Thứ Hai, Tháng Chín 20, 2021

Tín ngưỡng

Tục thờ Thổ Táo và Phật Táo tại tư gia

0

Táo “Đông trù Tư mệnh” được thờ ở dưới bếp còn được gọi là Thổ Táo và “Định phúc Táo quân” được thờ ở trang thờ ở gian giữa nhà chính được gọi là Phật Táo.

Tết là một chuỗi nghi lễ, bao gồm các nghi lễ kết thúc năm cũ gọi chung là chung niên (cuối năm) và các lễ đón mừng tân niên. Một trong những lễ thức quan trọng vào cuối năm là lễ tiễn Ông Táo về trời.

Hăm ba Ông Táo về trời,

Bình vôi ở lại chịu đời đắng cay.

Lễ Tiễn Ông Táo, gọi nôm na là lễ “Cúng Ông Táo”. Ở miền Bắc đa số mọi người đều thờ cúng Ông Táo và Thổ Công nên thường gọi đây là lễ “Cúng Ông Công – Ông Táo”, thậm chí không ít người còn gọi không chính xác là lễ “Cúng Ông Công”.

Có lẽ do tồn tại việc thờ cúng các vị thần Đất/Thổ Công và Ông Táo chung một chỗ nên dẫn đến việc đồng nhất hai vị thần này. Thật ra đây là hai vị gia thần khác nhau. Ông Táo còn gọi là Táo Quân hay Vua Bếp được tôn là “Đệ nhất gia chi chủ” (Đứng đầu trong tất cả các gia thần).

Tín niệm này đã chỉ ra vai trò tối quan trọng của vị thần trong gia đình chứ không chỉ là một việc trông coi củi lửa. Nói chung, tập tục thờ Ông Táo đã không ngừng thay đổi theo thời gian, tạo nên một tập thành tín lý đa tạp khó truy nguyên, song điều rõ rệt là tập tục này khởi đầu từ tín ngưỡng thờ lửa của gia đình.

Sách Khảo luận về Tết của nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng.

Sách Khảo luận về Tết của nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng.

Theo quan niệm của Nho gia, Táo quân là chủ của một gia đình, đứng đầu trong Ngũ tự, tập hợp năm đối tượng thờ tự của mỗi gia đình: Táo (bếp), Tỉnh (giếng), Môn (cổng/ngõ), Hộ (cửa) và Trung lựu (máng xối/giữa nhà).

Theo Lễ Ký, thiên Khúc lễ hạ: Thiên tử tế trời đất, tế bốn phương, tế núi sông, tế ngũ tự; chư hầu tế phương mình ở, tế ngũ tự; đại phu tế ngũ tự; kẻ sĩ tế tổ tiên… Theo Táo quân chơn kinh, trong năm đối tượng thờ tự (Ngũ tự) thì: “Nay bỏ hết bốn, chỉ còn thờ một thần Táo mà thôi vì Lễ Ký nói: “Năng hạn đại hoạn tắc tự chi”, tức vị thần nào hay cứu nạn cả thì được phép thờ. Bởi Ông Táo coi họa phước nội nhà nên nhà nào cũng thờ. Bởi ngài như miệng lưỡi của sao Bắc Đẩu hằng ở phía Đông (cái nhà chái dưới bếp), mà coi lành thì cho phước, dữ thì cho họa”.

Đoạn trích dẫn trên cho thấy lý do tại sao tập tục thờ Ngũ tự ít phổ biến, trong khi tập tục thờ Táo lại có mặt ở hầu hết mọi gia đình.

Đến đây, chức trách của Táo quân từ chỗ cai quản việc củi lửa bếp núc biến thành vị gia thần nắm quyền sinh tử, họa phúc của một nhà: Luôn theo dõi tường tận công tội của từng người để hàng năm lên trời tâu với Ngọc Hoàng.

Mục “Khuyến thiên văn” trong Táo quân chơn kinh viết: “Ta là Đông trù Tư mệnh, hưởng hương lửa mỗi nhà, bảo hộ sự khang thái cho mỗi nhà, giám sát việc thiện ác mỗi nhà, tâu trình công đức, tội lỗi mỗi nhà”.

Sách Khảo luận về Tết của nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng giải thích nguồn gốc các phong tục ngày Tết chủ yếu ở ba miền Bắc, Trung, Nam như các tập tục viết câu đối và chơi chữ, các tập tục kiêng kỵ đầu năm, tục xông đất, tiễn ông Táo về trời…

Sách Khảo luận về Tết của nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng giải thích nguồn gốc các phong tục ngày Tết chủ yếu ở ba miền Bắc, Trung, Nam như các tập tục viết câu đối và chơi chữ, các tập tục kiêng kỵ đầu năm, tục xông đất, tiễn ông Táo về trời…

Thần hiệu “Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân” cho ta thấy Táo quân đã đảm trách cả việc bếp núc lẫn “tư mệnh”, quản lý sinh mệnh của các thành viên trong gia đình, hay hẹp hơn là gia chủ, tức thần Bếp/Táo quân đã gánh thêm công năng mới ngoài công năng nguyên thủy của mình.

Sự tích hợp thêm công năng “tư mệnh” đã chỉ ra xu hướng chuyển đổi tính chất truyền thống của vị thần Bếp này theo đà tiến bộ của con người đã có được khả năng làm chủ ngọn lửa.

Trong xu hướng càng ngày càng thiên trọng công năng phúc thần của Táo quân ở việc tách bạch Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân với Định phúc Táo quân ra thành hai vị gia thần riêng biệt.

Táo “Đông trù Tư mệnh” được thờ ở dưới bếp còn được gọi là Thổ Táo và “Định phúc Táo quân” được thờ ở trang thờ ở gian giữa nhà chính (trên bàn thờ tổ tiên hay trên khung cửa chính của gian giữa nhà chính, ngó mặt vào bàn thờ tổ tiên) – được gọi là Phật Táo.

Thổ Táo coi việc củi lửa bếp núc; Phật Táo theo dõi công tội của con người, đảm nhận việc lên trời (23 tháng Chạp) để tâu báo với Ngọc Hoàng.

Táo “Đông trù Tư mệnh” được thờ ở dưới bếp còn được gọi là Thổ Táo và “Định phúc Táo quân” được thờ ở trang thờ ở gian giữa nhà chính được gọi là Phật Táo.

Táo “Đông trù Tư mệnh” được thờ ở dưới bếp còn được gọi là Thổ Táo và “Định phúc Táo quân” được thờ ở trang thờ ở gian giữa nhà chính được gọi là Phật Táo.

Một Táo đảm nhận việc “ty hỏa” và một Táo là lo việc “đạt thiên”. Kết quả điều tra điền dã ở Nam bộ vào dịp Tết năm 2011 cho thấy các bài vị thờ Táo quân trong hầu hết các gia đình, dù thờ dưới bếp hay trên trang thờ ở nhà trên đều là “Định phúc Táo quân”.

Điều này chỉ ra rằng tín lý thờ ông Táo ngày nay đã nghiêng hẳn về công năng xét tội định phúc và thế nhân đã không màng đến việc cầu vị gia thần bảo hộ gia đình được an toàn bởi tính hủy diệt của lửa, mặc dù họ vẫn bảo lưu tập tục thắp nhang hàng ngày ở bệ thờ ông Táo đặt ở dưới bếp lẫn ông Táo trên trang thờ ở nhà trên; và đến đêm 23 tháng Chạp, gia đình nào cũng làm lễ tiễn ông Táo về trời.

Ông Táo là hiện thân chức năng thông linh giữa con người và thượng giới do biểu tượng chuyển tải của lửa đảm nhận.

Trích: Sách Khảo luận về Tết – Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng

Văn khấn cúng tất niên Tân Sửu 2021 chuẩn nhất

0

Hằng năm, vào chiều 30 tết hay còn gọi là lễ tất niên, các thành viên trong gia đình cùng nhau quây quần, làm mâm cơm thành tâm dâng lên ông bà, tổ tiên…Theo đó văn khấn cúng tất niên là điều không thể thiếu và được nhiều người quan tâm.

Ý nghĩa của lễ tất niên

Lễ tất niên được xem là một nghi thức đánh dấu sự kết thúc của một năm để bước sang một năm mới. Đây được xem là phong tục lâu đời của người Việt.

Vào ngày 30 tết, các thành viên trong gia đình sum họp với nhau, cùng chuẩn bị mâm cơm dâng lên tổ tiên. Với không khí ấm cúng, tràn ngập niềm vui, các thành viên cùng nhau nhìn lại những gì đã trải qua sau một năm làm việc và học tập.

Chiều 30 Tết - lễ tất niên là dịp để các thành viên trong gia đình cùng sum họp, quây quần bên nhau...

Chiều 30 Tết – lễ tất niên là dịp để các thành viên trong gia đình cùng sum họp, quây quần bên nhau…

Cách sắp lễ cúng tất niên

Đồ Lễ: Hương, hoa, nước trà, quả, thực.

– Hương: Các loại hương đốt có hương thơm.

– Hoa: Các loài hoa có hương thơm (không kiêng về tên hoa và số lượng).

– Trà: Nước trà tỏa hương của sáu vị là đắng, cay, chua, chát, mặn, ngọt là sáu vị nuôi sống tất cả chúng sinh.

– Quả: Số lượng tùy ý không kiêng kị 2 quả hay 4 quả. Nên cúng quả đã chín vì có hương từ vị để hương linh thọ hưởng, quả xanh chưa có hương thơm của vị (tránh tình trạng biến ban thờ thành chỗ cất đồ).

– Thực: Hiến cúng Phật bày lễ một bát cơm và một cốc nước. Hiến cúng chư Thiên, chư Thần bày lễ một bát cơm và một cốc nước chè. Hiến cúng gia tiên có một mâm cơm chay, nếu không có đồ chay thì làm một mâm cơm chay đơn giản bao gồm các đồ thức ăn từ rau củ quả, không có thịt của chúng sinh.

Tâm Khi Cúng Lễ: Dùng ba tâm kính Phật, trọng thần, hiếu nghĩa với tổ tiên. Biết ơn Phật đã ban bố chỉ dạy pháp diệt khổ cho chúng sinh. Biết ơn và tôn trọng các vị chư Thiên, Thiện Thần đã ủng hộ cho mình làm các việc thiện. Biết ơn tổ tiên, cha mẹ đã sinh thành dưỡng dục chúng ta, đã tạo duyên cho chúng ta có họ hàng anh em con cái.

Lưu Ý: Các đàn cúng lễ không sát sinh, không đốt tiền vàng, mã, giấy sớ.

Bài văn khấn cúng tất niên là cách để con cháu giao tiếp với ông bà, tổ tiên, những người đã khuất.

Bài văn khấn cúng tất niên là cách để con cháu giao tiếp với ông bà, tổ tiên, những người đã khuất.

Văn khấn cúng tất niên năm 2021

Trong dân gian hiện nay còn lưu truyền nhiều bài văn khấn tất niên, Phatgiao.org.vn xin được trích văn khấn cúng lễ tất niên chiều 30 Tết (Theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam – NXB Văn hóa – Thông tin) để dẫn để độc giả tham khảo:

Bài văn khấn thứ nhất:

Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần)

– Con kính lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu Thổ, chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Kim niên Đương cai Thái Tuế chí đức tôn thần.

– Con kính lạy các ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

– Con kính lạy ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa tôn thần.

– Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ Thổ, Long mạch, Tài thần, Bản gia Táo quân, cùng tất cả các vị thần linh cai quản trong xứ này.

– Con kính lạy chư gia Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Tiên linh nội ngoại họ …

Hôm nay là ngày 30 tháng Chạp năm Kỷ Hợi.

Tín chủ (chúng) con là: …

Ngụ tại…

Trước án kính cẩn thưa trình: Đông tàn sắp hết, năm kiệt tháng cùng, xuân tiết gần kề, minh niên sắp tới.

Chúng con cùng toàn thể gia quyến sắm sanh phẩm vật hương hoa, cơm canh thịnh soạn, sửa lễ tất niên, dâng cúng Thiên Địa tôn thần, phụng hiến Tổ tiên, truy niệm chư linh.

Theo như thường lệ tuế trừ cáo tế, cúi xin chư vị tôn thần, liệt vị gia tiên, bản xứ tiền hậu chư vị hương linh giáng lâm án toạ, phủ thuỳ chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ toàn gia lớn bé trẻ già bình an thịnh vượng, bách sự như ý, vạn sự tốt lành, luôn luôn mạnh khoẻ, gia đình hoà thuận.

Thành tâm bái thỉnh, cúi xin chư vị tôn thần và gia tiên nội ngoại chứng giám phù hộ độ trì.

Nam Mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy).

Bài văn khấn thứ hai: dành cho khấn gia thần vào ngày Tất niên

Theo tục lệ xưa để lại, vào ngày 30 Tết, ngoài việc cúng gia tiên, để lễ tạ gia tiên qua một năm đã phù hộ độ trì cho con cháu, các gia đình và các công ty, cửa hàng thường làm lễ cúng Gia Thần để tạ chỗ “Đất đai” sau một năm làm ăn.

Sắm lễ tùy tâm, cỗ mặn hoặc chay với đầy đủ các món đơn giản như xôi, chè, hương, hoa, trầu cau, quả, tiền vàng, trà rượu… Bàn lễ đặt tại sân hoặc hiên nhà và khi cúng lạy ra phía trước nhà:

Con kính lạy Hoàng Thiên, Hậu Thổ chư vị Tôn Thần.

Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

Con kính lạy ngài Bản gia Thổ địa Long Mạch Tôn Thần

Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Phúc đức Tôn Thần

Con kính lạy ngài tiền hậu Địa chủ Tài Thần

Con kính lạy các Tôn Thần cai quản trong khu vực này.

Tín chủ (chúng) con là: …………………………………

Tuổi: …………………………

Ngụ tại: …………

Hôm nay là ngày…… tháng…… năm…., tín chủ con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, kim ngân trà quả đốt nén hương thơm dâng lên trước án. Qua một năm làm ăn, chúng con xin dâng lễ tạ ơn trên đã phù hộ độ trì cho chúng con mọi sự an lành và may mắn.

Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim Niên đương cai Thái Tuế chí đức Tôn Thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, ngài Bản gia Thổ địa Long Mạch Tôn Thần, các ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Phúc đức chính Thần, các vị Tôn Thần cai quản trong khu vực này.

Cúi xin các Ngài nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con, toàn gia an lạc, công việc hanh thông. Người người được bình an, sức khỏe viên mãn, tâm đạo mở mang.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nghi lễ và tập tục thờ cúng tổ tiên vào thời cổ đại

Vào thời kỳ tiền sử, khi những người Arya Ấn Độ và Ba Tư hình thành một dân tộc riêng, họ đã thực hiện các tế lễ (yajña trong Veda [của Ấn Độ], và rằng họ có một thứ nước thánh (soma trong Veda, haoma trong Avesta), đó là nước ép lên men từ cây soma dùng làm đồ dâng cúng chính.

Nhiều nghi lễ có thể truy trở lại thời kỳ của những người Ấn-Âu ban sơ. Ví dụ, “Những yếu tố và thậm chí toàn bộ nghi thức cưới hỏi được tìm thấy thì giống hệt nhau ở Ấn Độ cổ đại, La Mã, Lithuania và ở trong những người Đức tiền Ki-tô giáo. Nghi lễ nói chung thuộc trong số những truyền thống bền bỉ và cổ xưa nhất của những giống người nói tiếng Ấn-Âu, cổ xưa hơn mọi huyền thoại được ghi chép lại của họ và cổ xưa hơn nhiều thời kỳ Veda.”(1)

ôn giáo Veda là một hệ thống nghi lễ đồ sộ, mà một số trong đó có thể truy trở lại thời kỳ những người Ấn-Âu sơ khai. Những tế lễ được thực hiện ngoài trời hay ở trong một căn nhà được dựng lên cho mục đích tế lễ mà nó nằm gần nhà người thực hiện công việc này. Không có một nơi đặt bàn thờ cố định và cũng không có bất kỳ ngôi đền nào; một bàn thờ được sử dụng cho một nghi lễ. Trong truyền thống Ṛg-Veda, bàn thờ được trải cỏ thiêng để các thần linh có thể đến ngồi trên đó. Ở trên bàn thờ, người ta đặt các đồ cúng; và họ cũng chuẩn bị lửa thánh. Những đồ dâng cúng chủ yếu là sữa, bơ lỏng, ngũ cốc và bánh. Vị tư tế chính (adhvaryu) ném những đồ cúng này vào lửa trong khi lẩm nhẩm những thể thức nghi lễ của mình. Ở một vài thời điểm nào đó trong buổi lễ, vị tư tế tụng đọc các thánh tụng.

Nhiều trong số những đặc điểm này cũng xuất hiện trong Thần đạo, tôn giáo cổ của Nhật Bản đã có mặt trước khi Phật giáo du nhập vào. Nơi nghi lễ của Thần đạo, những đồ dâng cúng như gạo, muối, xa-kê (rượu), thịt, cá, trái cây, rau củ v.v. và cả áo quần được đặt trên bàn thờ. Những vị tu sĩ đọc những lời cầu nguyện (norito) khác nhau.

Ở những buổi tế lễ Soma của Ấn Độ, những tu sĩ thu thập nhánh cây soma, dùng hai mảnh đá ép lấy nước, lọc nước bằng một cái rây, trộn nó với sữa, sau đó rót vào trong những chiếc chậu và bày nó ra bàn thờ cho các vị thần uống. Tế lễ thú vật thường kèm theo cả đồ cúng lửa và nghi lễ Soma. Những súc vật như dê, bò, cừu hoặc ngựa bị giết và cắt miếng ra theo luật lệ và các miếng thịt được bày ra trên bàn thờ, trong khi một số phần được thiêu trong lửa. Thịt sau đó được chia cho người dâng tế lễ và các thầy tế.(2)

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Tế lễ Soma gợi nhắc chúng ta nhớ đến những nghi lễ Bacchus ở Hy Lạp, và sự thực, chúng ta có thể tìm thấy nhiều sự tương đồng với tôn giáo Hô-me. Nghi thức tế đàn bao gồm việc dâng cúng cho thần linh một con thú hay một lễ phẩm là trái cây và ngũ cốc. Tế lễ có thể kèm theo rượu hay không có rượu. Nghi thức tế lễ “…bao gồm cầu nguyện kèm với một ít ngũ cốc, tiếp theo bằng việc thiêu cúng con thú. Một phần thịt được những người thờ cúng nếm qua và sau đó dâng cho thần linh bằng việc thiêu đốt. Phần còn lại được dùng làm cỗ tiệc cùng với rất nhiều rượu.”(3) Những người Hy Lạp cũng có một nghi thức tế lửa, và họ đặt tầm quan trọng vào việc cùng ăn với nhau.(4) Tương tự, người Thương (商) của Trung Quốc cổ đại thường xuyên thực hiện các lễ cúng thần linh. Thú vật thường được sử dụng, nhưng thỉnh thoảng rượu, có thể là một loại bia, được rưới xuống đất. Những tế lễ được thực hiện đối với đất và gió, và với nhiều vị thần thiên nhiên phần nào mơ hồ, cũng như đối với bốn phương chính.(5)

Mặc dù có những sự tương đồng như vậy, chúng ta dĩ nhiên cũng tìm thấy những khác nhau ở trong những ngữ cảnh xã hội mà ở đó những tôn giáo này hành hoạt. Từ khoảng năm 700 tr.TL, đền thờ Thần Apollo tại Delphi trở thành địa điểm chính và là mối liên kết tinh thần mạnh mẽ nhất trong thế giới Hy Lạp. Nhưng ở trong tôn giáo Veda, không hề có thánh địa cụ thể. Trong Ấn giáo, có nhiều thánh địa (tīrtha) được những người hành hương đến chiêm bái, nhưng không hề có sự điều phối trung ương.

Tuy nhiên, việc thiếu hợp nhất trong những người Hindu không có nghĩa rằng ở đó không tồn tại sự kiểm soát xã hội bằng những luật cấm của tôn giáo. Ở những cộng đồng làng xã ban đầu, thế giới trần tục và thế giới thánh thần có rất ít phân biệt. Ở Ấn Độ cổ đại, những Dharma-sūtra, những bản kinh quy định các định chế xã hội, thì không có gì khác hơn ngoài một ngành khoa học về các nghi lễ (kalpa), là một trong sáu ngành khoa học phụ trợ (vedāṅga) của Veda. Những định chế xã hội được xem như một phần của chủ nghĩa nghi thức. Có một sự tương ứng với vấn đề này ở Nhật Bản cổ đại. Từ tiếng Nhật ban đầu chỉ cho việc “điều hành chính trị” hay “cai trị” là matsurigoto, có nghĩa đen là “một vấn đề cúng tế”, hay “nghi lễ tôn giáo”; và miya vừa có nghĩa là “cung điện”, vừa có nghĩa là “miếu thờ”. Hirata Atsutane, nhà Thần đạo nổi tiếng, nói rằng: “Thờ cúng thần linh là điểm khởi đầu của chính phủ, hay nói đúng hơn, nó là chính phủ”. Kiến thức của giới tu sĩ bao gồm sự hiểu biết về xã hội và chính trị.

Ở nơi vòng đời của mình, mỗi người Hindu phải nhận 12 bí tích (saṃskāra), từ thời điểm vị ấy được thụ thai cho đến lúc qua đời. Những bí tích của người Hindu đại khái tương tự với những bí tích của Giáo hội Công giáo La Mã. Lễ rửa tội của phương Tây phần nào tương tự với lễ chào đời (jāta-karman) của người Hindu, saṃskara thứ tư. Tương ứng với việc đặt tên thánh cho đứa trẻ trong Ki-tô giáo, trong Ấn giáo có bí tích đặt tên (nāma-karaṇa). Lễ thêm sức/kiên tín của phương Tây tương ứng với lễ ra khỏi nhà (niṣkramaṇa, mang đưa bé ra khỏi nhà), bí tích thứ sáu của Hindu, và cũng tương ứng với phong tục Miyamairi (bái lễ đền thờ) của người Nhật. Kết hôn là một bí tích dành cho cả tín đồ Ki-tô giáo và Ấn giáo.(6)

Trong văn học Brahmaṇa, tế lễ mang tầm quan trọng rất lớn. Một nhóm tu sĩ đông đảo điều hành một hệ thống nghi lễ quy mô và phức tạp mà nó được gán cho những ý nghĩa mang tính tượng trưng. Trong các Brāhmaṇa, ta có thể thấy các Bà-la-môn không phải là những tu sĩ quá sùng đạo phục vụ thần linh bằng việc cầu xin một cách thành khẩn, mà họ là như những thầy phù thủy, những người bắt ép và đánh đuổi thần linh bằng quyền năng ma thuật của họ. Các Bà-la-môn ở Ấn Độ nghĩ rằng có một mối liên hệ mật thiết giữa tế lễ và quá trình diễn biến các sự kiện tự nhiên. Tế lễ không chỉ tượng trưng và mô phỏng những khía cạnh khác nhau của thế giới tự nhiên, mà còn được xem có thể thay đổi chính tiến trình diễn biến của thế giới tự nhiên. Ví dụ, một thánh điển của Ấn giáo nói rằng: “Vì con người thực hiện tế lửa mỗi buổi sáng, do đó mặt trời mọc lên sáng rực. Ngược lại, nếu họ không thực hiện tế lửa, mặt trời sẽ không bao giờ mọc”.(7)

Ở Trung Quốc cổ đại, một hệ tư tưởng phần nào tương tự được các Nho gia chính thống đặt ra và nó có thể được gọi là một loại “triết học về vũ trụ”, mà theo đó thế giới vi mô và thế giới vĩ mô được thiết lập trên cùng thể thức. Ở Ấn Độ, loại tư tưởng này có thể có nguồn gốc từ Atharva-Veda cho đến Mật giáo (Tantrism) vào những thời kỳ về sau.(8)

Những tu sĩ Ấn Độ cho rằng họ có thể kiểm soát mọi hiện tượng trong vũ trụ bằng việc thực hành các tế lễ đúng cách thức. Tế lễ chính nó có quyền lực vô hạn; ngay cả thần linh cũng bị buộc chặt bởi sức mạnh phi thường được thể hiện trong đó. Họ nghĩ rằng nếu con người cầu khẩn thần linh bằng việc tuân theo những thể thức tế lễ đúng đắn, thần linh bị buộc phải ban tặng ân sủng. Mối liên hệ giữa một vị thần và một kẻ sùng đạo là mối liên hệ của “cho và nhận”.  “Ông ta cúng tế thần linh với lời nói: ‘Ngài hãy cho tôi và tôi sẽ cho ngài; ngài hãy ban tặng cho tôi và tôi sẽ ban tặng ngài!’(9) Tôn giáo của các Brahmaṇa cuối cùng biến mất trong cơ chế nghi lễ tầm thường và những giả tạo của chủ nghĩa hình thức. Bằng việc thực hành tế lễ, họ tìm cách đạt lấy những mục đích cụ thể, đó là mùa màng bội thu, con cái chăm ngoan và khỏe mạnh, tăng thêm lượng gia súc, lành bệnh, có danh tiếng xã hội, v.v… Các Bà-la-môn trở nên nhiệt huyết với những thứ trần tục này.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Ở Hy Lạp, chúng ta có thể tìm thấy một định nghĩa về hạnh phúc mà nó được quy cho Solon và được Herodotus (484?-425 tr.TL) tán thành: “Ông ta có đầy đủ chân tay, một người không biết gì đến bệnh tật, không gặp bất hạnh, hài lòng với con cái và được xem là hòa nhã. Ngoài tất cả những điều này ra, nếu ông ta qua đời một cách an ổn, thì ông ta thật sự là người mà các bạn đang tìm kiếm, người có thể chính đáng được xem là hạnh phúc”.(10) Salon cầu khẩn Muses: “Xin cho con luôn nhận được sự may mắn từ thần linh và có được thanh danh giữa loài người”. Techomachus trong Kinh tế học của Xenophon (Economics of Xenophon, khoảng 434-355 tr.TL) đã liệt kê ra những chủ đề cầu nguyện: “Sức khỏe, sức mạnh thân thể, có danh tiếng tốt trong thành phố, quan hệ hữu hảo với bạn bè, an toàn trong chiến tranh, gia tăng tài sản”.

Chúng ta không thể tìm ra một quan điểm rõ ràng nào về đời sống tương lai trong các Brāhmaṇa. Tái sinh trên trái đất đôi khi được xem như một phước lành mà không phải là một điều xấu cần phải trốn thoát. Nhưng quan điểm át trội nhất là, thực hành tế lễ đảm bảo cho con người sự bất tử trên thiên giới, nơi trú ngụ của thần linh, hay ít nhất có được tuổi thọ. “Người nào thực hiện tế thì sẽ có được danh tiếng và sự thịnh vượng suốt đời; bản thân đạt được sự hợp nhất với hai vị thần, đó là Thần Mặt Trời (Āditya) và Thần Lửa (Agni), và cư ngụ với họ trên cùng cõi trời”.(11) Tuy nhiên, những đoạn khác trong các Brāhmaṇa có liên quan đến vấn đề đời sống tương lai thì bất nhất.

