nghiệp phải trao cho cậu con trai ông. Cơ hội này khiến cho Rancho có thể tiếp tục học và được nhận vào những trường đại học chuyên ngành kỹ thuật tốt nhất.

Người bạn của cậu khi biết sự thật rất ngạc nhiên vì nếu không có bằng cấp sẽ không có được công việc tốt, cũng không thể có vợ đẹp, thẻ tín dụng và địa vị xã hội.

Nhưng tất cả điều này thì Rancho ngược lại chẳng quan tâm, anh cũng không quan tâm các kỳ thi là đầu tiên hay là kỳ thi cuối cùng.

Mỗi ngày của Rancho tại trường rất thú vị, vì là người đam mê kỹ thuật nên anh thường hay tự tay tháo dỡ các thiết bị, có khi còn tháo cả thiết bị nhà bếp của trường để quan sát cấu tạo.

Có lần nhìn thấy một tác phẩm tốt nghiệp là một chiếc máy bay bị ném vào thùng rác do chủ nhân của nó không đủ sức hoàn thành. Rancho không chịu nổi bèn nhặt nó lên và sửa lại đến khi nó có thể bay được.

Khi Mona, con gái của hiệu trưởng (chị của Pia) đang bị đau đẻ nhưng do bão lớn không thể đưa tới bệnh viện được. Qua điện thoại, Pia bảo họ đem Mona vào phòng sinh hoạt tập thể và làm theo hướng dẫn của Pia để giúp cho Mona sinh. Rancho đã tự mình chế tạo thiết bị kiểm soát sinh sản và cứu sống 2 mẹ con.

Anh chàng Rancho và Pia trong phim (Ảnh từ youtube).

Bốn năm sau, thực hiện đúng lời hứa với ông chủ, Rancho đã không lấy tấm bằng kỹ sư duy nhất chứng minh rằng anh đã tốt nghiệp đại học.

Nhưng anh đã lấy được tất cả kiến thức về kỹ thuật đủ để có thể thay đổi cuộc đời mình. Thế giới sẽ thiếu đi một kỹ sư Rancho, nhưng lại có thêm một nhà phát minh Rancho.

Rancho từng nói với bạn bè của mình rằng, anh ta không truy cầu bất cứ thứ gì mà chỉ là theo đuổi đam mê của bản thân.

Mọi thứ trên thế gian đến và đi đều đã có định số. Cuộc đời con người cũng thế. Bạn phải xem cuộc đời như một trường tu hành và rèn luyện, thông qua đó bổ sung cho những khiếm khuyết của bản thân. Cuối cùng đến một ngày nhất định bạn sẽ tìm thấy bản ngã chân thật vô cùng tốt đẹp của mình. Cuộc sống không thể cứ mãi nghĩ đến thành công, thật sự chỉ có “Thủy đáo cừ thành”, nghĩa là khi mọi sự đều đã đầy đủ thì thành công sẽ tự đến giống như nước chảy thành sông, hoàn toàn tự nhiên mà không cần phải truy cầu.

Tĩnh Thủy
Nguồn tham khảo: secretchina.com

Giải mã thân thế bất phàm và ý nghĩa tên gọi của Đường Tăng trong Tây Du Ký

Trong Tây Du Ký, Đường Tăng là nhân vật có thân thế bất phàm. Kiếp trước là Kim Thiền Tử – đồ đệ thứ 2 của Phật Tổ Như Lai.

Tây Du Ký là 1 trong tứ đại kiệt tác của văn học Trung Quốc. Tác phẩm này được chia làm 100 hồi, gồm 4 tập kể về chuyện thầy trò Đường Tăng cùng Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới và Sa Tăng trải qua 81 kiếp nạn để sang Tây Trúc thỉnh kinh.

Trong nguyên tác, nhà văn Ngô Thừa Ân mô tả, Đường Tăng (Đường Tam Tạng) họ Trần tên Huyền Trang. Tên hồi nhỏ là Giang Lưu. Đường Tăng có thân thế bất phàm. Kiếp trước của Đường Tăng là Kim Thiền Tử – Đồ đệ thứ hai của Phật Tổ Như Lai.

Vì không nghe giảng pháp, ngủ gật trong giờ giảng kinh và vô tình đá đổ một hạt gạo nên đã bị phạt đày xuống trần gian tu 10 kiếp và trải qua 81 kiếp nạn mới được trở lại Linh Sơn.

Trong 9 kiếp nạn đầu, Kim Thiền Tử  có đi lấy kinh qua sông Lưu Sa bị Quyển Liêm (Sa Tăng) ăn thịt, mỗi lần ăn thịt lại ném đầu lâu xuống sông nhưng đầu lâu không chìm, thấy là vật lạ nên Quyển Liêm xâu thành vòng cổ. Tổng cộng 9 kiếp của Kim Thiền đều bị Quyển Liêm ăn thịt không thể đi lấy kinh được.

duong-tang-trong-tay-du-ky-co-bao-nhieu-cai-ten-9Kiếp trước của Đường Tăng là Kim Thiền Tử

Đến kiếp thứ 10, Kim Thiền Tử bị đọa sang Đông Thổ Đại Đường, bắt đầu kiếp nạn. Vừa ra đời thì cha cậu bé bị giết. Vừa đầy tháng thì mẹ phải thả cậu lên bè trôi sông, suýt chút nữa thì bị chết đuối.

Lớn lên đi tìm họ hàng chẳng dễ dàng, về sau trên con đường tu luyện tìm chân kinh phải trải qua muôn vàn sóng gió. Mỗi lần gặp khó khăn chỉ cần trong lương tâm thoáng có niệm không chính, tâm cầu phật có một chút “lung lay” thôi thì mọi công sức đều đổ bể, hơn nữa lại còn có thể bị nguy hiểm đến tính mạng.

Trên đường sang Tây Trúc thỉnh kinh, Đường Tăng đã nạp Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng, Bạch Long Mã. Mấy thầy trò kiên định tâm cầu Phật pháp, trải qua 81 kiếp nạn để đến với thế giới Phật.

duong-tang-trong-tay-du-ky-co-bao-nhieu-cai-tenĐường Tăng và các đồ đệ trên đường sang Tây Trúc thỉnh kinh

Giống như Tôn Ngộ Không, Đường Tăng có nhiều tên gọi khác nhau:

 Kim Thiền Tử: Trong tiếng Hán, “Kim Thiền” nghĩa là con ve sầu, mượn ý trong “Kim thiền thoát xác” (ve sầu lột xác).

– Giang Lưu Nhi: Có nghĩa là đứa trẻ trôi sông. Cái tên này được đặt bởi Pháp Minh thiền sư, khi Đường Tăng hồi bé bị mẹ thả trôi sông lưu lạc.

– Trần Huyền Trang: Cái tên này được đặt bởi Pháp Minh thiền sư khi Đường Tăng lên 18 tuổi, lấy họ của cha là Trần.

– Đường Tam Tạng (Đường Tăng): Được vua Đường Thái Tông đặt trước khi đi lấy kinh, lấy tên nước Đường làm họ, đi lấy 3 tạng kinh nên gọi là Tam Tạng.

Chiên Đàn Công Đức Phật: Được phong phật khi lấy được kinh, tu thành chính quả.

Đỗ Thu Nga

Ý nghĩa Tây Du Ký: Ngàn năm Hi Thị sáng nay sạch – Bụi phàm tẩy tịnh, thấy đài sen

Trong lúc Ngộ Không đang kể về khả năng hàng phục yêu ma của mình, mọi người đột nhiên nghe thấy một trận gió hú, người dân trong thôn biết là yêu quái đến rồi, liền sợ đến nỗi run cầm cập, một người nói: “Cái miệng của hòa thượng này ăn mắm ăn muối, vừa nói yêu tinh là yêu tinh đến ngay”...

(Ảnh chụp từ phim Tây Du Ký)

Chương trước nói đến Phật Di Lặc ra tay thu phục Hoàng Mi lão quái, giải vây cho đoàn người đi lấy kinh. Có lẽ mọi người đều cho rằng thầy trò Đường Tăng đã thoát ra được ma chướng của Tiểu Tây Thiên. Đến chương 67 mới phát hiện ra bốn thầy trò họ vẫn còn ở trong địa giới Tiểu Tây Thiên. Thì ra từ Tiểu Tây Thiên đến Đại Tây Thiên, thoát khỏi Phật giả đi bái Phật thật cần phải xuyên qua một hẻm núi nhỏ hẹp…

Con đường hẹp này tên là hẻm Hi Thị, nằm ở phía dưới núi Thất Tuyệt, riêng đường núi đã là tám trăm dặm. Trên núi toàn là cây hồng, hàng năm quả hồng chín rụng xuống bên trong hẻm, sau khi quả thối lên men, hẻm sâu sẽ trở thành con đường cực kỳ hôi thối và bẩn thỉu. Mùi xú uế còn kinh khiếp hơn là nhà xí. Vì vậy mấy ngàn năm qua, không người nào có thể đi qua con đường này cả, vậy thầy trò Đường Tăng phải làm thế nào để đi qua?

