Thứ Ba, Tháng Chín 21, 2021

Nhân quả

Yếu tố giúp nhận biết bản thân có tạo ác nghiệp hay không

0

Do vô minh nên trong nhiều trường hợp, chúng ta tạo ác nghiệp mà vẫn cho rằng mình đang làm việc tốt. Vậy dựa trên những tiêu chí nào để chúng ta có thể minh định được đâu là một ác nghiệp hoàn chỉnh?

Trong Kinh Hoa Nghiêm Phật dạy: “Nếu như ác nghiệp mà có hình tướng thì tận hư không giới không thể nào dung chứa hết được”. Việc ác tuy nhiều nhưng có thể tóm gọn trong ngũ nghịch trọng tội (Giết cha, giết mẹ, giết bậc A-la-hán, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng) và mười điều ác (Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói hai chiều, nói lời thô ác, nói thêu dệt, tham, sân, si). Tuy nhiên, do vô minh nên trong nhiều trường hợp, chúng ta tạo ác nghiệp mà vẫn cho rằng mình đang làm việc tốt. Vậy dựa trên những tiêu chí nào để chúng ta có thể minh định được đâu là một ác nghiệp hoàn chỉnh?

Có 4 yếu tố hình thành nên một nghiệp đầy đủ. Đó là đối tượng của hành động, chủ đích/động cơ/sự vô minh của chủ thể hành động, bản thân hành động và kết quả hoàn thành của hành động đó. Nếu thiếu một trong 4 yếu tố này, một hành động của thân – khẩu – ý không được gọi là một nghiệp. Công thức 4 yếu tố hình thành nên ác nghiệp sát sinh dưới đây sẽ giúp bạn phản tỉnh và cẩn trọng hơn trong từng hành động của mình. Đồng thời, bạn cũng có thể áp dụng công thức này cho tất cả các ác nghiệp đã nói đến ở trên.

Do vô minh nên trong nhiều trường hợp, chúng ta tạo ác nghiệp mà vẫn cho rằng mình đang làm việc tốt.

Do vô minh nên trong nhiều trường hợp, chúng ta tạo ác nghiệp mà vẫn cho rằng mình đang làm việc tốt.

Đối tượng của hành động sát sinh

Để hành động sát sinh xảy ra, cần phải có một đối tượng cụ thể là một chúng sinh sẽ bị giết hại. Đó có thể là những loài hữu tình từ những con trùng nhỏ nhít đến những loài động vật to lớn. Những chúng sinh này cũng có cảm giác, biết nóng lạnh, sợ hãi, tham sống và sợ chết. Có những tôn giáo (ví dụ như Kỳ-na giáo) còn dạy con người ta rằng đến các loài thực vật cũng có tâm và họ coi cây cối cũng là một loài hữu tình không nên giết hại. Đức Phật dạy rằng điều đó không đúng. Khi nói đến sát sinh, chúng ta chỉ đề cập đến các loài có cảm giác về sự đau đớn, không phải những loài vô tình như sỏi đá hay cỏ cây, hoa lá. Bởi vậy, đối tượng của hành động sát sinh phải là một loài có tâm thức.

Chủ ý/Động cơ/Sự vô minh của chủ thể hành động

Yếu tố thứ hai hình thành nên ác nghiệp sát sinh chính là sự cố ý, động cơ vị kỷ hay sự vô minh của người thực hiện hành động. Ví dụ, nếu chúng ta cho rằng “Con vật này đang chuẩn bị hại tôi”, hay “Con vật này thật sự nguy hiểm và tôi muốn giết nó”, hành động sát sinh xuất phát từ tâm sân hận và mong muốn phải giết hại bằng được chúng sinh đó, chúng ta đã tạo ra một nghiệp ác. Lòng mong muốn giết hại chúng sinh cũng có thể xuất phát từ động cơ vị kỷ thỏa mãn ham muốn kiếm tiền, thú vui khoái khẩu hay trưng diện: “Nếu tôi giết con vật này, tôi sẽ kiếm được tiền, có thức ăn để ăn hay có quần áo để mặc và thỏa niềm vui thú”.

Sát sinh tạo nghiệp ác muôn kiếp. Không sát sinh và phóng sinh xếp hàng đầu trong Thập thiện nghiệp.