Xa lánh thần linh được xem là tội lỗi.(12) Nhưng có những tội lỗi thuộc đạo đức và có những tội lỗi thuộc nghi lễ.(13) Biết có tội lỗi thì cần phải cúng tế và sám hối (prāyaścitta) đối với Varuṇa, vị thần đáng sợ nhất của những người Ấn vào thời Brāhmaṇa. Về đặc điểm chung của tôn giáo Brāhmaṇa, có người cho rằng “Thời kỳ này, về tổng thể, là một thời kỳ hình thức chủ nghĩa, ở đó người ta thiết tha với việc hoàn thành tế lễ hơn là hoàn thiện tâm hồn của họ”.(14)

Tương ứng với prāyaścitta, lễ “Thanh tẩy lớn” (Oharai) được thực hiện trong Thần đạo hai lần một năm để xóa bỏ những tội chống trái thần linh. Những tội được liệt kê là loạn luân (bên trong những ranh giới hay mối quan hệ hẹp), hành động thú tính, gây tổn thương, và một số liên quan đến hoạt động nông nghiệp. Rõ ràng rằng khái niệm tội lỗi trong Thần đạo Nhật Bản hoàn toàn cụ thể. Ví dụ, một người muốn được trong sạch phải dùng một mẩu giấy nhỏ tạo thành hình của mình và thả xuống một dòng sông để mang tội lỗi của mình đi, như việc dùng dê thế tội (trong lễ xưng tội của người Do Thái). Khái niệm tội lỗi của Thần đạo cho thấy hoàn toàn giống với khái niệm được tìm thấy trong các Brāhmaṇa.

Đời sống kiếp sau

Những người Aryan-Ấn Độ sơ kỳ yêu thích đời sống trần tục. Quan điểm của họ về thế giới không bị làm hoen ố bởi cảm giác u sầu, và họ cho thấy không quan tâm nhiều về tương lai của linh hồn. Họ mong cho mình và con cháu sống lâu trăm tuổi.(15) Họ chỉ có những khái niệm mơ hồ về trời hay địa ngục. Tuy nhiên, họ tin rằng cái chết không diệt mất hoàn toàn. Họ tin rằng linh hồn tiếp tục tồn tại sau khi thân xác, thứ bao bọc linh hồn, chết đi. Người tốt, gan dạ và rộng lượng sẽ được hưởng một đời sống mới hạnh phúc ở một nơi mà linh hồn của người qua đời được chuyển đến sau khi chết. Người ta tin rằng linh hồn của người tốt sau khi chết sẽ đi vào cõi trời ánh sáng của Yama, ở đó họ sống một đời sống sung sướng cùng với tổ tiên (pitaraḥ) của họ.(16) Quốc độ của người chết là ở các cõi trời, và người sắp qua đời được an ủi bằng niềm tin rằng sau khi chết vị ấy sẽ sống với vua Yama ở cõi trời cao nhất. Vị cai trị người chết, Yama trong Veda, con trai của Vivasvat, tương ứng với Yima trong Avesta, con trai của Vihahvant, là người cai quản thiên đường.

Yama và Yamī, em gái của ông, là những người đầu tiên đã đi vào thế giới khác để cai trị nó. Tại nơi ở của Yama, chư tổ tiên, tức là những người đã qua đời, sống một đời sống bất tử sung sướng cùng với Yama: những vui sướng của cõi trời là những vui sướng của cõi trần thế được làm cho toàn mãn và tăng lên thêm. Những người Arya tìm kiếm một đời sống hạnh phúc giác quan bất tử.(17) Họ tin vào khả năng gặp được tổ tiên của họ ở nơi vương quốc của Yama;(18) và nơi chính đời sống này, họ thờ phụng và bày tỏ sự quan tâm nhiều đối với vong hồn của những tổ tiên quá vãng.

Ở Nhật Bản, những thần thoại cổ xưa thường đề cập đến thế giới Yomi (thế giới u tối), xem đó là nơi ở của người chết. Một số thần linh được cho đã đến đó vào lúc chết, nhưng có ít chứng cứ cho thấy rằng người Nhật cổ đại nói chung tin vào một trạng thái hiện hữu tương lai.(19) Tương tự, người Trung Quốc dường như cũng có một khái niệm mơ hồ về việc ban thưởng cho người tốt và trừng phạt người xấu trong tương lai. Không có cõi trời mang nghĩa thiên đường, cũng không có địa ngục mang nghĩa một nơi phán xét cuối cùng.

Trong Ṛg-veda, số phận của người ác được cho sẽ rơi xuống và biến mất ở nơi vực thẳm tăm tối. Varuṇa được cho sẽ đẩy người làm ác xuống vực thẳm tăm tối mà không người nào quay về được. Các thần linh thỉnh cầu Indra đem lại bóng tối cho người xúc phạm việc thờ phụng thần.(20) Tuy nhiên, không hề có dấu vết được tìm thấy liên quan đến niềm tin vào luân hồi, điều quá nổi bật trong tư tưởng triết học của người Ấn về sau. Về thuyết mạt thế của Ṛg-veda, một học giả nói: “Ở nơi những yếu tố cốt tủy nhất của chúng, những quan điểm về đời sống tương lai này không chỉ của Veda mà chúng là di sản chung của “bảy” chủng tộc Arya. Chúng vẫn tiếp tục tồn tại ở nơi những người Ba Tư (Persia) trong một hình thức được làm cho vững chắc thêm, và rõ ràng đã được thay đổi theo cùng khuynh hướng, mà rất ít được sửa đổi bằng những quan niệm đối lập. Và khi chúng ta thấy những cuốn sách Hê-brơ cổ nhất cho thấy có ít dấu vết về một đời sống tương lai bất tử, điều trở thành rất phổ biến trong những người Do Thái sau khi bị giam cầm ở Mesopotamia, và dường như rằng không có bộ tộc Xê-mít nào khác đã sáng tạo ra quan điểm đó, câu hỏi tự nhiên xuất hiện trong đầu chúng ta là, có phải là chúng ta đã không bắt gặp ở nơi những niềm tin Arya này nền móng của một công trình lớn, nền móng của niềm tin vô cùng mạnh mẽ vào sự bất tử của linh hồn mà nó đã đóng vai trò rất to lớn trong việc định hình nên châu Âu ngày nay”.(21)

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Thờ cúng tổ tiên

Những người du mục hay những người chăn nuôi gia súc hiếm khi thực hiện việc thờ cúng tổ tiên. Nhưng ở đâu xuất hiện sự định cư và ở đâu đất đai được con cháu thừa hưởng, phong tục thờ cúng tổ tiên thường được tìm thấy và những nghi lễ của phong tục này thường được phát triển thành một thể thức chi tiết và phức tạp.

Ở Ấn Độ, những linh hồn tổ tiên (pitara) được thờ phụng và an ủi. Họ được nói đến trong những thánh tụng(22) được sáng tác vào giai đoạn cuối của thời kỳ liên quan đến Ṛg-veda. Vị chúa tể của những linh hồn tổ tiên này là Yama. Ông cai trị cảnh giới của người chết, cho đến cả cõi trời cao nhất. Về nguồn gốc, ông được đồng nhất với Yimi, mà ở trong Avesta được cho là con người đầu tiên, thủy tổ của loài người. Vì là người chết đầu tiên, ông trở thành vua của cảnh giới người chết.

Những Pitṛ, những tổ tiên đã qua đời, giữ một vị trí quan trọng ở trong đời sống của người Hindu. Cúng tế cho những vong hồn (pitṛyajña) là bổn phận quan trọng nhất của người gia chủ. Trong những thánh tụng Veda, Pitṛ được xem là bạn đồng hành của thần linh và được cầu khấn cùng với thần linh.(23) Họ sống với các vị thần ở cõi trời cao nhất. Họ nhận những lời cầu nguyện và đồ cúng làm thức ăn. Người ta cúng tế với hy vọng rằng vong hồn tổ tiên sẽ can thiệp và bảo vệ họ. Vong hồn tổ tiên có khả năng gây hại cho con cháu của họ nếu con cháu họ phạm lỗi chống trái tổ tiên. Họ có thể ban sự giàu có, con cái, và thọ mạng lâu dài cho những con cháu biết tuân theo lề lối của họ. Việc tế tự tổ tiên (pitṛyajña) được xem quan trọng hơn việc thực hành theo con đường của chư thiên (devayāna: thiên đạo).

Việc cúng tế cho những vong hồn tổ tiên rõ ràng hơn ở nơi đời sống xã hội và tôn giáo của người Hindu vào những thời kỳ về sau. Nó được thực hiện đều đặn không chỉ vào những thời điểm được định trong năm mà cũng vào những dịp lễ quan trọng, chẳng hạn như lễ đánh dấu sự trưởng thành, lễ kết hôn, v.v… Không cầu xin ân điển của vong hồn tổ tiên, người ta sẽ không thể hoàn thành những bổn phận gia đình này một cách hợp thức. Tầm quan trọng gắn liền với việc cúng tế tổ tiên (pitṛyajña) vào thời cổ xưa vẫn được duy trì ở nơi đời sống người Hindu ngày nay.

Như được biết, linh hồn giữ một vị trí quan trọng ở trong tôn giáo Trung Quốc ban sơ.(24) Bên cạnh Trời, sự ảnh hưởng của vong hồn được xem là điều quan trọng nhất trong việc quyết định tương lai. Người ta cúng tế định kỳ để làm vui lòng tổ tiên quá vãng để con cái họ có thể có được sự thịnh vượng, tuổi thọ, hạnh phúc và an bình, v.v… Con đường tổ tiên được xem là “con đường thẳng” (直路/trực lộ) mà con cháu họ cần đi theo.

Nhiều thông tin về cúng tế vong hồn được tìm thấy trong những bài thơ cổ được lưu giữ ở trong Kinh Thi:

“Ôi, tổ tiên vinh hiển

Phúc đức thật bao la

Quà tặng nhiều vô tận

Họ cần đến chúng ta.

Hãy mang cho họ rượu

Chiến thắng họ sẽ ban

Đây canh nêm nấu kỹ

Xào trộn đã sẵn sàng… 

Thịnh vượng từ trời xuống.

Được mùa, sống sung túc.

Họ đến họ nhận lấy

Ban vô lượng phước đức”.(25)

Như vậy, không chỉ vì thọ mạng lâu dài và sự thịnh vượng mà người ta cúng tế tổ tiên; mùa màng bội thu cũng tùy thuộc vào sự tử tế của họ. Họ phải dâng cúng tất cả những thứ tốt nhất mà họ có; trước hết là trái cây, rồi thức ăn đồ uống ngon; những con thú béo tốt nhất cũng dành cho cúng tế, v.v… Một số thông tin liên quan đến những thủ tục cúng tế cũng có mặt trong Kinh Thi. Chúng ta được cho biết rằng một người trong khi cúng tế tổ tiên của họ đã dâng dưa chuột, lông, máu và mỡ của một con bò bị giết. Vị ấy dùng rượu thơm làm rượu cúng. Lông của con thú được dâng cúng để chứng minh rằng con thú đó thuần chủng. Máu của nó được dâng cúng để thể hiện rằng con thú đó đã thực sự bị giết. Rượu thơm được dâng cúng để mùi thơm của nó có thể cuốn hút tổ tiên đến nơi cúng tế.(26)

Ở Trung Quốc thời nhà Thương, có một vị thần quan trọng được gọi là Đế (帝) hay Thượng Đế (上帝). Có lẽ Thượng Đế đơn thuần tượng trưng cho vị “tổ tiên đầu tiên”. Việc thờ cúng tổ tiên của truyền thống Trung Quốc có niên đại trở lại thời kỳ sơ khai này. Nhiều lời bói được ghi trên xương (甲骨)(27) có liên quan đến việc giúp đỡ hay gây hại của một người quá cố nào đó đối với con cháu đang còn sống của vị ấy.(28) Vào thời nhà Chu, những hoạt động lễ hội chính của nhà nước tập trung quanh những ngôi từ đường của vua. Việc cúng tế cũng được thực hiện đối với người được cho đã sáng lập triều đại cầm quyền này là Hậu Tắc (后稷), người rõ ràng là một vị thần nông nghiệp.(29) Tuy nhiên, thông tin về việc thờ cúng tổ tiên của Trung Quốc cổ đại (trước Khổng Tử) hầu như liên quan đến tầng lớp cai trị; việc thực hành trong quần chúng thì không rõ ràng. Chỉ vào những thời kỳ về sau việc thờ cúng tổ tiên trong dân chúng mới được ghi nhận.

Ở Nhật Bản, việc thờ cúng tổ tiên không thể hiện rõ ở trong Thần đạo sơ kỳ. Chỉ lễ cúng uji-gami (氏神/thị thần) là điều có thể so sánh với việc thờ cúng tổ tiên. Thần thoại Nhật Bản đồng nhất nhiều vị thần với chư tổ tiên của thị tộc (uji), và cuối cùng, những nhân vật lịch sử hay thần thoại khác nhau đã được sáp nhập vào trong đó. Về sau, việc thờ cúng tổ tiên trở nên phổ biến trong quần chúng và trở thành một nét đặc trưng của người Nhật.(30) Vào thời cổ xưa, chức vụ thủ lĩnh địa phương và quan lại triều đình được thừa kế theo kiểu cha truyền con nối trong một số dòng họ. Kết quả là tên gọi chính thức của những chức vụ do các gia đình nắm giữ thì giống với tên của dòng họ. Mỗi dòng họ hay thị tộc này có vị thần riêng của họ, được gọi là uji-gami (氏神), và các thành viên trong dòng họ đó thỉnh thoảng tụ họp lại để cúng bái vị thần ấy.

Không có đủ chứng cứ để chứng minh rằng việc thờ cúng tổ tiên tồn tại vào thời của Hô-me (Homer), nhưng dường như rằng phong tục thờ cúng một vị anh hùng hay tổ tiên của đất nước đã xuất hiện. Chứng cứ sớm nhất mà chúng ta có về tập tục này có niên đại khoảng 700 tr.TL, nhưng có lý do rõ ràng để tin rằng việc thờ cúng những vị tổ tiên anh hùng đã là một phần của tôn giáo tiền Hô-me. Việc phục vụ chu đáo người chết được xác chứng vào thời kỳ Mycenae qua những ngôi mộ được phát hiện tại Tiryns và Mycenae. Nhưng Hô-me dường như cố ý bỏ qua đặc điểm thiêng liêng của việc thờ cúng này.(31) Vào thời kỳ khi Hy Lạp cổ đại có những quan niệm và khuynh hướng rõ ràng (khoảng 900-500 tr.TL), tập tục thờ cúng những vị anh hùng hay tổ tiên của đất nước (hay bộ tộc, thị tộc) mới được thiết lập.