Vì dân làm phúc, giết trằn tinh…

Vừa đến chân núi, thầy trò Đường Tăng phải tá túc nhờ nhà dân, nhìn thấy có một hộ gia đình, Đường Tăng đích thân đi đến gõ cửa. Có lẽ vì ông nóng lòng muốn nghỉ chân nên tiếng gõ cửa hơi lớn hơn bình thường một chút, một ông lão vừa mở cửa ra liền hỏi: “Là kẻ nào đang la lối ở đây hả?”

“Đường Huyền Tây hành đồ”, lưu giữ tại Bảo tàng quốc gia Tokyo (Phạm vi công cộng).

Đường Tăng vẫn giống như trước đây tự giới thiệu bản thân: “Bần tăng là được Đông Thổ phái đi Tây Thiên lấy kinh”. Ông lão vừa nghe nói đến lấy kinh, liền nói cho Đường Tăng biết nơi này chính là Tiểu Tây Thiên, muốn đi đến Đại Tây Thiên lấy kinh không chỉ là đường đi xa xôi, mà còn rất gian nan. Sau đó ông lão tiếp tục giới thiệu về lai lịch của hẻm Hi Thị, bởi vì thực sự nơi ấy quá thối, người dân địa phương gọi nó là “hẻm hi thỉ” (nghĩa là hẻm phân lỏng).

Thật kỳ lạ mà, rõ ràng quả hồng có bảy điều tuyệt vời (thất tuyệt): Một là sống lâu, hai là tạo bóng mát, ba là không có chim làm tổ, bốn là không có sâu bọ, năm là lá có thể dùng để chơi, sáu là quả ngọt có thể đãi khách, bảy là lá rụng xuống làm phân bón cho đất”, tại sao lại bị tiếng xấu “hẻm hi thỉ” như vậy? Lại bị sự phân hủy làm che mất đặc tính thật của quả hồng? Điều này có phải tương ứng với việc trong mắt của Thần Phật thì những khát vọng, tài hùng biện, tài văn chương của người tu hành cũng giống như mùi của nhà xí, mùi hôi thối bốc lên khắp nơi không?

Cây hồng (Ảnh: Shutterstock).

Hơn nữa, đường hẻm này đã bị tắc nghẽn hơn một ngàn năm, không ai có thể đi qua cả. Điều này cũng có nghĩa là trong số trăm ngàn năm qua đã có biết bao nhiêu người bái lạy Phật giả mà tưởng là bái lạy Phật thật, bản thân lại còn không hay biết gì.

Ông lão tiếp đãi những người đi thỉnh kinh này vô cùng chu đáo. Trong lúc trò chuyện, mọi người mới biết nơi đây gọi là thôn Đà La, quanh năm đều có yêu quái làm hại người trong thôn. Ngộ Không hỏi, nếu như đã có yêu quái, vậy tại sao không mời người đến hàng yêu? Thì ra trưởng thôn đã từng mời hòa thượng, cũng mời cả đạo sĩ, nhưng kết quả đều bị yêu quái giết chết.

Dựa theo câu chuyện của chương trước, có thể biết được ngụ ý của Tiểu Tây Thiên, vừa bái Phật giả vừa bái Thần linh giả. Ý nghĩa sâu xa nằm ngoài miêu tả trong tiểu thuyết này là: người tu hành không thoát ra được địa giới Tiểu Tây Thiên, cho dù tu luyện thế nào cũng không có năng lực diệt yêu trừ ma, hoặc nói một cách chính xác là không có năng lực tiêu diệt ma tính của chính mình.

Vì muốn tạo phúc cho nơi này, Ngộ Không đã nhận lấy việc hàng yêu. Tranh minh họa đánh Bạch Cốt Tinh trong “Tây Du Ký” (Phạm vi công cộng).

Vì muốn tạo phúc cho nơi này, Ngộ Không quyết định nhận lấy việc hàng yêu. Ông lão hỏi Ngộ Không, hàng yêu cần bao nhiêu lễ vật để cảm tạ. Ngộ Không nói: “Cần gì nói phải lễ vật gì chứ? Tục ngữ nói: ‘nhắc đến vàng thì chói mắt, nhắc đến bạc thì ngây ngốc, nhắc đến đồng thì tanh tưởi’. Ta là hòa thượng hành thiện tích đức, tuyệt đối không cần tiền”. Một hành giả chân chính sẽ không suy nghĩ về lợi ích tiền bạc, những lời này của Ngộ Không chính là nhận thức trong cảnh giới của chính mình.

Đương nhiên, người tu hành có “quan niệm vật chất” của riêng mình. Ngộ Không nói: “Ta là người xuất gia, chỉ cần là một chén trà, một bát cơm, xem như là cảm tạ rồi”. Trong mắt của người tu hành, sự “giàu có” quan trọng nhất chính là kết thiện duyên rộng rãi, quảng độ chúng sinh. Trong thế giới của Thần Phật vốn dĩ đều là vàng ròng chói lóa, đều có vô lượng chúng sinh không thể đếm hết.

Trong lúc Ngộ Không đang kể về khả năng hàng phục yêu ma của mình, mọi người đột nhiên nghe thấy một trận gió hú, người dân trong thôn biết là yêu quái đến rồi, liền sợ đến nỗi run cầm cập, một người nói: “Cái miệng của hòa thượng này ăn mắm ăn muối, vừa nói yêu tinh là yêu tinh đến ngay”.

Nghe nói là yêu quái đến rồi, Bát Giới khiếp sợ vội chạy ngay vào trong nhà, Sa Tăng đi vào cùng. Ngộ Không dùng hai tay giữ lấy hai sư đệ của mình, kêu họ đứng lại. Đúng vậy, người xuất gia tu kỷ lợi nhân (bản thân tu hành để lợi lạc cho người khác), trong giờ phút nguy hiểm như vậy, làm sao có thể chỉ lo nghĩ đến sống chết của bản thân, không đi hàng yêu phục ma để bảo vệ sinh linh một vùng chứ!

Ngộ Không phản ứng rất nhanh, nhìn thấy yêu quái, liền rút cây kim cô bổng ra xông vào đánh nhau với nó. Trong trận chiến trừ yêu diệt ma này, một trận trường thương tung múa loạn xạ. Ngộ Không hỏi tên yêu quái đó: “Ngươi là yêu quái phương nào? Tinh linh nơi nào?” Tên yêu quái đó giống như một kẻ câm vậy, chỉ tập trung đánh nhau chứ không nói chuyện. Hai người đánh suốt ba canh giờ mà vẫn không phân thắng bại.

Bát Giới và Sa Tăng ở bên trong sân nhà Lý gia theo dõi trận đánh bên trên. Bát Giới cười nói rằng đi ra ngoài giúp Ngộ Không đánh yêu quái đó. Bát Giới phối hợp với Ngộ Không, đánh với yêu quái đó một hồi thì phát hiện ra một vấn đề, cách sử dụng giáo của tên yêu quái này có chút kỳ lạ, vì thế đã tự mình đặt cho nó một cái tên là “nhuyễn bính thương”.

Ngộ Không có sở trưởng dùng gậy, sử dụng gậy Kim Cô đến mức độ xuất thần nhập hóa, nhưng lại chưa từng nghe nói “nhuyễn bính thương” gì cả. Nhưng Đại Thánh bẩm sinh đã thông minh lanh lợi, lời của Bát Giới khiến Ngộ Không đột nhiên nhớ đến một điều, yêu quái này không biết nói chuyện, chắc chắn là vẫn chưa tu luyện thành hình người nên âm khí rất nặng. Đợi khi trời sáng, mặt trời nhô lên, dương khí gia tăng thì yêu quái sẽ phải bỏ chạy. Bát Giới lập tức trả lời rằng: “Đúng vậy, đúng vậy”. Hai anh em Ngộ Không phối hợp rất ăn ý với nhau.