Sát sinh tạo nghiệp ác muôn kiếp. Không sát sinh và phóng sinh xếp hàng đầu trong Thập thiện nghiệp.

Có nhiều người cho rằng ăn thịt là xuất phát từ tâm thiện mong muốn “hóa kiếp” cho loài vật nhanh được đầu thai làm loài khác. Điều này xuất phát từ sự vô minh không hiểu rằng tất cả chúng sinh đều bình đẳng như nhau. Con người ta ai cũng ham sống, sợ chết, lẽ đâu lại cướp mạng sống của loài vật. Hơn nữa, tất cả các chúng sinh từ vô lượng vô biên kiếp trước đã là cha mẹ, anh em hoặc đã là bà con quyến thuộc, nhưng bởi nhân duyên nghiệp báo nên phải sinh tử luân hồi sáu nẻo, thay hình đổi dạng không còn nhận biết lẫn nhau. Đang tâm giết hại để ăn thịt chúng sinh chính là ăn máu thịt của cha mẹ từ nhiều đời nhiều kiếp, làm tổn hại lòng từ bi và là nhân gây ra bệnh tật, khổ đau, hoạn nạn. Hoặc trước khi bước chân đi, trong lòng chúng ta phải khởi tâm nghĩ đến tất cả các loài, bởi có những sinh vật nhỏ bé mà chúng ta không để ý. Chính vì vô minh, không chính niệm mà chúng ta vẫn có thể tạo ác nghiệp sát sinh ngay trên mỗi bước chân của mình.

Bản thân hành động diễn ra

Yếu tố thứ ba là bản thân hành động sát sinh phải diễn ra. Một người có chủ ý giết hại, và đồng thời bản thân người đó cũng là người thực hiện hành vi sát sinh thì hành động đó tạo ác nghiệp sát sinh. Ví dụ một người dùng khí giới tấn công người khác hoặc bắt các con vật về làm thịt. Tuy nhiên, người đó có thể không trực tiếp hành động mà sai khiến, thuê mướn người khác làm cũng tạo ác nghiệp sát sinh. Bởi anh ta phải chịu trách nhiệm về việc thuê mướn, nhờ vả người khác giết hại. Như vậy, dù trực tiếp hay gián tiếp sát sinh, bạn đều tạo ác nghiệp sát sinh.

Một người không những nên tránh tạo nghiệp sát sinh mà còn nên cứu sinh mạng của các chúng sinh đang gặp hiểm nguy.

Một người không những nên tránh tạo nghiệp sát sinh mà còn nên cứu sinh mạng của các chúng sinh đang gặp hiểm nguy.

Kết quả của hành động

Yếu tố thứ tư được gọi là “yếu tố hoàn thành”. Đối với ác nghiệp sát sinh, kết quả là đối tượng phải bị chết. Trên thực tế, có trường hợp người thực hiện hành động không thành công hoặc nạn nhân sống lại nhờ sự can thiệp của y học, hành động giết hại đó không hình thành nên ác nghiệp sát sinh. Tương tự như vậy, nếu một người sai khiến người khác nhưng người này không làm theo lời sai khiến, hoặc thực hiện không thành công, thì cũng không được tính vào tội sát sinh.

Như vậy, để tránh ác nghiệp sát sinh, chúng ta không nên làm những hành động nào hội đủ cả bốn yếu tố nói trên.

Có một thiện hạnh rất đặc biệt cần phải thực hành, đó là một người không những nên tránh tạo nghiệp sát sinh mà còn nên cứu sinh mạng của các chúng sinh đang gặp hiểm nguy. Thiện hạnh phóng sinh được coi là cách thực hành đặc biệt và siêu việt hơn so với pháp thực hành thông thường của việc giữ giới sát sinh. Không sát sinh và phóng sinh xếp hàng đầu trong Thập thiện nghiệp.

Giải mã bí ẩn: ‘sinh tử luân hồi’ của con người

Có rất nhiều câu chuyện được lưu truyền trong dân gian kể về sự xuất hiện của quỷ thần và nhân quả báo ứng hay luân hồi chuyển kiếp. Không những vậy, trong các bộ dã sử, bút ký thậm chí là chính sử cũng có rất nhiều câu chuyện như vậy.