Chú thích:

(1) Daniel H. H. Ingalls trong Journal of the American Oriental Society, vol. 77, 1957, p.22. Tham chiếu M. Winternitz, A History of Indian Literature, Calcutta, University of Calcutta Press, vol. 1, 1927, pp.272-275.

(2) John Nicol Farquhar, An Outline of the Religious Literature of India (London: Oxford University Press, 1920), p.14.

(3) Martin P. Nilson, Greek Folk Religion (New York, Harper and Brothers, 1961), p.105.

(4) Jane Ellen Harrison, Themis, A Study of the social origins of Greek Religion. Cleveland and New York, the World Publishing Company. Meridian Books, 1962, pp.133-139.

(5) Reischauer and Fairbank, East Asia, the Great Tradition, p.46.

(6) Tham khảo Manu, II, 27, f.

(7) ŚBr., II, 3, I, 5.

(8) J. Przyluski and M. Falk, “Aspects d’une ancienne psycho-phisiologies dans I’Inde et en Extreme-Orient”, Bulletin of the School of Oriental Studies, University of London, 1938, pp.223-288.

(9) Vājasameyi-Saṃhitā, III, 50; tham khảo ŚBr., 5, 3, 19.

(10) 1-32, Herodotus, History. A new English version, edited with copious notes and appendices, by George Rawlinson, assisted by Henry Rawlinson, and J.G. Wilkinson. New ed. London, J. Murray, 1862, p.142.

(11) ŚBr., XI, 6, 2, 5.

(12) Ṛg-Veda, VII, 86, 6; tham chiếu VII, 88, 5;6.

(13) Ṛg-Veda, I, 23, 22; I, 85.

(14) S. Radhakrishnan, Indian Philosophy, op. cit., vol. 1, p.136.

(15) Ṛg-Veda, X, 18.

(16) Ṛg-Veda, X, 14, 10.

(17) Ṛg-Veda, IX, 113, 7-11; Atharva-veda, IV, 34, 2-4 và những đoạn khác, được trích từ Original Sanskrit Texts của J. Muir (Reprint Amsterdam: Oriental Press, 1967), vol. V, p.306 f.

(18) Ṛg-veda, I, 24, 1; VII, 56, 24.

(19) Kojiki-den, vol. 2. (Motoori Norinaga Zenshū, edited by Hoei Motoori, vol. 1, p.150). Giải thích của Motoori Norinaga được Hirata Atsutane, một học trò của ông, thừa kế và nói đến ở trong tác phẩm Kodō Taii (Hirata Atsutane Zenshū, edited by Mannen Ueda Tokyo: Naigai Shoseki Co., 1932, vol. 7, p.37).

(20) Ṛg-veda, X. 132, 4; IV, 5, 5; IX, 73, 8; X, 152, 4.

(21) T.W. Rhys Davids, Lectures on the origin and growth of religion as illustrated by some points in the history of Indian Buddhism (2nd ed., London, Williams and Norgate, 1891), pp.16-17.

(22) Ṛg-veda, X, 15, 54.

(23) Ṛg-veda, X, 15.

(24) Theo Prabodh Chandra Bagchi, India and China, A thousand years of cultural relations, 2nd ed. Bombay, Hind Kitabs, 1950, pp.183-184.

(25) Ode, số 204, theo bản tiếng Anh của Arthur Waley.

(26) P.C. Bagchi, India and China, p.183.

(27) Giáp cốt: Là những thanh xương vai của con bò hay mai rùa được sử dụng cho việc xem bói vào thời nhà Thương (khoảng 1600-1046 tr.TL) (ghi chú của người dịch Việt).

(28) Reischauter and Fairbank, East Asia, pp.46-47.

(29) Ibid., p.50.

(30) “… Quan trọng nhất trong những tình cảm đạo đức của Thần đạo là thái độ yêu thương đối với quá khứ, một tình cảm không hề có sự tương ứng thật sự ở nơi đời sống tình cảm của chúng ta. Chúng ta biết về quá khứ của mình rõ hơn người Nhật biết về quá khứ của họ; chúng ta có vô số sách vỡ ghi chép lại quá khứ và tình trạng liên quan của nó, nhưng trong mọi ý nghĩa, chúng ta không được bảo phải yêu thương hay cảm thấy biết ơn quá khứ. Có những thừa nhận mang tính phê bình về sự tốt đẹp lẫn những khuyết điểm của quá khứ; có vài sự hân hoan hiếm hoi được gợi lên bởi những mặt tốt của quá khứ; có nhiều lên án mạnh mẽ về những sai lầm của nó. Những điều này thể hiện toàn bộ suy nghĩ và tình cảm của chúng ta về quá khứ. Thái độ học thuật của chúng ta trong việc xem xét quá khứ là tất yếu hờ hững; thái độ nghệ thuật của chúng ta, thường khoan dung hơn; thái độ tôn giáo của chúng ta phần lớn là lên án”. (Lafcadio Hearn, Some Thoughts about Ancestor-Worship).

(31) ERE, VI, 398 b.

Hajime Nakamura

(Nguồn: Hajime Nakamura, A Comparative History of Ideas, Motila Banarsidass, Delhi 1992, tr.35-43)

Theo: Nguyệt san Giác Ngộ

Hiện tượng nhớ về tiền kiếp: Bí ẩn và những giải mã ban đầu

Năm 20 tuổi, cô gái Elina Markand (người Đức) bị tai nạn. Khi tỉnh dậy, Elina bỗng nói tiếng Italy rất thông thạo, mặc dù trước đó cô chưa từng học một ngoại ngữ nào. Cô còn tự nhận mình là Rozetta Caste Liani, công dân Italy, và yêu cầu được trở về thăm quê hương.

Về tới “nhà”, Elina mới biết rằng người có tên Rozetta Caste đã mất từ năm 1917. Đón cô là một bà già lụ khụ, xưng là con gái của Rozetta Caste. Elina chỉ tay vào bà già, nói: “Đây là Fransa, con gái tôi!”. Lúc ấy, tất cả mọi người đều giật mình, vì người đàn bà này quả thực tên là Fransa, đúng như Elina gọi.

Câu chuyện của Elina Markand đã trở thành đề tài đầy hấp dẫn cho giới khoa học. Thực tế, trong lịch sử từng có không ít trường hợp tương tự, và hiện tượng “nhớ về quá khứ” không nhất thiết phải bắt đầu từ một chấn thương nào đó, như trường hợp của Elina Markand.

Vào thập niên trước, một cô gái nhỏ người Anh đã biến thành “một người xa lạ” sau khi tỉnh dậy một buổi sáng. Em không nhận ra mẹ và người thân của mình, không nói được tiếng mẹ đẻ trong khi lại thông thạo tiếng Tây Ban Nha, và lúc nào cũng tỏ ra sợ sệt.

Trường hợp nhớ về tiền kiếp của bé gái người Anh rõ ràng không hề có quan hệ nào về “gene di truyền” với người mà mình hoá thân. Ảnh minh họa.

Trường hợp nhớ về tiền kiếp của bé gái người Anh rõ ràng không hề có quan hệ nào về “gene di truyền” với người mà mình hoá thân. Ảnh minh họa.

Các bác sĩ đều có kết luận giống nhau: Em bé 10 tuổi này không có biểu hiện gì về bệnh lý hoặc tâm thần, sức khoẻ tốt. Em nhận mình là người Tây Ban Nha và sống ở thành phố Toledo. Em kể lại rằng một người cùng phố do ghen ghét và đố kỵ đã đâm chết em năm em 22 tuổi. Cảnh sát Tây Ban Nha đã thẩm tra lại câu chuyện kỳ quặc về “tiền kiếp” của em, và kết luận, đúng như lời em kể. Ở số nhà đó trong thành phố Toledo từng có một cô gái 22 tuổi bị hãm hại. Những người hàng xóm đã tìm thấy xác cô ngay trong nhà. Câu chuyện càng sáng tỏ hơn khi hung thủ (lúc này đã già) tự đến gặp cảnh sát để thú tội.

Các nhà khoa học còn tiếp tục ghi nhận nhiều trường hợp khác. Chẳng hạn có người đột nhiên “biến” thành công dân La Mã cổ đại, và bằng chứng khó chối cãi là anh ta biết sử dụng được thứ ngôn ngữ “nguyên thủy” của mình, không còn ai hiểu nữa. Tương tự như vậy, có người châu Âu bỗng nói tiếng Ai Cập, mất hẳn khả năng dùng tiếng mẹ đẻ. Rồi anh ta mô tả chính xác cảnh vật ở vùng sông Nile, và tự nhận có nguồn gốc Ai Cập.

“Trí nhớ gene”

Một số nhà khoa học đã thử đưa ra một lý thuyết giải thích hiện tượng trên với khái niệm “trí nhớ gene”: Nếu các vùng “ngủ” trong ADN bị kích thích, con người có thể “trở về tiền kiếp”. Họ bỗng nhớ lại gốc gác La Mã hoặc Ai Cập từ xa xưa. Cũng do ảnh hưởng bởi tiền kiếp mà nhiều người có thói quen xoa râu quai nón, mặc dù trên mặt không hề có râu. Người khác lại có thói quen nhấc vạt áo vét, y như động tác vén váy dài đang mặc khi vượt qua vũng nước.

Nhưng ở cô Elina người Đức và bé gái người Anh thì rõ ràng không hề có quan hệ nào về “gene di truyền” với người mà mình hoá thân, có nghĩa là trường hợp của họ không thể giải thích bằng “trí nhớ gene”. Vậy nó là thế nào? Ở châu Á, người ta rất quen thuộc với thuyết luân hồi của Phật Giáo, cho rằng thể xác con người – tức là cái “bề ngoài” – luôn thay đổi. Còn cái “bên trong thể xác” – tức linh hồn – là vĩnh cửu. Theo thuyết luân hồi, cuộc sống không khởi đầu bằng sự sinh ra, và cũng không kết thúc bằng cái chết. Cuộc sống cứ trôi vô tận. Linh hồn ở mỗi “kiếp” lại nhập vào một thân xác mới. Vì thế, sẽ không lạ khi cô Elina và bé gái người Anh đột nhiên nhớ lại kiếp trước của mình.

Thuyết về kết cấu “phách”

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Lại có một số nhà vật lý và sinh học đưa ra cách giải thích vấn đề trên bằng “kết cấu phách”. “Phách” ở đây tất nhiên không phải là “phách” trong âm nhạc, mà là một khái niệm chỉ “phần bất biến” của con người, còn được hiểu là “phần năng lượng tách ra dưới dạng sóng”. Khi người chết, “phách” liền tan vào vũ trụ. Vì thế, “phách” có thể hiểu là một loại “trường sóng hạt cơ bản nhẹ”, hoặc là “tập hợp những năng lượng thông tin cá thể”.

Theo các nhà khoa học này, thuyết về phách có thể lý giải được đa phần hiện tượng thần đồng (trong âm nhạc, thi ca, khoa học…). Ở tuổi rất trẻ, những thần đồng này đã tích tụ được lượng kiến thức khổng lồ mà người bình thường cả đời cũng khó có được. Theo thuyết này, “phách” của các thiên tài là sản phẩm của hàng vạn kiếp trong quá khứ dồn lại trong một cơ thể hiện hữu. Nói cách khác, “trường sóng hạt cơ bản nhẹ” hay những “tập hợp thông tin cá thể” đã tập trung vào cơ thể họ theo một quy luật nào đó.

Nhiều nhà khoa học đã mạnh dạn đề cập tới những khái niệm rất mới về hiện tượng “nhớ về quá khứ”. Họ đã lập ra một “quy trình công nghệ” cho phép bằng thực nghiệm đưa con người vào trạng thái giữa mơ và thực. Ở trạng thái lơ lửng kỳ ảo này, người tham gia thực nghiệm vẫn nhìn thấy những gì quanh mình, nhưng trong tiềm thức, họ lại thấy cả quá khứ. Phương pháp thực nghiệm này đã được áp dụng để chữa một số bệnh tâm thần và đem lại kết quả.

Mặc dù đã có những thành tựu nhất định, nhưng đến nay, những chuyện về “siêu trí nhớ” gần như vẫn nằm ngoài vòng nghiên cứu của khoa học chính thống. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là nhân loại chịu bó tay để tự rơi vào vòng “bất khả tri”, các nhà khoa học vẫn đang tìm cách để giải thích những điều khó giải thích nhất.

Theo cuốn “Bí ẩn nhân loại”, NXB Từ điển Bách khoa

Bốn nghi thức cầu cúng ở đền Kiếp Bạc

0

Người Việt vẫn tin Hưng Đạo Đại Vương  là Ngọc Hoàng thượng đế dưới trần. Từ đó tạo nên một dòng đạo Nội – Đạo Thanh đồng, mà ngài là giáo chủ.

Đến lễ đền, họ cầu ngài phù hộ:

1- Cầu phúc, tránh hoạ;

2-Trừ tà sát quỷ ;

3- Được hầu Thánh;

4-Xin ấn.

1. Phổ biến nhất, là việc cầu tự (cầu được có con). Tương truyền, người đến cầu con khi đến Đền, nếu “Vào cửa cha, ra cửa mẹ” (Dưới pho tượng đồng của đức Thánh Trần và đức Quốc mẫu có cửa chui qua) hay xin một ít đất ở mô cao sau Đền thì thế nào cũng sẽ được thoả nguyện. Ngoài việc cầu con, trong dân gian, nhà nào “hữu sinh vô dưỡng” thì họ làm lễ bán khoán vào Đền. Đến năm đứa trẻ 12 tuổi thì gia đình biện lễ chuộc con về. Họ tin rằng, làm như thế đứa trẻ mới được bình yên vô sự. Họ tự nguyện, thành tâm đầu năm đến Đền làm lễ cầu an, cuối năm lễ tạ.

Nghi thức “tế đảo cầu mưa”. Từ xưa đến nay, vẫn được duy trì.