Quả nhiên trời vừa sáng, yêu quái không dám chiến đấu nữa, quay đầu liền bỏ chạy. Ngộ Không và Bát Giới đuổi theo đến hẻm Hi Thị dưới chân núi Thất Tuyệt. Nơi này thực sự hôi thối đến mức không thể chịu nổi. Lúc này, hai anh em mới phát hiện thì ra yêu quái này chính là một con trăn khổng lồ có vảy màu đỏ.

Từ vẻ bề ngoài nhìn vào, con trăn khổng lồ này có hàm răng sắc bén như kiếm thép, móng vuốt như những chiếc móc vàng, phần đầu giống như được gắn hàng ngàn miếng mã não, những chiếc vảy màu đỏ trên người giống như dát hàng trăm miếng giấy đỏ. Nó nằm trên đất thì trông giống một tấm chăn gấm lộng lẫy, khi bay lên trời thì trông giống cầu vòng. Trong mắt của con người thế tục thì hình dạng bên ngoài của nó toàn là “bảo bối”. Đáng tiếc là nó mang đầy “bảo bối” trên người như vậy nhưng lại nằm ở một nơi còn hôi thối hơn cả nhà xí.

Bát Giới nhìn thấy con trăn này đang chui vào trong hang, lại thấy cái đuôi của nó vẫn còn ở bên ngoài hang, liền ném cây đinh ba xuống, một tay tóm lấy cái đuôi của nó, dùng hết toàn bộ sức lực để kéo nó ra ngoài. Ngộ Không cảm thấy yêu quái này toàn thân to lớn và nặng nề, cái hang vừa nhỏ vừa hẹp, nó chắc chắn không thể nào xoay người mà chỉ có thể bò thẳng về phía trước mà thôi. Thế là Ngộ Không kêu Bát Giới canh chừng ở  phía sau, còn Ngộ Không thì đánh ở phía trước, hai người hợp phối với nhau khống chế yêu quái.

Ngụ ý của đoạn viết này muốn nói rằng, khi người tu hành giữ được nội tâm của mình, không bị tác động bởi ngoại cảnh thì sẽ dễ dàng diệt trừ ma tính, ma tính cũng khó có thể quay lại. Quả nhiên là như vậy, hai anh em hợp sức tiêu diệt yêu quái, giải cứu thôn Đà La thoát khỏi nguy hiểm. Mọi người đều vô cùng vui mừng, già trẻ lớn bé trong thôn đều đến quỳ lạy cảm tạ thầy trò Đường Tăng, nhiệt tình mời cơm và tặng lễ vật cảm tạ.

Ngàn năm Hi Thị sáng nay sạch – Bụi phàm quét sạch, thấy đài sen

Khó lòng từ chối tấm chân tình của người dân trong thôn, thầy trò Đường Tăng phải nán lại nhiều ngày, cuối cùng mới có thể khởi hành tiếp tục lên đường, mấy trăm người đưa tiễn đoàn người lấy kinh đi đến đầu hẻm Hi Thị dưới chân núi Thất Tuyệt, một mùi hôi thối xộc lên mũi. Đúng vậy, con đường này bị rác rưởi bẩn thỉu làm tắc nghẽn hơn một ngàn năm qua, có thể thấy được nó tồi tệ đến mức nào. Muốn dọn dẹp sạch sẽ một nơi bẩn thỉu như vậy thì cần phải có sự kiên nhẫn rất lớn!

Trư Bát Giới tại hẻm Hi Thỉ mở núi cho mọi người, mở lại con đường đi đến Đại Tây Thiên. Biểu hiện của Bát Giới trong chương này thật sự rất nổi bật.

Ngộ Không đưa ra chủ ý, kêu Bát Giới biến thành một con heo khổng lồ, đào ra một con đường mới để đoàn người lấy kinh hộ tống Đường Tăng đi qua ngọn núi này. Công việc dơ bẩn và vất vả như vậy, không ngờ Bát Giới lại vui vẻ nhận lời ngay; người dân trong thôn lấy ra lương khô, trái cây, bánh nướng, bánh bao cho Bát Giới ăn no. Bát Giới vô cùng hoan hỷ, dốc hết toàn bộ sức lực của mình để mở đường cho mọi người, mở lại con đường đi đến Đại Tây Thiên. Biểu hiện của Bát Giới trong chương này thật sự rất chói lọi. Ở phần kết của câu chuyện, tác giả Ngô Thừa Ân có thơ ca tụng như thế này: “Ngàn năm Hi Thị sáng nay sạch, hẻm núi Thất Tuyệt sáng nay mở. Thất tình lục dục đều đoạn tuyệt, bình an vô ngại bái đài sen”.

Theo Epoch Times/ Châu Yến biên dịch

Vì sao nói: Phúc báo của con cái đều có liên quan tới cha mẹ?

Vì sao nói: Phúc báo của con cái đều có liên quan tới cha mẹ?

Ảnh: Marvelmozhko / Pixabay.

Lão Tử nói: ‘Thiên đạo vô thân, thường dữ thiện nhân’. Tạm dịch: Đạo trời không thiên vị, thường giúp người thiện lương. Có rất nhiều thứ đôi khi người khác có thể mang tới cho chúng ta, nhưng phúc báo của chúng ta không nhất định có thể có được nó. Nếu hiểu được đạo lý này, cuộc sống của chúng ta sẽ giảm bớt được rất nhiều đau khổ và phiền muộn!…

Có rất nhiều người đi phá thai chỉ vì một nguyên nhân: ‘sợ không nuôi nổi con!’ Với họ nuôi được nổi một đứa con đã là việc vô cùng vất vả chứ đừng nói sinh thêm một đứa nữa. Trong tiềm ý thức chúng ta đều cho rằng, đứa trẻ này là do tôi nuôi lớn, gia đình này là do tôi gánh vác chống đỡ…

Kỳ thực không phải như vậy, trước tiên chúng ta nên hiểu một đạo lý, và cũng là quy luật của vũ trụ, mỗi người khi sinh ra đều có phúc báo riêng của mình. Khi một đứa trẻ tới đầu thai là mang cả phúc báo của chúng tới, nhìn bề mặt ta thấy rằng cha mẹ đang nuôi dưỡng chúng, nhưng trên thực tế là phúc báo của bản thân đứa trẻ đang nuôi dưỡng chúng.

Một sự việc cuối cùng có thể đi tới thành công, là phúc báo của tất cả mọi người chung sức tạo nên, chính là sự tích lũy phúc báo chung của mọi người. Ác nghiệp cũng lại như vậy. Hiện nay trong khi môi trường đang bị phá hoại một cách nghiêm trọng, mỗi người chúng ta đều đừng nên đi trách móc người khác, bởi vì mỗi người trong chúng ta đều là một nhân tố tạo nên điều đó.

Khi chúng ta sử dụng túi nilon, và hầu như tất cả những vật dụng sinh hoạt hằng ngày… thì đều là đang sử dụng những sản phẩm có liên quan tới các loại hóa chất. Việc sử dụng đó của chúng ta mỗi ngày chính là đang phá hoại môi trường.

Đạo Trời không có tình thân cũng không thiên vị bất kể một ai, cho dù đó là con của bạn, bạn cũng không thể chuyển phúc báo của mình cho chúng. Mỗi người đều có số mệnh riêng của mình! Có rất nhiều người không hiểu được điều này, vì muốn con thành thiên tài liền tìm đủ mọi cách để con được học tập trong trường nổi tiếng.

Kỳ thực điều trước tiên cần xem xét đó là đứa trẻ đó có số mệnh trở thành thiên tài hay không. Cũng giống như việc nuôi một đứa trẻ, cho dù tiền dùng chi tiêu cho chúng là tiền của cha mẹ chúng, nhưng hao tổn lại là phúc báo của bản thân đứa trẻ đó.

Ảnh: Pixabay.

Có đôi khi cha mẹ có thể cung cấp có thể mang lại cho đứa trẻ nhiều tiền bạc của cải, nhưng mệnh của đứa trẻ đôi khi không nhất định có thể tiêu. Vì chúng ta cần xem số mệnh của đứa trẻ đó có hay không, đây chính là đạo lý ‘thiên đạo vô thân’. Có người nhất mực yêu thương con cái tới mức cho rằng có thể chi càng nhiều tiền nuôi con càng tốt.

Kỳ thực nếu bạn tiêu nhiều tiền quá mức cho con, ngược lại sẽ càng làm con tổn càng nhiều phúc báo của chính chúng. Sau khi mất đi nhiều phúc báo, lớn lên đứa trẻ sẽ không có thành công cũng như tiền đồ danh vọng. Vì vậy chúng tôi thường khuyên mọi người: Khi con đến tuổi đi học, hãy để chúng học tập trong điều kiện như mọi người bình thường, vận mệnh của chúng có thể đi theo con đường học hành thì sẽ tự có được, hãy để mọi thứ tùy kỳ tự nhiên. Nếu đường đời của chúng không thể theo sự nghiệp học hành thì dù bạn có tìm cho con người thầy tốt nhất cũng vô dụng.

Cổ nhân xưa vẫn thường mời thầy về để dạy dỗ con cháu, tuy nhiên điều họ làm khác biệt rất lớn với con người hiện nay. Trước đây khi mời thầy dạy cho con, người thầy đó phải dạy học trò của mình về nhân phẩm, nhân cách làm người. Tiếp sau đó mới dạy về kỹ năng, kỹ thuật, phải làm một bài văn như thế nào, cách viết một bài thơ ra sao…

Con người hiện nay thì không thế, không dạy con về nhân phẩm cũng như nhân cách làm người, những thứ dạy con đều là về tri thức khoa học và kỹ thuật, do vậy mới không có nhiều ý nghĩa.

Người xưa dạy: Lưu lại của cải cho con cháu, chúng cũng không giữ được; lưu lại sách vở cho con cháu, chúng cũng không đọc được; chỉ có lưu lại âm đức cho con cháu, mới là lối ra cần thiết nhất cho chúng. Điều bạn cần làm trước tiên là hãy gieo trồng ruộng phúc, tích đức làm việc thiện, thì sau này tự nhiên con cháu sẽ tự có phúc báo. Nếu hiện tại bạn không tích đức hành thiện, tiền bạc có được là không chính đáng thì sau này con cháu sẽ cơ cực, sẽ chịu nghiệp tích lại từ bạn.

Người xưa cũng dạy: ‘Nhất đại tố quan cửu đại oan’ Tạm dịch: Một đời làm quan, chín đời chịu oán. Tại sao lại nói như vậy? Nguyên nhân là nếu bạn làm một vị quan tốt, lo nghĩ cho dân cho nước thì chính là tích phúc báo lớn cho con cho cháu sau này. Còn nếu bạn làm một vị quan không tốt, chiếm hữu của công thành của tư, mượn công danh để mưu đồ bất chính thì chính là đang tạo nghiệp, và điều lưu lại cho con cháu đều là nghiệp chướng, tổn phúc báo của con cháu và tới tận chín kiếp sau con cháu đều phải ‘làm trâu làm ngựa’ để trả nợ cho những ác nghiệp tích lại đó.

Đạo trời mặc dù không thiên vị, nhưng lại luôn giúp người lương thiện

Ảnh: Pixabay.

Việc bạn cần làm là tích lũy thật nhiều âm đức, thì mới có thể lưu lại cho con cháu sau này; nếu muốn con cháu bạn sau này phát tài, hãy bố thí tiền bạc cho những người nghèo; nếu bạn muốn con cháu sau này được khỏe mạnh, hãy bố thí nhiều thuốc cũng như niềm vui cho người khác. Đây chính là đạo Trời luôn giúp người thiện lương.

Việc hiếu thuận với cha mẹ cũng lại như vậy.

Đôi khi chúng ta cho rằng mua nhiều đồ bổ dưỡng cho cha mẹ thậm chí là những thứ không cần thiết hoăc tổ chức tiệc mừng thọ hoành tráng là biểu biện của lòng hiếu thuận. Kỳ thực chúng ta nhìn thì thấy là náo nhiệt là vui vẻ, nhưng kỳ thực đó lại là hành động làm tổn phúc báo của chính bản thân họ chứ không phải là biểu hiện của sự hiếu thuận.

Thời xưa có một gia đình nọ có người cha già qua đời, để tỏ lòng hiếu thuận thương tiếc người con trai tổ chức ma chay linh đình làm tới ba trăm bàn tiệc. Vài ngày sau ông lão hiện về trong mơ nói với con trai, lẽ ra ông được lên thiên đàng để hưởng phúc, nhưng vì cậu con trai tổ chức đám tang lớn quá, sát sinh quá nặng quá nhiều, làm cho ông phải chịu khổ dưới địa ngục mà không ra được!

Qua câu chuyện này chúng ta có thể thấy mặc dù tiền con cháu ông lão đó chi ra, nhưng người bị mất phúc báo lại chính là ông lão đó.

Cha mẹ tiêu càng nhiều những khoản tiền vô vị cho con, cũng chính lại là đang làm tổn phúc báo của con, đây chính là quy luật đại đạo của vũ trụ ‘thiên địa vô tình’. Do vậy việc tổ chức sinh nhật cho con, hay việc tổ chức mừng thọ nhìn bề mặt người thường tưởng là tốt, kỳ thực lại đang làm tổn phúc báo của chính bản thân người được tổ chức.

Cho dù con cái có học hành giỏi giang đến mấy cũng đừng nên tự hào đi khoe khoang khắp nơi quá sớm. Hãy nên nghiêm khắc với con một chút, sẽ có lợi nhiều hơn cho sự phát triển sau này của chúng.

Có rất nhiều thứ cho dù người khác có thể cho chúng ta, tuy nhiên phúc báo của chúng ta không nhất định có thể dùng được chúng.

Kiên Định

Đọc sách Thánh hiền, thân tỏa hào quang – Xem truyện giải trí, khói đen bao phủ…

Có người từng hỏi một văn sỹ nổi tiếng: “Ông có hối tiếc không, khi suốt cả cuộc đời mình giành nhiều thời gian cho việc đọc sách hơn là thời gian để hưởng thụ các thú vui của cuộc sống?”.

Nhà văn chỉ vui vẻ trả lời:

“Có rất nhiều cách để hưởng thụ cuộc sống, và đọc sách là một trong số đó… Khi bạn đọc sách, tức là bạn đang sống, nó tựa như những giấc mơ đẹp, đó là cách mà bạn tận hưởng cuộc sống”.

Câu chuyện về chiếc giỏ đựng than…

Cũng giống như câu hỏi ở trên, có một câu chuyện kể rằng tại một trang trại ở miền núi xa xôi, có một ông cụ sống với người cháu của mình. Mỗi buổi sáng, ông cụ đều dậy rất sớm để đọc sách. Có những cuốn sách ông đã đọc nhiều lần, đến mức bìa sờn giấy cũ, nhưng lúc nào ông đọc cũng say mê và chưa một buổi sáng nào ông quên đọc sách.

Cậu cháu trai cũng bắt chước ông, cũng cố gắng mỗi ngày đều ngồi đọc sách. Rồi một ngày, cậu hỏi ông:

Ông ơi, cháu cũng thử đọc sách như ông, nhưng cháu không hiểu gì cả. Hoặc là có những đoạn cháu hiểu, nhưng khi gấp sách lại là cháu quên ngay. Thế thì đọc sách có gì tốt đâu mà ông đọc thường xuyên thế ạ?…”

Mỗi buổi sáng, ông cụ đều dậy rất sớm để đọc sách (Ảnh minh hoạ: Shutterstock).

Ông cụ lúc đó đang đổ than vào lò, quay lại nhìn cháu và nói:

“Cháu hãy đem cái giỏ đựng than này ra sông và mang về cho ông một giỏ nước nhé!”

Cậu bé liền làm theo lời ông, dù rằng tất cả nước đã chảy ra hết khỏi giỏ trước khi cậu bé quay về đến nhà.

Nhìn thấy cái giỏ, ông cụ cười và nói: “Nước chảy hết mất rồi! Có lẽ lần sau cháu sẽ phải đi nhanh hơn nữa!”

Rồi ông bảo cháu quay lại sông lấy một giỏ nước khác.

Lần này cậu bé cố chạy nhanh hơn, nhưng lại một lần nữa, khi cậu về đến nhà thì cái giỏ đã trống rỗng. Thở không ra hơi, cậu nói với ông rằng “đựng nước vào cái giỏ là điều không thể”, rồi đi lấy một chiếc xô để múc nước. Nhưng ông cụ ngăn lại:

“Ông không muốn lấy một xô nước. Ông muốn lấy một giỏ nước cơ mà! Cháu có thể làm được đấy, chỉ có điều cháu chưa cố hết sức thôi!”