Phần lớn khách đến lễ để cầu bình an, học hành hiển đạt, làm ăn phát tài, tránh được mọi điều xui xẻo.

2. Phan Huy Chú viết sách Lịch triều hiến chương loại chí :

“Trong nước hễ có đàn bà bị Bá Linh ám ảnh, gọi là ma Phạm Nhan, người ta thường đem chiếu đổi lấy chiếu của đền (đền Kiếp Bạc) về trải giường cho bệnh nhân nằm thì khỏi ngay”.

Trong ngày hội, cả ngày thường, những phụ nữ vô sinh, hiếm muộn hoặc là mắc các chứng bệnh đàn bà…, người ta đến đền cúng bái. Thầy cúng (có thể là thầy phù thuỷ) dùng roi dâu đánh vào người đàn bà, người ấy lăn lộn, thậm chí lăn xuống sông, thì coi như tà ma đã được trừ (niềm tin từ chuyện Đại vương chém Phạm Nhan).

Người ta tin rằng, Đức Thánh Trần trừ diệt được Phạm Nhan thì mọi tà ma đều được trừ diệt.

Có một niềm tin linh thiêng, “mỗi khi có giặc, làm lễ cáo ở đền, nếu kiếm trong hòm có tiếng kêu thì thế nào cũng thắng trận”.

Dùng thuốc ở Nam Tào (Dược Sơn) uống rất là hiệu nghiệm.

3. Hầu Thánh để được trình diễn, được xem múa hát, để được “ban” một ít lộc, vì  “Một miếng lộc Thánh bằng một gánh lộc trần”.Ngoài các giá hầu đức Thánh Trần, còn có “văn chầu Nhị vị công chúa”, “văn ông đệ Tam cửa Suốt” (con trai thứ 3 của Hưng Đạo Vương), “văn đức Thánh Phạm” (tướng quân Phạm Ngũ Lão) và các giá chầu ông, chầu bà, chầu cô, chầu cậu.

4. Ở đền Kiếp Bạc hiện có 4 chiếc ấn bằng đồng.

–  Triều triều Hưng Đạo vương chi ấn (ấn của Hưng Đạo vương triều Trần).

– Quốc pháp Đại vương (Đại vương nắm (giữ) phép nước);

– Vạn Dược linh phù (Bùa thiêng Vạn Dược);

– Phi thiên thần kiếm linh phù (Bùa thiêng phi thiên thần kiếm).

Theo lệ cổ, trước ngày giỗ đức Thánh Trần, chính quyền sở tại cùng thủ từ làm lễ đóng ấn vào một tấm lụa màu vàng để ban cho người tham gia lễ hội.

Tín ngưỡng thờ thần ở Việt Nam, có lẽ không có vị thần nào được nhiều nơi thờ như đức Thánh Trần. Nơi được coi là thiêng liêng nhất là đền Kiếp Bạc. Hàng năm, vào dịp 20 tháng 8 (Âm lịch) – ” tháng Tám giỗ Cha”, nhân dân ở mọi miền đất nước về đền Kiếp Bạc cầu cúng.

 

Nguyên nhân và giải pháp chuyển hóa mê tín

0

Chúng ta muốn sống trong một xã hội văn minh, lành mạnh và bền vững lâu dài, mọi người cần phải tin sâu nhân quả, tin mình có đủ khả năng làm chủ bản thân, mọi việc tốt xấu, nên hư thành bại đều do mình tác tạo…

Đạo Phật chủ trương lấy nhân quả làm nền tảng của sự sống để phản ảnh mọi lẽ thật hư trong cuộc đời này bằng ánh sáng trí tuệ, nhằm thấu suốt nguyên lý thế gian. Mọi lẽ thật giả đều hiện bày sau khi có sự chiêm nghiệm và suy xét bởi ánh sáng giác ngộ, nhận thấy lẽ thật rồi mới khởi lòng tin đó là “chánh tín”. Ngược lại, tin mà không hiểu rõ cội nguồn của mọi lý lẽ là tin càn tin bướng, người tin như thế là “mê tín”.

Chính vì thế, người học đạo cần phải có lòng tin, song lòng tin ấy đã trải nghiệm qua sự quán chiếu, suy xét và có chọn lọc kỹ càng. Đại đa số người dân và phật tử miền Bắc vì chưa tin sâu nhân quả, đi chùa không chịu học hỏi đạo lý làm người. Chỉ ỷ lại sự cầu cúng vô căn cứ do sự phán đoán của các thầy bói, thầy toán, tà sư, ngoại đạo mà ra.

Mê tín là lòng tin mù quáng không thấy đúng lẽ thật, không thấy đúng chân lý vì mê muội. Như tin ông đồng bà cốt, tin xin xăm bói quẻ, tin ngày lành tháng dữ, tin số mạng sang hèn, tin coi tay xem tướng, tin cúng sao giải hạn, tin có một người ban phước giáng họa… Những lối tin này không có logic, không đủ sở cứ, không có lợi ích, nên gọi là mê tín, vì đi ngược lại với giáo lý nhân quả.

Đạo Phật chủ trương lấy nhân quả làm nền tảng của sự sống để phản ảnh mọi lẽ thật hư trong cuộc đời này bằng ánh sáng trí tuệ, nhằm thấu suốt nguyên lý thế gian.
Đạo Phật chủ trương lấy nhân quả làm nền tảng của sự sống để phản ảnh mọi lẽ thật hư trong cuộc đời này bằng ánh sáng trí tuệ, nhằm thấu suốt nguyên lý thế gian.

Nỗi sợ hãi của con người là lợi dụng mê tín, tuyên truyền mê tín, nuôi sống mê tín dưới nhiều hình thức. Những kẻ truyền bá mê tín thường khai thác sự sợ hãi của người khác để trục lợi. Từ đó, tạo ra tình trạng tiền mất tật mang, khủng hoảng về tâm lý mà đánh mất tự chủ. Có một số người truyền bá mê tín không vì mục đích lợi nhuận hay lừa đảo, mà chỉ để làm cho mình được nổi tiếng…

Lẽ vậy, chúng ta cần tin sâu nhân quả và biết cách làm chủ bản thân từ ý nghĩ, lời nói cho đến hành động trong từng phút giây, bởi vì mình làm lành được hưởng phước, làm ác chịu khổ đau. Rất mong mọi người cùng tham khảo và suy xét để có hiểu biết chân chính mà ngày càng sống an vui hạnh phúc hơn.

Để đẩy lùi tệ nạn mê tín, dị đoan đã ăn sâu vào lòng người do một số người có chức quyền và lợi ích nhóm lạm dụng và kết hợp với một số tu sĩ có trọng trách trong giáo hội không phải là việc dễ dàng chuyển hóa và dứt bỏ. Đền là nơi thờ cúng những người có công với đất nước đã trở thành nơi buôn thần bán thánh dưới nhiều hình thức gắn mác di tích, một số chùa treo bảng cúng sao giải hạn công khai lấy đó làm kế sống. Chỉ khi nào tu sĩ và người phật tử thật sự tin sâu nhân quả và thấm nhuần chính pháp Phật đà, thay đổi tư tưởng, suy nghĩ, thói quen; sống lương thiện, chân thành, nhân ái, trở thành chuẩn mực đạo đức xã hội, thì khi đó các tệ nạn mê tín dị đoan, những hủ tục thâm căn cố đế trong xã hội mới có thể được nhổ tận gốc. Muốn được như vậy phải đưa vào luật pháp, ai truyền bá và tiếp tay với mê tín dưới nhiều hình thức thì phải xử lý nghiêm minh. Phật dạy, chỉ có trùng trong thit sư tử mới ăn thịt sư tử. Đây là một vấn nạn lớn trong xã hội thời hiện đại núp bóng dưới nhiều danh nghĩa làm cho con người đi lùi lại bánh xe lịch sử và ngày càng si mê không biết lối đi mà chỉ biết sống dựa dẫm, nhờ vả, ỷ lại…

Đạo đức Phật giáo không có chỗ cho những hành vi mê tín, dị đoan và hiện tượng trục lợi “buôn thần bán thánh” để lừa bịp những người nhẹ dạ, cả tin, lầm lạc, si mê. Tín ngưỡng thiếu lý trí sẽ nhuốm màu thần bí và trở thành mê tín. Tác hại của mê tín không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý và thái độ ứng xử, mà còn phương hại cho lối sống và kinh tế gia đình. Dị đoan là những điều quái lạ, huyễn hoặc, chỉ tồn tại trong niềm tin thiếu lý trí của con người. Mê tín là niềm tin mù quáng, không phân biệt đúng sai, nhắm mắt làm càn, thể hiện sự mê muội và mất lý trí.

Mê tín và dị đoan là cặp song sinh. Nơi nào có dị đoan, nơi đó có mê tín. Đằng sau các dị đoan và mê tín là nỗi sợ hãi về những điều bất hạnh bao gồm cái chết, bệnh tật, tổn thất, bất hạnh và nghịch cảnh… Cúng sao giải hạn, coi ngày giờ tốt xấu là nét văn hóa du nhập từ Trung Quốc, văn hóa các nước Phương tây đâu có coi ngày giờ tốt xấu mà họ vẫn giàu có, văn minh. Như vậy, thay vì lo lắng, sợ hãi chuyện ngày giờ tốt xấu do bị ảnh hưởng của văn hóa Trung quốc, người tu Phật, học Phật cần phải kiểm soát chặt chẽ ý nghĩ, lời nói và hành động của mình. Chúng ta không bị giặc ngoại bang xâm lược mà dần hồi bị đồng hóa hoàn toàn bởi những tập tục tín ngưỡng và mê tín tràn lan, dưới danh nghĩa các lễ hội Đền, Chùa, Miếu, Phủ…

Mọi lẽ thật giả đều hiện bày sau khi có sự chiêm nghiệm và suy xét bởi ánh sáng giác ngộ, nhận thấy lẽ thật rồi mới khởi lòng tin đó là
Mọi lẽ thật giả đều hiện bày sau khi có sự chiêm nghiệm và suy xét bởi ánh sáng giác ngộ, nhận thấy lẽ thật rồi mới khởi lòng tin đó là “chánh tín”. Ngược lại, tin mà không hiểu rõ cội nguồn của mọi lý lẽ là tin càn tin bướng, người tin như thế là “mê tín”.

Có hai loại mê tín

Mê tín do tâm mong cầu quá đáng: Con người khi mong cầu một điều gì mà quá khả năng mình thì dễ sinh mê tín. Ví như có một người muốn vay một số vốn lớn làm ăn, không biết việc làm ăn này sẽ đạt được kết quả tốt hay xấu. Tự nhiên lòng họ thấy băn khoăn lo lắng không biết hỏi ai, tin ai. Nghe nói có một ông thầy nào đó biết được quá khứ vị lai, đoán trúng được vận mệnh của mọi người, liền tìm đến để cầu cho được. Chỉ tốn tiền quẻ có năm bảy trăm ngàn đồng hoặc vài ba triệu đồng, biết việc làm của mình thành công hay thất bại thì ai mà không ham. Chính vì lòng tham và sự mong cầu quá đáng mà dẫn con người ta đến mê tín dị đoan.

Mê tín do tâm lo lắng sợ hãi: Con người ta hay lo lắng sợ hãi, suy nghĩ vu vơ là gốc sinh ra mọi điều mê tín. Có những người bị tai nạn dồn dập, vừa té xe bị thương lại bị người đòi nợ, con trai thi trượt, con gái bị bệnh… mất bình tĩnh, nghe đồn ông thầy đó coi tay xem tướng rất giỏi và có thể trừ được tà ma, yêu tinh quỷ mị. Hoặc có người sợ vận xui hạn xấu, nên đầu năm đến chùa cúng sao giải hạn, cầu cho tròn năm cuộc sống được hanh thông, gia đình được an vui may mắn. Hoặc có người vì thương cha mẹ đã quá cố, sợ cha mẹ chết rơi vào địa ngục chịu đói khổ nhọc nhằn, họ bèn nhờ thầy cúng tiến lầu kho, xe cộ, giấy tiền vàng bạc, lễ cúng đốt xuống cho cha mẹ được an hưởng nơi âm ty… Mọi sợ hãi đều bắt đầu từ sự mê tín.

Đã làm người, ai cũng có thể ước mơ hay mong cầu một điều gì đó, rồi tình trạng lo lắng sợ hãi, trong bầu vũ trụ bao la này với thiên nhiên huyền bí, chính vì chưa thấu rõ hết nguyên lý nhân duyên quả nên con người dễ dàng rơi vào mê tín dị đoan. Dù là người học cao hiểu rộng nhưng trong tâm vẫn có niệm mong cầu và sợ hãi hoặc quá tham lam, họ sẽ bị mê tín dị đoan chi phối.

Chúng ta thấy rõ lý nhân - duyên - quả nhà Phật nói, là lẽ thật, đúng với tinh thần khoa học hiện thời. Hiểu được lý nhân duyên quả, chúng ta thấy rõ muôn vật trên thế gian đều có sự liên quan với nhau.
Chúng ta thấy rõ lý nhân – duyên – quả nhà Phật nói, là lẽ thật, đúng với tinh thần khoa học hiện thời. Hiểu được lý nhân duyên quả, chúng ta thấy rõ muôn vật trên thế gian đều có sự liên quan với nhau.

Vào ngày 08/Giêng Âm lịch hằng năm, người Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc có thói quen đến chùa cúng sao giải hạn. Thật ra, ở chùa vốn không có nghi lễ cúng sao mà chỉ có lễ cầu an đầu năm để nguyện cầu cho thế giới được hòa bình, chiến tranh kết thúc, con người không giết hại và sống yêu thương có hiểu biết.

Như chúng ta đã biết, tất cả mọi người học Phật ai cũng hiểu giáo lý nhà Phật đều dựa trên nền tảng của nhân quả. Nhân là nguyên nhân, là hạt giống, quả là kết quả do gieo nhân mà được và nhờ duyên thời tiết, chăm sóc, kỹ thuật…, cho nên đời sống của một cá nhân hay cộng đồng đều do nhân quả mà ra. Chính vì vậy, khi một người gieo nhân dù tốt hay xấu thì nhất định người đó phải nhận lấy kết quả tốt hoặc xấu mà mình đã gieo, chỉ sớm hay muộn mà thôi. Nếu muốn hóa giải nghiệp xấu ác, thì chúng ta phải nỗ lực tu tập, trì chay, giữ giới, làm nhiều việc thiện ích.