Rồi ông lại bảo cháu ra sông lấy nước. Vào lúc này, cậu bé đã biết rằng không thể đựng nước vào giỏ được, nhưng cậu muốn cho ông thấy rằng dù cậu chạy nhanh đến đâu, nước cũng sẽ chảy hết ra khỏi giỏ trước khi cậu về đến nhà. Thế là cậu bé lại lấy nước, lại chạy nhanh hết sức, và khi về đến chỗ ông, cái giỏ lại trống rỗng.

“Ông xem này” – Cậu bé hụt hơi nói: “Thật là vô ích!”

“Cháu lại nghĩ nó là vô ích ư…” – Ông cụ nói: “Cháu thử nhìn cái giỏ xem!”

Cậu bé nhìn vào cái giỏ, và lần đầu tiên, cậu bé nhận ra rằng cái giỏ trông khác hẳn ban đầu. Nó không còn là cái giỏ than đen bẩn nữa, mà đã được nước rửa sạch sẽ.

“Cháu của ông, đó là những gì diễn ra khi cháu đọc sách. Có thể cháu không hiểu hoặc không nhớ được mọi thứ, nhưng khi cháu đọc, sách sẽ thay đổi cháu từ bên trong tâm hồn, như nước đã làm sạch giỏ than kia vậy”.

Như vậy, việc đọc sách không bao giờ là vô ích, giống như nhà văn kia đã nói, đó chính là cách tận hưởng cuộc sống. Tuy nhiên, để có thể thực sự tẩy tịnh tâm hồn, thăng hoa lên những cảnh giới cao đẹp hơn, đòi hỏi bạn phải chọn lựa được cho mình những cuốn sách hay và tốt.

Việc đọc sách không bao giờ là vô ích (Ảnh: Shutterstock).

Đọc sách Thánh hiền, thân tỏa hào quang – xem truyện giải trí, khói đen bao phủ…

Chuyện kể rằng: xưa kia, có vị quan nọ đang đi dạo một mình vào lúc giữa đêm. Đột nhiên ông ta gặp lại một người bạn cũ đã mất. Tuy nhiên, bản thân ông là một người dũng cảm nên không hề sợ hãi, bèn hỏi người bạn: “Anh đi đâu thế?”

Người bạn trả lời: “Tôi đang làm Minh lại (một viên quan dưới âm phủ). Tôi phải trông coi khu làng phía Nam. Tôi đang trên đường đi đến đó thì tình cờ gặp ông”.

Vậy là hai người đi cùng nhau. Khi đi qua một ngôi nhà cũ, vị Minh lại nói: “Đây là nhà của một vị học giả đức hạnh và cao thượng”.

Vị quan hỏi ông ta: “Tại sao anh biết người đàn ông sống trong ngôi nhà này là một vị học giả đức hạnh và cao thượng?”

Minh lại đáp:

“Hàng ngày, người ta rất bận rộn với công việc mưu sinh và tâm hồn của họ bị chôn vùi trong đó. Đêm đến, khi đi ngủ, mọi người đều không còn nghĩ về điều gì nữa. Vào lúc đó, nguyên thần của họ sẽ xuất ra ngoài.

Nếu như một người thường đọc những quyển sách tốt, ví dụ như ‘Luận Ngữ’ của Khổng Tử, ‘Ly Tao’ của Khuất Nguyên, và ‘Sử Ký’ của Tư Mã Thiên, thì một trường ánh sáng nhiều màu sắc và chói sáng sẽ phát ra từ trăm khiếu của người đó.

Người đọc sách Thánh hiền gột rửa được nội tâm trong sáng, thì ánh sáng thuần khiết từ nội tâm đó sẽ phát ra từ trăm khiếu huyệt (Ảnh: Shutterstock).

Những ánh sáng rực rỡ nhất có thể cao đến tận trời và tỏa sáng như Mặt Trăng và các vì tinh tú. Những ánh sáng tiếp theo có thể xa tới vài trượng. Những ánh sáng tiếp nữa có thể xa đến vài thước. Và những ánh sáng dù yếu nhất cũng đã sáng như một ngọn đèn chiếu ra ngoài cửa sổ. Người bình thường không thể thấy điều này. Chỉ có hồn ma và những vị Thần mới có thể nhìn thấy điều như thế”.

Vị quan tò mò hỏi ông ta: “Tôi dành nhiều thời gian hàng ngày để đọc sách, vậy trường ánh sáng của tôi thế nào khi tôi ngủ?”

Minh lại ngập ngừng một lúc rồi trả lời:

“Ngày hôm qua tôi đi qua nhà ông, lúc đó ông đang ngủ trưa. Tôi thấy rằng ông đọc rất nhiều sách, nhưng lại ít đọc sách của Thánh hiền. Hầu hết các sách ông đọc đều là vì ham muốn của cá nhân, vì để giải trí và thiếu chân thực. Vì vậy mà mỗi chữ đều biến thành khói đen và bao trùm ngôi nhà của ông. Ngôi nhà của ông giống như được che phủ bởi bóng tối và sương mù dày đặc, đến nỗi ánh sáng không thể nào chiếu vào được”.

***

Cuộc sống không chỉ là những buổi sáng chạy thể dục dưới trời đầy sương mù ở công viên, hay tụ tập tán gẫu với bạn bè… Mà ngồi nghiền ngẫm và đắm mình bên những trang sách cũng là một điều vô cùng ý nghĩa trong kiếp nhân sinh vậy.

Tuy nhiên, lựa chọn cho mình một cuốn sách như thế nào lại là một việc vô cùng quan trọng. Bởi bộ não của con người tựa như một cái thùng chứa, bất cứ cái gì bạn bỏ vào trong đó, chúng đều trở thành đặc tính của cái thùng chứa đó.

Nếu bạn đọc được một cuốn sách dạy làm người tốt, bạn sẽ nuôi dưỡng cho mình một trái tim và tâm hồn trong sáng. Và giống như câu chuyện tâm linh ở trên, nhìn vào không gian khác, thân thể bạn có thể tỏa ra ánh sáng lấp lánh và xa đến mười ngàn trượng. Nhưng nếu bạn chỉ biết vùi đầu bên những trang sách xấu, thì cũng đồng nghĩa với việc bạn đang bôi thêm những thứ xấu xí lên tâm hồn mình. Và nhìn từ một không gian khác, từ con người bạn chính là đang phát ra rất nhiều khí đen và xấu bẩn. Điều đó thật chẳng đáng sợ lắm sao!

Vậy nên, hãy làm một người có trí huệ, lựa chọn cho mình nhiều cuốn sách quý để đọc, để từ đó nuôi dưỡng cho mình những điều thiện lương và tốt đẹp!

Nếu bạn đọc được một cuốn sách dạy làm người tốt, bạn sẽ nuôi dưỡng cho mình một trái tim và tâm hồn trong sáng (Ảnh: Shutterstock)

Tâm Anh

Trẻ không chịu nhớ, già mới nhớ!

Nợ gì thì trả được, chứ nợ tình mẫu tử trả sao cho nổi. Vay không lãi, mà nợ cứ chồng lên nợ!

Mẹ cô bạn tôi, 90 tuổi, vừa cầm quyển sách tôi tặng, chỉ mới nhìn tựa đề “Những thằng già nhớ mẹ” đã lẩm bẩm:“Trẻ không chịu nhớ, đợi đến lúc già rồi mới nhớ”. Nhận xét của người già thường lẩn thẩn, nhưng ngẫm lại nhiều khi nhức nhối.

Với mấy bà mẹ, nhớ là thương. Thương là phải biểu hiện cụ thể, là quan tâm, chăm sóc,… nếu cần thí mạng như gà mẹ xù cánh đấu với diều hâu cũng được. Hiểu theo kiểu lẩm bẩm của bà cụ 90 thì, trẻ không chịu thương (mẹ), tới già rồi mới biết thương thì còn làm được cái gì nữa. Câu nói hàm chứa bao nỗi chịu đựng sự vô tâm của con cái ngay từ hồi chúng còn trẻ. Viết tới đây thấy chột dạ.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Vì sao nhớ mẹ? Nhớ là…nhớ, là trạng thái tình cảm…. Hỏi vặn vẹo thế ai mà trả lời nổi. Con nít nhớ mẹ, người già nhớ mẹ có chỗ giống nhau, có chỗ khác nhau.

Đứa con út của tôi hồi 5 tuổi, một buổi tối cháu đang ngủ, chợt ngồi dậy dựa tường, mặt mũi buồn thiu. Tôi thấy nước mắt lăn trên mặt nó. “Con nhớ mẹ, phải không?”. Nó gật đầu. Mẹ đi công tác vài hôm, con bé thiếu hơi mẹ trằn trọc, khó ngủ. Khi con tôi trưởng thành, đôi lần nhớ lại mặt mũi buồn thiu của nó, tôi cũng không hỏi cái cảm giác nhớ mẹ của nó lúc ấy thế nào.

Tôi không bao giờ có cảm giác nhớ mẹ, hay thiếu mẹ như vậy. Tuổi thơ của tôi và sau này, mẹ tôi lúc nào cũng sẵn đó, chỉ có tôi ham vui xa bà. Thằng con lãng tử lông bông, đi chán lại mò về. Về rồi thấy mọi thứ vẫn thế, nên ỷ lại. Nhận ra được những giá trị mình đang sở hữu coi vậy mà khó.

Chỉ khi bà mất, tôi mới cảm thấy thiếu. Mọi vật dụng, giường tủ, ly nước, lọ thuốc …còn đó mà như thiếu. Sau đám tang, tôi sợ về nhà, sợ nhìn thấy mấy thứ đó. Thôi, bỏ đi giang hồ vài tháng.

Đến lúc biết quan tâm đến mẹ thì lại lấy cái tỉnh táo của người bình thường so đo với sự lẩn thẩn của người già. Đâu chịu nghĩ hồi xưa, bà cũng kiên nhẫn chịu đựng cái tính ngang ngược của mình gấp nhiều lần.

Lại cứ khư khư mang kiến thức khoa học để ép bà, nay kiêng khem thứ này, mai hạn chế thứ kia. Đâu chịu nghĩ, hồi xưa đời mình còn dài, bây giờ đời bà quá ngắn. Chất lượng cuộc sống và kéo dài cuộc sống, thứ nào quan trọng hơn? Tinh thần thoải mái và vật chất phủ phê, thứ nào bà cần hơn?

Bằng cấp cho lắm vào rồi mờ mắt, nhìn không ra những điều đơn sơ nhất. Nghĩ lại thấy mình láo lếu đủ chuyện.

Những ngày ở Đà Lạt, những cái láo lếu này đeo bám tôi riết. Nhìn lên bàn thờ, rồi nhìn lại mình. Tiếc rồi mới nhớ, hay nhớ rồi mới tiếc? Hai trạng thái đó cứ lẫn lộn. Đôi lúc nghĩ bừa, phận làm con chưa tử tế, coi như xù nợ. Bà là mẹ chắc không để bụng. Nợ gì thì trả được, chứ nợ tình mẫu tử trả sao cho nổi. Vay không lãi, mà nợ cứ chồng lên nợ !

Nhưng rồi cũng đến lúc để bà ra đi thanh thản, gần 5 năm rồi rồi còn gì… Ký ức thì nên giữ, nhưng níu kéo bằng nỗi nhớ thương quay quắt thì chỉ làm người đi không nỡ, kẻ ở bận lòng.

Hôm rồi nhận được email của một độc giả hỏi mua sách. Cuối thư kèm theo lời chúc “Chúc bác một mùa Vu Lan hiếu hạnh”. Trời đất! Làm gì còn cơ hội mà hiếu hạnh ở đây nữa, hở người bạn độc giả phương xa. Muộn rồi!

Lúc nhỏ nhớ mẹ vì nhu cầu, khi già nhớ mẹ vì hối tiếc. Thế những người lớn còn mẹ thì sao? Tôi ngậm ngùi… chúc các bạn một mùa Vu Lan hiếu hạnh.

Vũ Thế Thành (Vu Lan 2015)

Khung ảnh vượt thời gian: Đại giới đàn năm 1939 tại Tùng Lâm Quán Sứ

Đại giới đàn năm 1939 là Giới đàn lớn và quy mô nhất của Phật giáo Bắc Kỳ và cũng là Phật sự quan trọng Hội Phật giáo Bắc Kỳ giao cho chùa Bồ Đề. Nhiều vị thọ giới Tỳ-kheo, giới Bồ-tát tại giới đàn này sau này trở thành rường cột của Phật giáo Việt Nam.

Đại giới đàn năm 1939 được tiến hành tại chùa Quán Sứ.

Đại giới đàn năm 1939 được tiến hành tại chùa Quán Sứ.

Tổ Trung Hậu Thích Thanh Ất trưởng ban sáng lập trường Thiền Học là Đàn đầu Hoà Thượng ; Yết-ma là Tổ Bằng Sở Chánh đốc giáo; Giáo thọ là Tổ Tế Cát Phó đốc giáo; Tôn chứng gồm các vị: Tổ Phúc Chỉnh, Tổ Hương Tích, Tổ Phù Lãng, Tổ Trừng Mai, Hòa thượng Quế Phương, Cao Đà, Bát Mẫu, cụ Quốc Sư, Hòa thượng Đào Viên Thanh Hóa, cụ Trữ Khê, cụ Háo Xá. Các vị chứng minh Đạo sư: Cụ Liên Phái, cụ Ngũ Xã, Tổ Thiên Phúc, Tổ Bạch Xá.

Đây là đại giới đàn lớn nhất xứ Bắc lúc bấy giờ và cũng là Phật sự quan trọng Hội Phật giáo Bắc Kỳ giao cho chùa Bồ Đề. Nhiều vị thọ giới Tỳ-kheo, giới Bồ-tát tại giới đàn này sau này trở thành rường cột của Phật giáo Việt Nam như quý ngài Tâm Tịch, Tâm Thông, Giải Ngạn, Tâm Giác, Tâm Ấn, Tâm Khoan…Giới Tỷ khiêu có 9 vị: Tâm Tịch (Yên Bái), Tâm Thông, Tâm Minh, Tâm Giác ở Nam Định, Tâm Ấn, Tâm Từ ở Hưng Yên, Tâm Đăng, Tâm Nguyện ở Hà Nam, Tâm Chính ở Ninh Bình và Giải Ngạn ở Quảng Ngãi.

Giới Sa-di có 12 vị: Tâm Nhẫn, Tâm Cố, Tâm Định ở Nam Định, Tâm Từ, Tâm Ấn, Tâm Đạo ở Hưng Yên, Tâm Kiên, Tâm Lạc, Tâm Khả ở Hà Đông, Tâm Tu ở Kiến An, Tâm Khoan ở Thái Bình.

Giới Bồ-tát: Tâm Đăng, Tâm Tứ ở Hưng Yên, Tâm Chính ở Ninh Bình, Giải Ngạn ở Quảng Ngãi, Tâm Cần ở Hà Nam và các già hơn 10 vị.

Ngũ giới: Tâm Hành và hơn 30 vị Ưu-bà-di.

Hành trình vượt qua 128 quốc gia của nhà sư Trần Huyền Trang

Đường Thái Tông từng xưng tán Huyền Trang đại sư là “thiên hạ vô song”. Cuộc đời của Ngài là một nghị lực kiên cường và nhiệt tình không ai sánh bằng, với tinh thần phấn đấu để theo đuổi sự thật của kiếp người và đạt được lý tưởng của riêng mình, đủ để chiếu sáng thiên cổ, người đời sau khó sánh kịp.

Chuyện thầy Trần Huyền Trang (tức Đường Tam Tạng, xem bài 1) đi từ Đông Thổ Đại Đường qua thỉnh Kinh Tây Phương lại là chuyện lịch sử có thật. Trần Huyền Trang là một nhân vật có thật trong lịch sử nhà Đường.

Như đã nói, ông tên thật là Trần Vỹ, sanh vào năm thứ 16 đời Tùy Văn Đế Dương Kiên (596 sau TL) tại huyện Câu Thi (hiện là Huyện Yêm Sư) Tỉnh Hà Nam. Và chuyện thỉnh kinh Tây Phương cũng là chuyện có thật, đã được chính Huyền Trang thuật lại rất cặn kẽ trong bộ “Đại Đường Tây Vực Ký”. Thầy chính là một nhân vật sống đã vào lịch sử một cách vinh quang.

Thầy từng làm tôi cho vua Đường Thái Tôn (Lý Thế Dân) –  bậc minh quân đem lại hiển vinh cho lịch sử Trung Quốc.

Hoá thân Đường Tam Tạng trong phim Tây Du ký.
Hoá thân Đường Tam Tạng trong phim Tây Du ký.