Ví như chúng ta lỡ gieo tạo nhân sát sinh hại vật, thì ta sẽ biết chắc hậu quả trong nay mai là bệnh tật triền miên hoặc chếu yểu, hay thường gặp những tai nạn bất ngờ. Khi biết được thế, chúng ta quyết tâm nỗ lực sám hối, bố thí cúng dường, phóng sinh… thì quả có thể sẽ trổ theo hướng khác nhẹ hơn, hoặc bị triệt tiêu. Nên trong đời sống hằng ngày, chúng ta thọ nhận những việc tốt xấu là đều do chúng ta tạo nhân cả, nên khi quả tốt đến thì chúng ta vui vẻ hạnh phúc, và ngược lại quả xấu đến chúng ta đành phải chấp nhận để tìm cách hóa giải nó.

Tập tục cúng sao giải hạn là đi ngược lại lời Phật dạy trong các kinh điển, nhưng tại sao tập tục này vẫn còn tồn tại ở các chùa? Một giả định khác, nhiều người cứ đinh ninh rằng nếu đem tiền vào chùa cúng sao, giải hạn thì tật bệnh sẽ được tiêu trừ, và tai qua nạn khỏi? Chính đức Phật cũng từng khẳng định “Ta không có khả năng ban phước hay giáng họa cho bất kỳ ai, ta chỉ là người thầy dẫn đường, còn làm được việc tốt hay xấu là do tất cả mọi người”.

Nếu ai cũng tin sâu nhân quả hết thì mọi việc nên hư, tốt xấu, thành công, thất bại đều do chính ta tạo ra. Chúng ta cứ tạo nhân tốt thật đầy đủ thì quả tốt nhất định sẽ đến. Không phải chúng ta cầu xin mà nó đến, không phải chúng ta xua đuổi mà nó đi, một khi nhân đã thành thì quả phải nhận.

Song, nhân quả không đơn thuần mà đa dạng và phức tạp, chẳng phải chỉ do trực tiếp ở đời hiện tại mà gián tiếp kết nối từ nhiều đời. Chỉ khi nào chúng ta tạo nhiều nhân lành, khi quả xấu đến sẽ nhẹ đi hay giảm bớt mà thôi.

Đạo Phật là đạo của giác ngộ, là đạo của từ bi và trí tuệ, cho nên lấy nhân duyên, nhân quả làm nền tảng. Nếu chúng ta thấy trong chùa hiện nay còn những hiện tượng mê tín, đây chính là những oan tình của đạo Phật, chẳng qua một số người vì thiếu hiểu biết, vì chạy theo tín ngưỡng tập tục của thế gian mà làm ảnh hưởng đến Phật pháp chân chính.

Mình làm chủ tạo nhân, chính mình làm chủ thọ quả, còn cầu khẩn van xin đâu có lợi ích gì.
Mình làm chủ tạo nhân, chính mình làm chủ thọ quả, còn cầu khẩn van xin đâu có lợi ích gì.

Do đó, chúng ta thấy rõ lý nhân – duyên – quả nhà Phật nói, là lẽ thật, đúng với tinh thần khoa học hiện thời. Hiểu được lý nhân duyên quả, chúng ta thấy rõ muôn vật trên thế gian đều có sự liên quan với nhau. Chúng ta không thể tách một cá thể đứng ngoài tập thể, một cá nhân đứng ngoài nhân loại. Đây là lý do khiến dẹp được quan niệm cá nhân ích kỷ. Chúng ta tích cực xây dựng nên hạnh phúc chung cho nhân loại, không riêng của một cá nhân. Chúng ta tin lý nhân duyên quả là tin bằng trí tuệ, là thấy biết đúng như thật: Đó gọi là chính tín.

Thế mà hiện nay có nhiều Tăng sĩ trụ trì, khi nghe phật tử than làm ăn sa sút, liền bảo đến chùa thầy cầu phúc cho; nghe con cháu phật tử sắp thi cử, bảo ghi tên để thầy cầu nguyện cho; nghe phật tử than gia đình xảy ra tai nạn, bảo đến chùa thầy cúng giải hạn cho… Đó là chúng ta đang truyền đèn nối đuốc Như Lai hay làm lu mờ chánh pháp Phật đà? Chúng ta là những người hướng dẫn, kế thừa sự nghiệp của Như Lai. Bước đầu vì phương tiện thiện xảo để giúp người đến với Phật pháp, sau đó chúng ta phải lấy lời Phật dạy chân chính làm nền tảng nhân quả hướng dẫn cho phật tử. Làm được như vậy chúng ta mới xứng đáng là con nhà Thích tử, truyền trao mạng mạch của Như Lai để mọi người thấm nhuần Phật pháp chân chính.

Song nhân quả không phải đơn thuần mà đa dạng và phức tạp, có nhân mình vừa gieo liền thọ quả, có nhân phải chờ một thời gian, có nhân phải trải qua nhiều đời và có khi gieo nhân mà không có kết quả vì không đủ duyên. Biết rõ nhân quả tốt xấu do mình tạo ra, chúng ta can đảm nhận chịu và tìm cách chuyển hóa chúng mà không chút sợ hãi buồn phiền. Mình làm chủ tạo nhân, chính mình làm chủ thọ quả, còn cầu khẩn van xin đâu có lợi ích gì. Chúng ta tin chắc lý nhân quả như thế, thì mọi sự mê tín sẽ không có chỗ để xen vào làm phá hủy chính tín nhân quả.

Tóm lại, mê tín là một tệ nạn xã hội, nó làm cho con người ngày càng trở nên yếu hèn, mất tự tin chính mình vì si mê, mờ mịt. Chúng ta là chủ của bao điều họa phúc, mình gieo nhân xấu sẽ kết thành quả xấu, mình gieo nhân lành sẽ kết thành quả tốt. Con người hay có mâu thuẫn muốn cầu mong quả tốt mà không chịu gieo nhân tốt, sợ hãi quả xấu mà không chịu dừng nghiệp xấu. Chúng ta muốn sống trong một xã hội văn minh, lành mạnh và bền vững lâu dài, mọi người cần phải tin sâu nhân quả, tin mình có đủ khả năng làm chủ bản thân, mọi việc tốt xấu, nên hư thành bại đều do mình tác tạo…

Nguyên tắc bài trí bàn thờ Phật trong nhà bạn cần phải biết

0

Đối với những gia đình theo đạo Phật thì bàn thờ Phật đóng vai trò rất quan trọng trong ngôi nhà. Khi bài trí bàn thờ Phật, gia chủ cần tuân thủ những nguyên tắc nhất định để “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”.

Nơi bài trí bàn thờ Phật

Không gian thờ cúng thường được đặt tại vị trí trang trọng, thanh tịnh nhất của ngôi nhà. Trong các ngôi nhà diện tích nhỏ, bàn thờ thường được đặt ở vị trí cao nhất của phòng khách. Gia đình có thể thờ bằng tủ thờ hoặc án giang.

Còn với các ngôi nhà diện tích rộng, bàn thờ thường được lập tại phòng thờ riêng và ở tầng cao nhất. Phòng thờ thường thông thoáng, trang nghiêm, sạch sẽ và yên tĩnh.

Với bàn thờ Phật, gia chủ có thể xác định hướng đặt bàn thờ dựa trên mệnh của mình. Người mệnh Đông thì có thể bài trí bàn thờ Phật ở các hướng: Khảm (Bắc), Tốn (Đông Nam), Chấn (Đông), Ly (Nam). Người mệnh Tây có thể lựa chọn những hướng: Đoài (Tây), Càn (Tây Bắc), Cấn (Đông Bắc), Khôn (Tây Nam).

Một số người đặt bàn thờ Phật theo hướng Tây Bắc vì hướng này theo quan niệm tượng trưng cho phương trời Tây Thiên Cực Lạc của Đức Phật.

Ngoài ra, khi đặt bàn thờ Phật cần tránh đặt trong phòng ngủ vì đây là nơi riêng tư, có thể làm mất đi sự trang nghiêm và tôn kính. Không đặt bàn thờ tựa lưng, gần sát hay đối diện nhà tắm, nhà vệ sinh, đối diện trực tiếp với cầu thang nơi mọi người đi lại thường xuyên. Cũng không nên đặt gần bếp vì đây là nơi không sạch sẽ, không trong lành.

Vị thế tôn thờ kính Phật nằm ở chỗ quan trọng, trang nghiêm và phù hợp nhất.

Vị thế tôn thờ kính Phật nằm ở chỗ quan trọng, trang nghiêm và phù hợp nhất.

Những đồ vật bài trí bàn thờ Phật và nguyên tắc cúng bái

Khi bài trí bàn thờ Phật trong nhà, gia chủ không sử dụng đồ đã thờ để thờ Phật. Gỗ được dùng làm bàn thờ phải là gỗ mới, tuyệt đối không được dùng gỗ đã qua sử dụng. Nếu thờ cả tượng Phật, tượng Bồ tát và các vị thần minh khác, thì Phật và Bồ tát đặt ở ban trên, các vị minh thần ở phía dưới.

Bên cạnh tượng Phật, một bàn thờ Phật sẽ có thêm các phụ kiện thờ cúng bằng đồng như lư hương cắm nhang, lọ hoa, mâm bồng, ngai chén, đôi đèn thờ v.v…

Bát hương đặt giữa bàn thờ Phật không nên quá đầy tro, có thể rút bớt chân hương vào ngày 15 âm lịch hàng tháng cho sạch sẽ. Chuông trên bàn thờ Phật, sau khi niệm Phật xong, thắp nhang lên bát hương rồi gõ 3 tiếng chuông.

Bình hoa nên đặt ở bên phải bàn thờ Phật nếu nhìn từ ngoài vào và tốt nhất là dùng hoa sen, hoa huệ hoặc cây sống đời để trưng trên bàn thờ Phật.

Dĩa đựng trái cây cúng dường Phật không dùng cho việc khác hay bàn thờ khác, tuyệt đối không cúng mặn, không sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ… để dâng cúng trên bàn thờ Phật. Đặt dĩa trái cây ở bên trái bàn thờ Phật nếu nhìn từ ngoài vào.

Dùng tịnh thủy, hay còn gọi là nước sạch để cúng dường Phật. Tịnh thủy đặt ở giữa hay bên trái bàn thờ, cạnh dĩa trái cây và lưu ý không được dùng ly đựng nước cúng dường ở bàn thờ Phật cho bất kỳ việc nào khác.

Không bày biện, trang trí bàn thờ Phật bằng những vật tượng trưng cho sự mê tín dị đoan như bùa chú, hồn phách v.v…

Trên đây là các nguyên tắc bài trí bàn thờ Phật. Nếu bạn có nhu cầu mua mẫu tượng Phật cho bàn thờ của gia đình, hãy tham khảo các sản phẩm của chúng tôi dưới đây nhé.

Elise Mai

‘Lòng thành thì linh nghiệm’. Nhưng như thế nào mới được tính là ‘lòng thành’?

0

Người xưa nói: “Lòng thành thì linh nghiệm”. Nhưng làm như thế nào mới được tính là ‘lòng thành’ thực sự thì có lẽ còn rất nhiều người chưa biết.

Người xưa nói: “Lòng thành thì linh nghiệm”. Chữ ‘linh nghiệm’ này có thể lý giải là phúc báo, lòng mong muốn thì việc sẽ thành. Cái lý này có lẽ nhiều người đều hiểu rõ. Khi gặp mâu thuẫn, vấn đề hoặc khó khăn thì đi cầu Thần bái Phật, cũng biết tâm phải có lòng thành chân thực. Khi khuyên người khác cũng nói ‘Lòng thành thì linh nghiệm’. Nhưng làm như thế nào mới được tính là ‘lòng thành’ thì có lẽ còn rất nhiều người chưa biết, chỉ biết bề ngoài mà không biết ý nghĩa của nó, chỉ coi trọng hình thức mà bỏ qua ý nghĩa nội tại.

Muốn hiểu rõ ý nghĩa gốc của câu “Lòng thành thì linh nghiệm” thì phải tìm đáp án trong văn hóa truyền thống.

Ông mù rơi giếng hoang

Kỷ Hiểu Lam, danh thần triều Thanh đã ghi chép một câu chuyện trong “Duyệt vi thảo đường bút ký” như sau:

Thời nhà Thanh có một người mù họ Vệ. Giao thừa năm Mậu Ngọ, các nhà cho ông thức ăn, ông cõng về nhà. Giữa đường ông lỡ chân ngã xuống một cái giếng khô. Bởi vì ở cánh đồng hoang vắng, đường hẻo lánh, hơn nữa nhà nhà đang chuẩn bị đón giao thừa, nên trên đường không có người qua lại. Ông gọi lớn, gọi đến khô miệng cạn hơi mà vẫn không có người ứng cứu.

May mà dưới giếng không khí ấm áp, lại có bánh ăn, trái cây giải khát, thế nên mấy ngày ông vẫn không chết. Lại có anh đồ tể Vương Dĩ Thắng đi bắt lợn trở về, cách giếng khoảng nửa dặm thì bỗng nhiên lợn đứt dây chạy mất, lợn chạy như điên vào trong cánh đồng hoang, rồi cũng bị lỡ chân rơi xuống giếng. Vương Dĩ Thắng lấy móc bắt lợn thì mới phát hiện ra ông mù, ông chỉ còn thoi thóp hơi thở yếu ớt. Cái giếng đó không phải là nơi anh đồ tể phải đi qua. Việc này dường như có Thần lực chi phối.

Khi có người hỏi tình hình trong giếng, ông mù nói: “Khi đó vạn niệm đều không còn, tâm như là đã chết rồi. Chỉ là nghĩ đến mẹ già nằm bệnh ở nhà đang đợi chờ con trai mù phụng dưỡng. Giờ đây ngay cả đứa con trai mù loà cũng không thể có được nữa rồi, có lẽ lúc này sợ rằng đã thành người chết đói rồi, thế nên cảm thấy đau nhói đến tận tâm can, không thể nào chịu nổi nữa”.

Mọi người cảm thán than rằng: “Nếu không phải là niệm đầu này thì con lợn của Vương Dĩ Thắng nhất định sẽ không bị đứt dây”.

Ông mù được cứu là vì một niệm chí thành: bị rơi xuống giếng cạn, không có hy vọng được cứu, chỉ còn nghĩ đến mẹ già trọng bệnh đang nằm trên giường không có người phụng dưỡng, cảm thấy đau buốt đến tận tâm can. Vì thế đã cảm động đến Thượng Thiên, dẫn anh đồ tể đến nơi mà lẽ ra anh ta không đến để cứu ông. Sự việc xem có vẻ là ngẫu nhiên, thực tế chính là phúc báo của ‘lòng thành’.

(Ảnh minh họa: youtube.com)

Lòng thành cầu Thần linh cho mẹ khỏi bệnh

Sách “Đàm tẩu” có chép câu chuyện một người con hiếu thành tín cầu nguyện Thần linh cứu mẹ như sau:

Huyện lệnh Tùng Tư nước Bắc Tề là Tiêu Duệ Minh, người Lan Lăng, mẹ ông bị bệnh đã nhiều năm. Tiêu Duệ Minh ngày đêm cầu nguyện Thần linh, cầu xin Thần linh phù hộ mẹ sớm khỏe mạnh trở lại. Năm đó trời đất lạnh giá, nước mắt Tiêu Duệ Minh chảy trên gò má đóng thành băng, khấu đầu chảy máu, máu cũng thành băng.

Bỗng một hôm, có một người đến tặng cho ông một cái hộp bằng đá và nói: “Chiếc hộp đá này có thể trị bệnh thái phu nhân”. Tiêu Duệ Minh quỳ xuống hai tay nhận chiếc hộp. Ông đem chiếc hộp đá tặng cho mẹ, mở ra xem chỉ thấy bên trong có một miếng lụa dài 3 tấc, trên có viết chữ “Nhật nguyệt” bằng chu sa. Từ đó, bệnh của mẹ ông liền khỏi.

Tín ngưỡng Thần Phật bị biến dạng

Lòng thành có phúc báo, Thần Phật xem lòng thành con người rồi mới ban cho việc tốt lành. Con người ngày nay đối đãi với ‘lòng thành’ như thế nào? Có những người là trái ngược, lòng không thành mà lại đi cầu phúc báo.

Gần đây có bài báo đăng rằng ông Từ, nguyên thị trưởng của thành phố Xích Phong, Nội Mông, trong nhà ông có Phật đường, trên điện Phật có thờ tượng Phật, ngày ngày dâng hương bái Phật, niệm tụng kinh Phật rất nhiều năm không gián đoạn. Nhiều người có thể coi ông là một Phật tử ‘thuần thành’. Nhưng thật châm biếm là trong thời gian 6 năm ông làm thị trưởng, trung bình mỗi ngày ông vơ vét 15.000 tệ (tương đương 50 triệu đồng). Mỗi lần nhận được món tiền đút lót hối lộ, trước tiên ông đều đặt lên ‘điện Phật’ một khoảng thời gian. Trong những chiếc valy cất giấu kỹ chứa đồ hối lộ, 4 phía là những cột tiền, ở giữa đặt một ‘tượng Phật vàng’ hoặc ‘tượng Bồ Tát vàng’, với mong muốn cầu ‘bình an’. Ông ta đã từng bỏ hơn 2 triệu tệ (khoảng 7 tỷ đồng) và châu báu vào một chiếc valy số rồi để vào nơi ở của trụ trì một ngôi chùa, chìa khóa valy số giấu ở trong tai tượng Phật.

Đó là lễ kính Thần Phật sao? Đó chính là vũ nhục và phỉ báng Thần Phật. Có thể có được phúc báo không? Hoàn toàn không được phúc báo, ngược lại còn chịu báo ứng. Theo truyền thông nước ngoài đưa tin, thời kỳ đầu khi Giang Trạch Dân bức hại Pháp Luân Công, ông ta mỗi đêm đều chép “Kinh Địa Tạng”, cầu xin Bồ Tát phù hộ. Một mặt ông ta bức hại những người tu Phật, vũ nhục phỉ báng người sáng lập Pháp Luân Công, một mặt ông ta lại cầu xin Thần Phật bảo hộ, đúng là việc quá mâu thuẫn.

Giang Trạch Dân được xem là người chủ trương và trực tiếp lãnh đạo tổ chức đàn áp những người theo tập Pháp Luân Công, bên cạnh các cuộc đàn áp tín ngưỡng từ trước đó của ĐCSTQ như đàn áp Phật giáo Tây Tạng, Thiên chúa giáo… (Ảnh: wikipedia.org)

Năm 2002, một chân Giang Trạch Dân bị đau rất nghiêm trọng, tất cả các biện pháp đều đã sử dụng nhưng trị không khỏi. Có một người cơ hội muốn tìm phương thuốc bí truyền để bợ đỡ lấy lòng Giang Trạch Dân, hòng thăng quan phát tài. Ông này đến Đạo quán cầu xin người tu Đạo ban cho phương thuốc bí truyền. Người tu Đạo đó nói: “Ông ta (Giang Trạch Dân) là bị báo ứng bức hại Pháp Luân Công. Dừng cuộc bức hại thì không chữa mà tự khỏi”. Câu nói này khiến người cơ hội kia sợ quá quay đầu chạy.

Thắp hương bái Phật, toán quái, xem phong thủy v.v. từng bị Đảng cộng sản Trung Quốc chụp cho cái mũ chính trị lớn là ‘phong kiến mê tín’ để đàn áp, khiến cho những người Trung Quốc vào thời kỳ đó nói đến phong kiến mê tín liền biến sắc mặt. Thế nhưng rất nhiều người đã đích thân trải qua những sự việc mà bị quy là ‘phong kiến mê tín’, dùng thuyết vô Thần thì không thể nào giải thích nổi, còn dùng lý hữu Thần, thiện ác hữu báo thì đều giải thích được thông suốt, về tâm lý không còn gợn chướng ngại gì.

Ngày nay, Đảng cộng sản Trung Quốc trên bề mặt không đàn áp phong kiến mê tín, trái lại còn xây dựng những chùa chiền lớn, Đạo quán lớn, hàng năm còn tổ chức các hoạt động lễ bái Khổng Tử. Nào ai hay, đây chính là Đảng cộng sản Trung Quốc lấy danh nghĩa phát triển kinh tế mà phá hoại ở tầng thâm sâu hơn đối với văn hóa truyền thống. Đi lễ chùa, có mấy người làm được ‘lòng thành’ như người xưa? Những ông chủ xây dựng lấy chùa chiền Đạo quán làm phương tiện kiếm tiền. Người đến chùa vãn cảnh, du ngoạn, thắp hương thì cũng là tâm thái chơi đùa. Hòa thượng cũng có đầu óc làm kinh tế, nghĩ cách bán hàng, thu dịch vụ của du khách, đặt ‘hòm công đức’ khắp nơi, còn làm những thứ như xem vận mệnh, làm lễ giải hạn, giải vong… Tất cả đều một mục đích kiếm tiền.

Xưa kia chùa chiền là nơi thanh tịnh, thanh tu, ngày nay đã bị biến thành nơi ‘phát triển kinh tế’. Tiền quyên góp công đức của du khách, Phật tử hàng tháng hàng năm là thế nào, chi tiêu vào việc gì, còn lại bao nhiêu, đi đâu… đều là những câu hỏi không có lời giải. Tâm chí hòa thượng cũng không đặt ở tu luyện nữa, về mặt tiền bạc thì chùa đã trở thành giống như công ty cổ phần. Điều này không chỉ là một lần nữa phá hủy văn hóa truyền thống, mà còn đáng sợ hơn là phá hủy tâm hướng Phật của con người. Những người đã bị méo mó tín ngưỡng, dưới sự chi phối của những niệm đầu tham dục, danh lợi, đối đãi với Thần Phật với cái tâm càng xấu xa độc ác hơn, còn nói gì đến ‘lòng thành’ nữa đây?

Lòng thành thì linh nghiệm, người có lòng thành thì có phúc báo. Thần Phật nhìn lòng người không nhìn địa vị cao thấp, không nhìn giàu nghèo sang hèn. Khi con người nảy sinh chính niệm, phát ra thiện niệm thì Thần Phật liền biết, sẽ cấp cho phúc báo, cấp cho cơ hội trong tương lai.

Thế nên không cần dâng hương lễ Phật, không cần giao thừa mồng một thắp nén hương đầu tiên, đánh tiếng chuông đầu tiên, chỉ cần thành tâm kính Thần Phật, tôn trọng người chân tu, hiểu rõ thật giả, thiện ác, lòng hướng thiện thì phúc báo sẽ tự nhiên không cầu mà đến, đó chính là ‘lòng thành thì linh nghiệm’ thực sự.

Theo zhengjian.org

Kiến Thiện biên dịc

 

Vì sao thời xưa con cái phải để tang 3 năm sau khi cha mẹ mất?

0

 

Theo tục xưa, trong khoảng ba năm thủ tang cha mẹ, con cái không thể lên kinh ứng thí, thậm chí còn không được ở trong nhà mà phải làm lều cỏ bên mộ phần cha mẹ để trông nom, chăm sóc. Đối với chúng ta ngày này, đây là việc ngoài sức tưởng tượng…

Cổ ngữ có câu: “Bách thiện hiếu vi tiên”, đối với cổ nhân mà nói thì trăm cái đức, ngàn cái hạnh cũng không có cái nào có thể sánh bì với việc thủ hiếu giữ đạo làm con. Ngay cả các bậc vua chúa cũng luôn thủ đạo hiếu con, lấy thân làm mẫu cho vạn dân noi theo. Ở đây có thể kể đến những bậc hiền nhân xưa như vua Trần Anh Tông. Vua Trần Anh Tông vốn dĩ ham mê uống rượu, nhưng vì một lần say rượu làm lỡ mất dự chầu, khi đó bị thái thượng hoàng Trần Nhân Tông trách phạt. Vua Trần Anh Tông phải quỳ gối và dâng biểu tạ tội kiểm điểm bản thân mới được tha lỗi. Và cũng kể từ đó, vua Trần Anh Tông quyết tâm không uống rượu nữa. Mặc dù ở ngôi cao, vua Trần Anh Tông vẫn tôn trọng đạo hiếu, tuân theo lời dạy bảo của cha.

Hay như vua Tự Đức, đây có lẽ là ông vua duy nhất bị mẹ đánh đòn trong lịch sử nước ta. Năm đó, vua Tự Đức đi săn, chẳng may gặp phải trận lụt bất ngờ, không thể về kịp lo liệu ngày kỵ của tiên hoàng Thiệu Trị. Sau khi về đến cung điện, nhà vua vội vàng đội mưa đến quỳ tạ tội với mẹ là thái hậu Từ Dũ. Ông còn chủ động dâng roi mây, nằm xuống chịu đòn.

Nói đến chữ hiếu, chúng ta cũng không thể không nhắc tới Nguyễn Trãi, ông là tấm gương trung hiếu vẹn toàn trong lịch sử. Khi cha là Nguyễn Phi Khanh bị giặc Minh bắt, Nguyễn Trãi đi theo cha đến ải Nam Quan, muốn cùng cha sang tận Trung Quốc hầu hạ nhưng cha ông khuyên ông trở về lo mưu nghiệp lớn chống Minh. Nghe lời cha dặn, Nguyễn Trãi nếm mật nằm gai 16 năm ròng, sau này ông đã bày mưu tính kế, góp phần quan trọng giúp nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi.

Đối với người xưa, việc bất hiếu là một đại tội không thể dung thứ, việc hiếu kính cha mẹ không chỉ là việc chăm sóc cha mẹ chu đáo về tinh thần và vật chất khi còn sống mà bao gồm cả việc lo tang hậu sự cho cha mẹ khi đã mất.

Trong cuộc sống phong kiến xưa kia khi cha mẹ qua đời con cái phải thủ hiếu 3 năm, trong khoảng thời gian này tuyệt đối không được kết hôn. Các quan viên cũng phải từ quan về nhà thủ hiếu cha mẹ ba năm, gọi là “Đinh hiếu”.

Theo tục xưa, trong khoảng ba năm này con cái không thể lên kinh ứng thí, thậm chí còn không được ở trong nhà mà phải làm lều cỏ bên mộ phần cha mẹ để trông nom, chăm sóc. Có thể đối với ngày này việc này là việc ngoài sức tưởng tượng của chúng ta, tuy nhiên ngày xưa nó thậm chí còn được nghi vào pháp chế. Khi xưa, vua Chu Nguyên Chương khi đăng cơ đã quy định: “Trong ba năm tang chế, con cái không được ra ngoài gặp gỡ bằng hữu, phải mặc áo vải bố, mép vải thừa không được cắt tỉa, không được cắt tóc”.

Vì sao người xưa phải thủ tang giữ đạo ba năm sau khi cha mẹ khuất núi?
“Trong ba năm tang chế, con cái không được ra ngoài gặp gỡ bằng hữu, phải mặc áo vải bố, mép vải thừa không được cắt tỉa, không được cắt tóc”. (Ảnh: kknews.cc)

Vậy ý nghĩa sâu xa của việc thủ tang này ra sao?

Việc thủ hiếu ba năm của cổ nhân chủ yếu là mang hàm nghĩa hoàn ơn cha mẹ nuôi nấng sinh thành. Khi con cái sinh ra ba năm đầu, cha mẹ mới yên tâm để con cái rời xa vòng tay của mình mà chạy nhảy, đặc biệt thời xưa không có sữa để ăn ngoài, người mẹ phải nuôi con bằng sữa mẹ trong suốt ba năm. Vậy nên trong khoảng thời gian này cha mẹ phải vất vả bội phần, thức khuya dậy sớm chăm bẵm, cho con ăn, cho con ngủ, đêm hôm chăm sóc tã quần, thậm chí khi con tè dầm, đái dắt cha mẹ đã phải nhường con chỗ khô, mình nằm chỗ ướt.