Sự thực thầy Huyền Trang chỉ đi một mình, cỡi một con ngựa già làm chân. Ông đi và ở suốt 17 năm bên Tây phương, gồm 2 năm đi, 2 năm về và 13 năm ở lại du học tại Ấn Độ. Đi từ năm 629 mãi đến năm 645 (sau TL) mới về đến thành Trường an (Trung quốc). Tính ra Huyền Trang đã rời Đại Đường đến 17 năm, đi trên năm vạn dặm đường, qua 128 quốc gia lớn nhỏ.

Khi về, ông đã mang về:

– 150 Xá Lợi tử (Tinh cốt của Như Lai).

– 2 tượng Phật gỗ đàn tô ngân cao 4 thước

– 3 tượng Phật bằng đàn hương : Cao 3th5, 2th9, 2th3

– 657 bộ Kinh, chia làm 520 hiệp

– Cùng một số bảo vật khác nữa, và phải dùng voi, lạc đà và 24 con ngựa mới chở hết.

Trên thực tế, đường đi không có gặp yêu tinh cản trở (có chăng là bọn mọi dữ thích ăn thịt người) nhưng những khó khăn trở ngại cản trở lẫn vật chất và tinh thần lại hết sức nhiều và lớn, nếu là người khác ắt vô phương vượt khỏi.

Có lúc Thầy Huyền Trang nhịn đói nhịn khát suốt bảy tám ngày ròng rã giữa một sa mạc trời nắng chang chang, không một bóng cây, cũng không một bóng người qua lại. Nhưng ý chí của Thầy thật là sắt đá. Có lần đói khát khổ quá, bụng tính quay trở về phía đông để tìm chỗ xin nước uống đem theo rồi sẽ đi nữa, nhưng vừa quày ngựa trở về hương đông đi đặng một đoạn đường thầy lại tự nhủ: “Trước kia, đã thề nếu qua không đến Ấn Độ, quyết không trở về Đông một bước. Nay ta thà đi về hướng Tây mà chết, chớ lẽ nào đi về Đông để sống hèn”.

Một lần khác, thầy gặp bọn mọi ăn thịt người (tức bọn yêu tinh kể trong truyện Tây Du ký). Thầy Tam Tạng sẵn lòng hiến thân cho bọn quỷ khát máu ấy. Nhưng giữa lúc bàn tính, xảy có mưa to sấm sét rất lớn. Bọn người rừng kinh sợ vì cho rằng Trời không bằng lòng. Chúng lật đật giục thầy lên đường, nhưng thầy khăng khăng một mực nài bọn kia: hoặc hãy “ăn thịt Thầy” nếu quả thật thầy có phép làm cho bọn nó sống lâu muôn tuổi, hoặc nếu bọn chúng muốn cho thầy lên đường thì phải ăn năn sám hối, chừa thú tánh, chừa ăn thịt người từ đây. Và rốt cuộc Tam Tạng cải hóa được bọn chúng.

Hơn một ngàn ba trăm năm trước đây dám một người một ngựa vượt suối trèo non, băng sa mạc, càn rừng sâu đi đến xứ Ấn Độ huyền bí xa xăm, Trần Huyền Trang quả là một nhà du thám vĩ đại trong lịch sử.

Tôn tượng nhà sư Trần Huyền Trang.
Tôn tượng nhà sư Trần Huyền Trang.

Kỳ công đó, tinh thần nghị lực đó, người đời sau không thể không nghiêng mình bái phục.

Trong thời gian mười ba năm lưu trú tại Ấn Độ, thầy đi viếng hầu hết các di tích của đạo Phật, đặc biệt nhất là thầy ở lại chùa Na Lan Đà, học đạo trong sáu năm. Tất cả những kinh điển của phái Đại Thừa, Tiểu Thừa, Kinh Phệ đà (Veda), các sách thuốc, sách thiên văn, địa lý, kỹ thuật v v… đều tập trung tại chùa này. Chùa do pháp sư Giới Hiền chủ trì và pháp sư có đến trên mười ngàn tín đồ theo học đạo.

Sau sáu năm học tập, Trần Huyền Trang trở nên một trong ba người học trò giỏi nhất của vị cao tăng Giới Hiền. Theo sách khảo cứu Pháp văn, chẳng những là một nhà sư đạo đức, Huyền Trang còn là một học giả uyên thâm, một nhà du thám kỳ tài, một nhà sử học uyên bác, một nhà địa lý học chơn tài, một nhà ngôn ngữ học xuất chúng, nhứt là một nhà phiên dịch giỏi không ai bằng.

Lúc còn ở Tây Phương, đi đến đâu, thầy cũng nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình từng địa phương. Khi về kinh đô Trường An, thầy viết lại thành bộ Đại Đường Tây Vực Ký, gồm 12 quyển, trong ấy ghi lại đầy đủ lịch sử, địa lý, phong tục, tập quán…của 128 nước đã trải qua hoặc từng trú ngụ.

Ngày nay, những tài liệu của Thầy để lại vẫn còn giúp ích rất nhiều cho các chuyên gia khảo cổ Ấn Độ và bất kỳ ai ngày nay cũng công nhận những điều nghe thấy và ghi chép của thầy Huyền Trang rất là đích xác.

Từ ngày về Trường An, thầy Huyền Trang bắt tay vào công việc phiên dịch. Suốt mười chín năm ròng rã (từ 645-644) thầy dịch được tất cả bẩy mươi lăm bộ kinh, gần một ngàn ba trăm ba mươi lăm quyển từ Phạn tự dịch qua Hán tự và một bộ (Đạo đức Kinh) và một bản dịch “Đại Thừa khởi tín luận” từ chữ Hán ra chữ Phạn, cùng để lại cho đời một bộ “Đại Đường Tây Vực ký” .

Trưa ngày mồng 5 tháng 2 năm 664, sư Trần Huyền Trang gác bút nghìn thu tại chùa Ngọc Hoa, vì bịnh tật và già yếu, hưởng họ 69 tuổi. Ngày 14 tháng 4 cùng năm, thi hài Huyền Trang được an táng tại Bạch Lộc Nguyên. Ngày cử hành tang lễ sư Huyền Trang có đến một triệu người ở Trường An và các vùng lân cận qui tựu để tiễn chân thầy về nơi Cực Lạc. Đám táng xong, có đến ba vạn người cất lều cư tang gần mộ phần.

Từ xưa đến nay chưa có vị đế vương nào được ngưỡng mộ sùng bái bằng vị Thánh Tăng có một không hai này.

Hậu thế tổng kết về cuộc đời sư Trần Huyền Trang

Đường Thái Tông từng xưng tán Huyền Trang đại sư là “thiên hạ vô song”. Cuộc đời của Ngài là một nghị lực kiên cường và nhiệt tình không ai sánh bằng, với tinh thần phấn đấu để theo đuổi sự thật của kiếp người và đạt được lý tưởng của riêng mình, đủ để chiếu sáng thiên cổ, người đời sau khó mà so sánh kịp.

Ngoài tinh thần này, Ngài còn tạo ra thành quả và cống hiến làm cho hậu thế kính phục. Lương Khải Siêu nói rằng “Huyền Trang là bậc công thần số một của Phật giáo Trung Quốc”, Trương Kỳ Vân nói “Huyền Trang là du học sinh gương mẫu nhất”, không ít học giả nước ngoài đối với thành tựu đặc biệt về phương diện địa lý của Ngài vô cùng tôn sùng.

Liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Ngài Đường Tăng có một số phương diện sau để cùng tham khảo và nhận định:

Về phương diện văn hóa học thuật

1. Huyền Trang là nhân vật đắc lực nhất xúc tiến mối giao lưu văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc. Ngài du học ở Ấn 17 năm và tinh thông 5 lọai ngôn ngữ của Ấn Độ (các ngôn ngữ địa phương của đông, tây, bắc, nam, trung Ấn ). Sau khi về nước Ngài sáng lập ra phương thức dịch mới (tân dịch), tổng số kinh điển phiên dịch là 1335 quyển, lại còn phụng mệnh Lão Tử dịch Đạo Đức Kinh thành Phạn văn để truyền sang Ấn Độ.