Vì ơn sinh dưỡng của cha mẹ là không gì sánh nổi, thế nên sau khi cha mẹ mất, con cái phải thủ tang ba năm, đây cũng là ba năm hoàn nghĩa sinh thành chăm sóc khi xưa. Nếu như không thủ được lễ ba năm này thì sao có thể gọi là hiếu tử? Tuy nhiên theo sự thay đổi của xã hội, con người cũng ngày càng trở thành khác biệt, chữ hiếu ngày nay nó đã phần nào trở thành hình thức.

Kỳ thực, ba năm thủ hiếu này không chỉ là việc hoàn ân trả nghĩa cho cha mẹ mà còn là thời gian để con người cảnh tỉnh chính mình, có thời gian tĩnh tâm suy nghĩ về đường đời. Nó cũng như một lời nhắc nhở chúng ta rằng: Nhân sinh tại thế, sinh tử vô thường, đến đi vô định.

Khi một người có thể hiểu ra đời người sống tại thế gian, mọi thứ thật vô thường ngắn ngủi, họ sẽ suy nghĩ nghiêm túc hơn nữa về đường đời của mình, suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống, suy nghĩ về những bon chen được mất hơn thua trong cuộc đời, và từ đó thay đổi bản thân. Đua tranh danh lợi dẫu có được thì cũng lợi bất cập hại, khi nhắm mắt xuôi tay, tiền vàng danh vọng chẳng thể mang theo. Tuy nhiên việc làm ác, gây nghiệp thì phải hoàn trả, đó là điều không thể tránh, dẫu đời này không trả thì đời sau vẫn phải đền.

Vậy ý nghĩa sâu xa của việc thủ tang này ra sao?
Kỳ thực, ba năm thủ hiếu này không chỉ là việc hoàn ân trả nghĩa cho cha mẹ mà còn là thời gian để con người cảnh tỉnh chính mình… (Ảnh: 52jdyy.com)

Tăng Quốc Phiên là một danh thần nổi tiếng nhà Thanh, cả cuộc đời ông đã có vô số thành tựu, ông cũng đã viết rất nhiều sách gia huấn khuyên dạy thế nhân. Ông xứng đáng là bậc thánh nhân thời kỳ cận đại. Trước lúc cha ông mất, ông vốn dĩ cũng là bậc nho gia từ nhỏ đọc sách thánh hiền, hiểu được đạo lý nhân sinh. Tuy nhiên trong cuộc sống hàng ngày có nhiều lúc vẫn có hình bóng của một người mang đầy kiêu khí, dẫn tới ông đã đắc tội với không ít người.

Sau khi cha ông mất, ông từ quan về quê thủ hiếu ba năm, trong khoảng thời gian này ông đã thay đổi quan niệm sống của mình một cách nhanh chóng. Đối với việc đối nhân xử thế, ông luôn lấy nhẫn làm đầu, bao dung độ lượng cho người, trước khi ra quyết định một vấn đề nào đó ông luôn biết đứng từ góc độ của người khác mà quyết định. Không chỉ đối với người trên mà ngay cả kẻ dưới ông cũng hết mực tôn kính. Có thể nói ba năm thủ hiếu cha đã giúp ông thành tựu cuộc đời, trở thành bậc thánh nhân được tôn kính thiên cổ.

Việc thủ hiếu ân cha, nghĩa mẹ, đây không chỉ là việc đền ơn đáp nghĩa hai đấng sinh thành, mà còn là việc dạy bảo con cháu đời sau, giúp cho con cái hiểu được sâu sắc chữ hiếu là thế nào. Khi một người có thể thấm nhuần đạo hiếu thì đường đời ắt cũng sẽ thành công. Người có đạo hiếu chắc chắn sẽ là một người lương thiện, mà người lương thiện ắt sẽ ở hiền gặp lành, được trời đất chiếu cố, sẽ đường đường chính chính có chỗ đứng trong nhật nguyệt bao la này.

Tây Phong

Ngày rằm xá tội vong nhân trong ‘tháng cô hồn’ rốt cuộc có ý nghĩa gì?

0

“… cái mưa gì mà buồn không chịu được! Nó lai rai như muốn cứa vào thần kinh ta, nó tạnh một lát rồi lại mưa, mưa đều trên mái nhà, mưa đều trên bụi cây đồi cỏ, có lúc im phăng phắc nhưng có lúc lại trút xuống rào rào, rồi lại mưa đều đều, và cứ mưa như thế hết ngày ấy sang ngày khác hết đêm nọ sang đêm kia, chán không để đâu cho hết, mà rầu rĩ trong lòng không biết bao nhiêu” (“Thương nhớ mười hai” – Vũ Bằng).

Tháng 7 ta về, lòng người lại mênh mang đượm buồn theo cái sụt sùi của trời đất. Người xưa nói “Thiên nhân hợp nhất”, có lẽ vì thế mà trong cái tháng trời đất khóc thương này, người ta làm lễ Xá tội vong nhân.

Riêng tôi thì thấy tháng 7 không hẳn đã đáng buồn, bởi lẽ xưa nay, con người chỉ có thể hiểu được niềm vui sau khi trải qua nỗi buồn, và hiểu được lẽ sống từ kinh qua sự chết.

Nỗi bi thương trải dài từ dương gian đến cõi vô hình gợi nhắc ta về ý nghĩa kiếp nhân sinh

Thật tình, trải qua những ngày tháng 7 thê lương mịt mù gió mưa ảm đạm, người ta mới yêu hơn những ngày tháng 8 nắng vàng ươm như rót mật. Thiên nhiên khéo vẽ bức tranh tương phản giúp cái buồn càng buồn, cái vui lại càng vui hơn, như câu ca dao:

“Mưa tháng bảy gãy cành trám,

Nắng tháng tám rám quả bưởi”

Mưa ngâu tháng 7 nặng hạt dầm dề thê lương như đang muốn gửi gắm một điều gì. (Ảnh: Pinterest)

Và có trông thấy, có cảm thấy những mảnh linh hồn bơ vơ lạc loài trong một thời không khác, ta mới thấu hiểu ý nghĩa và sự trân quý của sinh mệnh con người. Cụ Nguyễn Du xưa đã mang cái bi thương từ dương gian đến âm phủ gói vào mấy vần thơ “Văn tế thập loại chúng sinh”.

“Đường bạch dương bóng chiều man mác,

Ngọn đường lê lác đác sương sa,

Lòng nào là chẳng thiết tha,

Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

Trong trường dạ tối tăm trời đất,

Có khôn thiêng phảng phất u minh,

Thương thay thập loại chúng sinh,

Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người”.

“Thập loại chúng sinh” ấy là ước lệ cho muôn vạn kiếp người, dù khi sống “màn loan trướng huệ”, “mũ cao áo rộng” oanh liệt, hay sa cơ thất thế, tù ngục oan khiên…, thì chết đi chỉ còn là những u hồn không nơi nương tựa. Cụ Tiên Điền không khỏi cảm thán xót xa:

“Còn chi ai quý ai hèn,

Còn chi mà nói ai hiền ai ngu?”

Và:

“Sống thời tiền chảy bạc ròng,

Thác không đem được một đồng nào đi”.

Một khi đã lìa giã cõi đời, thì hết thảy công danh lợi lộc, ân oán tình thù đều chỉ còn như mây khói.

Sống thời tiền chảy bạc ròng, Thác không đem được một đồng nào đi. (Ảnh: Нят-Нам.ру)

Ấy thế nhưng, lẽ thường những người đang sống đều ngỡ như mình chẳng bao giờ chết. Thời nay, người ta tự trói mình vào “vô Thần luận”, cái gì không tận mắt thấy thì không tin, nên lại càng thiêu rụi cuộc đời mình trong danh – lợi – tình mà không lo tìm đường giải thoát. Nhưng ngay cả trong cái thời vô Thần luận lên ngôi, cái thời nhân danh khoa học phủ định tín ngưỡng, cái trực cảm sâu xa của hồn người không mất, nên Vũ Bằng mới viết ra những dòng văn như thế này:

Ấy là bởi vì mặc dầu đã bị tiêm nhiễm văn minh Hy Lạp, La-tinh, mặc dầu khoa học thét vào tai tôi rằng tin tưởng như thế là hủ bại, tôi vẫn không thể nào tẩy não được mà vẫn cứ “ngoan cố” tin rằng ngoài cái thế giới chúng ta đang sống hiện nay, còn một thế giới u huyền khác mà loài người chưa cứu xét được đến nơi đến chốn nhưng bởi vì “muốn cho xong chuyện” nên kết luận toạc ngay là “dị đoan” (“Thương nhớ mười hai” – Vũ Bằng).

Nguồn gốc lễ Xá tội vong nhân

Vì trong tâm thức dân gian, thế giới vô hình vẫn luôn tồn tại, nên ngày rằm Xá tội vong nhân vẫn còn giữ đến hôm nay. Thực ra, phong tục cúng quảy và hồi hướng phước cho thân nhân đã có từ thời Đức Phật (thế kỷ thứ sáu trước công nguyên) và được khuyến khích trong cộng đồng những người tin vào nhân quả nghiệp báo và sinh tử luân hồi trong những cảnh giới khác nhau. Sau khi đạo Phật truyền vào Việt Nam, trong sự tương giao với văn hoá bản địa cúng giỗ và thờ phụng tổ tiên, phong tục cúng quảy và hồi hướng phước cho người thân đã khuất được lưu truyền rộng rãi ở nước ta và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Vào thời Đức Phật còn tại thế, một hôm vua Bình Sa Vương (Bimbisara) nằm mộng thấy những chúng sinh đói khổ rách rưới đeo bám vào tường thành kêu khóc thảm thiết. Vốn là người giàu lòng từ bi, nhà vua rất xúc động và thỉnh giáo Đức Phật xem họ là ai và phải làm gì để cho họ bớt khổ? Đức Phật cho nhà vua biết các chúng sinh đó là những thân bằng, quyến thuộc của vua trong quá khứ xa xôi.

Họ do vì kém duyên phước, khi sống chỉ biết tranh giành hơn thua, vun vén cho bản thân để sống qua ngày mà không biết làm phước, không được học đạo và không sống có đạo, không biết chia sẻ, không biết quan tâm đến tha nhân, v.v. nên sau khi thân hoại mạng chung ở cảnh giới con người, phải thọ sinh vào những cảnh giới đau khổ.

Những chúng sinh xuất hiện trong giấc mơ của đức vua đã bị kẹt trong cảnh giới đó nhiều trăm năm, nhiều triệu năm, từ thời đức Phật Ca Diếp và cho đến khi Đức Phật Thích Ca xuất hiện trên thế gian, họ mới có cơ hội được tạm thời xuất hiện. Cũng vì nhân duyên một thân bằng quyến thuộc trong quá khứ của họ nay là đức vua Bình Sa Vương là người biết đạo và có khả năng làm phước hồi hướng công đức cho họ, nên họ xuất hiện cho ông biết để xin cứu giúp.

Đức Phật với tâm đại bi chiếu cái nhìn thanh tịnh vào nhân gian và thấy rằng các thân bằng quyến thuộc đã quá vãng thường đến nhà thân nhân. Họ đứng tựa vách hay ngoài cửa, đứng ở ngã ba đường hay ở cổng thành, mong mỏi người thân của họ nhận ra và làm phước nhân danh họ để họ có động lực vượt thoát khổ cảnh.

Đại Kỷ Nguyên -
Những linh hồn vì kém duyên phước, kiếp trước nghiệp ác quá sâu mà lay lắt kẹt trong một cảnh giới không siêu thoát. (Ảnh: drukpa)

Dựa vào người, chi bằng hãy dựa vào bản thân mình

Tuy rằng phước đức do người thân hồi hướng cho có thể khởi phần nào tác dụng, nhưng trong dòng xoáy bất tận của luân hồi, nghiệp lực do ai gây ra thì chính người đó phải hoàn trả, làm ác đoạ vào đường ác, làm thiện thăng lên cõi lành. Vậy nên, phải chăng mỗi một người còn sống nên nhìn vào các vong hồn khốn khổ mà biết sợ, biết tự chuẩn bị cho ngày sau.

“Chuẩn bị” ở đây không phải là xây cất lăng tẩm nguy nga, hay nhắn nhủ cháu con đốt vàng mã nhà lầu xe hơi để nhận lại nơi suối vàng. Mà là sự chuẩn bị sáng suốt sau khi thấu triệt quy luật nhân quả luân hồi, chuẩn bị phước lành từ những việc làm thiện, lời nói thiện và ý nghĩ thiện. Người xưa nói: “Tích đức hành thiện”, không phải là triết lý suông, mà quả thật là cách chuẩn bị vững chắc nhất cho tương lai vậy.

Thanh Ngọc

Đọc nhiều

Cần điều tra clip và xử lý cán bộ đòi chôn sống nhà sư.

Giữa lúc cơn khủng hoảng truyền thông Phật giáo đang leo thang vì những bài báo lá cải tiếp tục bồi bút sau khi...

Sự thật về người quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao...

Ngày 13/3/2021, ngay sau khi báo Thanh Niên Online đưa tin: ”Quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao cấu trẻ em:...

Cần Lên Án Báo Tuổi Trẻ Khi Đem Phật Giáo Ra Biếm Họa

Ngày 15/1/2020, Tuổi Trẻ Online đã có sự can thiệp chỉnh sửa lại thông tin đăng tải, buộc lòng phải lên tiếng xin lỗi...

Khai tôn giáo trong căn cước công dân, phải có “giấy chứng nhận xuất...

 Đây là một thắc mắc lớn mà người viết đã nhiều lần đặt ra trong khi trực tiếp thực hiện các thủ tục liên...