2. Huyền Trang là vị đầu tiên hiểu đúng và ứng dụng logic học một cách đắc lực trong quá trình học và diễn giải kinh đểin, thời gian du học ở Ấn Ngài rất xem trọng “Nhân minh học”, Nhân minh học là một trong năm loại tri thức của Ấn Độ, cũng là luận lý học hoặc logich học của tất cả học thuyết lúc bấy giờ. Trung Quốc có “Mạc Biện” của phái Mạc Gia được xem là hệ thống luận lý học hòan chỉnh nhất của thời cổ đại, nhưng về sau không có người phát triển và ứng dụng. Ngài Huyền Trang đem Nhân Minh Học từ Ấn về, có thể nói Trung Quốc bắt đầu thu nhập từ nước ngoài một bộ lý luận học hòan chỉnh, mà Ngài Huyền Trang ở Ấn đã học tập nhiều năm nên sớm đã có thể ứng dụng nó vào công việc học vấn.

3. Ngài Huyền Trang là nhà phiên dịch thành công nhất. Lúc hội dịch kinh Huyền Trang phát triển thành có hệ thống và tổ chức. Tổ chức này tuy không phải là Ngài Huyền Trang sáng tạo đầu tiên, mà trải qua thời kỳ dài phối hợp của sự giúp đỡ và chi viện triều đình, tổ chức này tương đối hoàn chỉnh mà công lao rõ ràng nhất vẫn là của Ngài. Ngài Huyền Trang làm chủ dịch, bên dưới có lập các khoa như hội đồng chứng nghĩa, trao chuốt lời văn, đối chiếu phạn văn, viết bản thảo đều do các nhân tài ưu tú của Phật giáo đương thời đảm trách. Phương thức dịch kinh Phật trước Ngài Huyền Trang phần lớn là dịch ý, dịch ý đương nhiên cũng biểu đạt ưu điểm nhất định, nhưng so với nguyên bản ít nhiều cũng có những thêm bớt; nên Ngài Huyền Trang đã cải cách, sử dụng phương thức dịch thẳng, đối chiếu cùng với bản gốc mà không mất đi nghĩa, đã khai sáng kỷ nguyên “tân dịch” cho lịch sử dịch Phật kinh của Trung Quốc.

4. Cống hiến về sử địa học của Ngài Huyền Trang. Ngài nhận được rất nhiều lời ca ngợi của các học giả trong và ngoài nước. Một học giả người Pháp xưng tán “Đại Đường Tây Vực Ký” của Ngài Huyền Trang viết là kim chỉ nam cho cho các học gia nghiên cứu Ấn Độ. Là tài liệu cho các học giả ngày nay chỉnh lý, tìm hiểu, sắp xếp về phương diện lịch sử và địa lý của thế kỷ thứ 7. Tất cả những gì có được hoàn toàn đều nhờ công lao của Ngài.

Về phương diện ngoại giao

Do Ngài Huyền Trang lúc du học ở Ấn đã biểu hiện là một con người vô cùng tuyệt tác lỗi lạc nên rất được chính phủ và toàn dân kính phục. Trong cuộc đại hội Kanykudja thắng lợi, lại càng được minh chủ Giới Nhật Vương đương thời của Bắc Ấn vô cùng khâm phục. Sau khi Ngài về nước Giới Nhật Vương liền phái sứ giả đến Trung Hoa, Đường Thái Tông lập tức ra lệnh Vương Huyền Sách và hơn 20 người đi sứ sang Ấn. Hai nền văn minh cổ đại Ấn Độ- Trung Hoa từ đó giao lưu qua lại.

Về phương diện nhân cách và tinh thần

Ngài Huyền Trang vì mục đích đến Ấn Độ cầu pháp nên không sợ những gian nan mà mạo hiểm tiến bước. Chúng ta thử nghĩ xem, ở trong một sa mạc mênh mông trên không chim bay dưới không thú chạy, cũng không một dấu chân người, chỉ băng tuyết nối tiếp nhau, ở những vách núi cao chọc trời với gió tuyết xen lẫn, cảnh tượng vắng vẻ đến khiếp sợ. Trên lộ trình gặp chổ giặc cướp hoành hành, Ngài Huyền Trang chỉ nương vào một trái tim kiên cường bất khuất mà đi hết hành trình, thật làm cho mọi người khâm phục.

Ân tình pháp lữ

Tựa đề này tôi viết cho một bài tùy bút còn dang dở trong bản thảo vào năm 1993… Cho đến 1995, mái chùa lá Phước Hoa bắt đầu xây dựng bằng bê tông, cốt thép. Lúc đó đại chúng Tăng Ni hai viện Phước Hoa – Phước Lạc là gần 300 vị trong mỗi mùa an cư kiết hạ về…

Rồi hàng loạt các trường cơ bản Phật học được mở cửa khắp các tỉnh thành trong cả nước, thì các huynh đệ dòng Chiếu bắt đầu xuất chúng ra đi tham học, và cũng từ đây bài tùy bút ” ÂN TÌNH PHÁP LỮ ” bỗng hóa thành bài thơ và cho đến năm 2000, điểm mốc quan trọng khó phai trong lòng tôi và các huynh đệ dòng Chiếu đã đi học gần như hết chúng…Còn lại dòng Định, dòng Huyền Quang, dòng Chí Giác, cho đến năm 2003 chuẩn bị cho nội dung chương trình kỷ niệm 20 năm Phước Hoa vào năm 2005. Bài thơ Ân Tình Pháp Lữ được nhạc sỹ Phật Giáo Giác An phổ nhạc với tựa đề: “Tình Pháp Lữ…”

Tháng 5 trở về, từng cánh sen hồng nở rộ, mùa hạ cũng chợt đến chợt đi trong bầu trời xanh biếc với những cơn nắng oi bức, vườn chùa vẫn ung dung ôm nắng hạ vào lòng, từng giọt nắng như lửa đốt xuyên qua tán lá, nhưng cội Bồ Đề vẫn đứng sừng sững mặc dòng đời thăng trầm thay đổi, vẫn thi gan cùng xuân thu tuế nguyệt.

Ôi..! ân đức cao dày của Thầy Tổ đã dày công khai sơn, những giọt mồ hôi công sức hết lòng vì đạo của những huynh đệ đã một thời làm thiền sinh nuôi lớn đạo nghiệp nông thiền tại mảnh đất Phước Hoa, Phước Lạc này

Thế rồi, một thoáng thoi đưa đã hơn 20 năm, các đệ huynh thân thương đã nổ lực mang ngọn đèn thiền tỏa sáng muôn phương …20 năm trôi qua, mặc bao chuyện hợp tan, vô thường biến dịch, huynh đệ vẫn dõng mãnh nuôi lớn ý chí đạo nghiệp Thiền phong để phụng sự nhân sinh trên bước đường hoằng hóa.

Các đệ huynh ơi… Mỗi lần viết lên những dòng tâm sự của mình, khiến tôi nhớ đến lời thơ của Tuệ Đăng:

“Hai mươi năm gió thổi rừng cây

Ai long đong như cánh chim gầy

Một thoáng mây ngàn qua lối cũ

Đường xưa hoa dại ngát hương bay…”

Vâng! Thân thương là thế, ân nghĩa chân tình là thế, giữa cuộc sống đời thường “cô thân vạn lý du” ta hãy cứ cho, cứ ban phát những chất liệu viên dung tròn đầy diệu dụng, để rồi huynh đệ vẫn mãi mãi bên nhau bằng Ân Tình Pháp Lữ, bằng tình cốt nhục Linh Sơn.

Thương gởi tặng các pháp đệ dòng Chiếu, Định, Huyền Quang, Chí Giác và Chí, Hương của nhị viện Phước Hoa – Phước Lạc ca khúc: Tình Pháp Lữ

Thơ: Thích Huyền Lan

Nhạc: Giác An

Trình bày: ca sĩ Giao Linh.

 Thích Chánh Tài

Đọc nhiều

Cần điều tra clip và xử lý cán bộ đòi chôn sống nhà sư.

Giữa lúc cơn khủng hoảng truyền thông Phật giáo đang leo thang vì những bài báo lá cải tiếp tục bồi bút sau khi...

Sự thật về người quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao...

Ngày 13/3/2021, ngay sau khi báo Thanh Niên Online đưa tin: ”Quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao cấu trẻ em:...

Cần Lên Án Báo Tuổi Trẻ Khi Đem Phật Giáo Ra Biếm Họa

Ngày 15/1/2020, Tuổi Trẻ Online đã có sự can thiệp chỉnh sửa lại thông tin đăng tải, buộc lòng phải lên tiếng xin lỗi...

Khai tôn giáo trong căn cước công dân, phải có “giấy chứng nhận xuất...

 Đây là một thắc mắc lớn mà người viết đã nhiều lần đặt ra trong khi trực tiếp thực hiện các thủ tục liên...