Ngay cả trong thế kỷ 20, những chuyện như luân hồi chuyển thế, mượn xác hoàn hồn vẫn thường xuyên diễn ra đến tận thập niên 80, 90. Báo chí cũng thường thuật lại những tình huống này; có người tự mình trải nghiệm, có người chính mắt nhìn thấy, có người chính tai nghe thấy, tất cả đều là những câu chuyện kỳ lạ, truyền từ người này sang người khác. Cũng chính bởi có người đã đích thân trải nghiệm, chứng kiến được những điều dị thường nên khiến chúng ta không thể không tin.

Tuy nhiên các nhà khoa học, tâm lý học, y học đều phủ định điều này bởi họ không tận mắt chứng kiến. Ngay cả khi mắt thấy tai nghe, họ cũng sẽ một mực phủ định theo quan điểm của mình, nói rằng đó là một chứng rối loạn tâm thần hoặc một ảo tưởng tâm lý và gạt bỏ một cách triệt để. Vì vậy, người thì tin tưởng, kẻ thì coi đó là mê tín; có người cố gắng thu thập thông tin, quan sát, phân tích, nghiên cứu; có người không đi sâu tìm hiểu, dùng cách nói mê tín để bài xích sự thật về quỷ thần linh hồn, có thể nói đây chính là sự mê tín khoa học.

Ngay cả khi dưới áp lực mạnh mẽ của các nhà khoa học hiện đại, các nhà tâm lý học, y học lên án thuyết linh hồn là mê tín dị đoan, thì cũng có một số người giữ quan điểm ngược lại. Theo lời tựa của cuốn sách “Sự sống sau khi chết” nói rằng: ngay từ giữa thế kỷ 19, khi bị ảnh hưởng và kích thích bởi vô số những báo cáo được cho là có khả năng cảm nhận linh hồn người chết và liên lạc với thế giới tâm linh, người ta đã bắt đầu nghiên cứu hiện tượng này một cách nghiêm túc.

Kể từ đó, để chứng minh rằng loại giao tiếp và cảm ứng này rốt cuộc có khả năng hay không, những người tiên phong này đã vượt qua mọi khó khăn, làm mọi thứ có thể để điều tra và khám phá hàng trăm những ví dụ thực tế khó giải thích. Và một lĩnh vực khác thu hút mọi người đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu đó là nghệ thuật cảm ứng tâm linh. Tác giả của các tác phẩm âm nhạc, hội họa, văn học… đều là người bình thường, nhưng họ lại tuyên bố rằng những tác phẩm đó của mình được tạo ra dưới sự hướng dẫn của những bậc thầy đã tạ thế từ lâu.

Kiếp sống có luân hồi, con người chính là dựa vào thiện ác của một kiếp để quyết định người đó lên thiên đàng hay xuống địa ngục sau khi chết; người bình thường vẫn sẽ được đầu thai làm người, nhưng căn cứ vào phúc báo của họ mà phân thượng lưu hay hạ đẳng.

Sử truyền và tiểu thuyết bút ký đều ghi chép lại, có người vẫn có hồi ức của kiếp trước, thậm chí nhớ được chuyện của ba kiếp. Cho đến tận thời hiện đại, vẫn luôn có những câu chuyện về chuyển thế mượn xác hoàn hồn được đăng trên các phương tiện truyền thông.

Các nhà nghiên cứu siêu tâm lý học đã thu thập được rất nhiều ví dụ thực tế từ trong và ngoài nước. Ngoại trừ những người ở trong hoàn cảnh tự mình trải nghiệm nên tuyệt đối tin tưởng ra, người bình thường có thể không tin hoàn toàn, chỉ coi như chuyện lạ kể cho nhau nghe mà thôi.

Theo ghi chép lịch sử, việc đề xuất quan niệm mới luôn gặp phải sự phản đối của giới khoa học trong và ngoài nước, vậy nên thuyết luân hồi dù đã được lưu truyền rộng rãi nhưng vẫn chưa được công chúng chấp nhận.

Gần đây, một tiến sĩ y khoa Mỹ đến từ đại học Yale tên là Brian L.Weise, ông từng là bác sĩ điều trị ở Khoa Tâm thần tại đại học Yale, giám đốc Khoa Nghiên cứu Tâm thần tại đại học Miami và từng giảng dạy tại đại học Pittsburgh. Ông hiện là Giám đốc Khoa Tâm thần tại Trung tâm Y tế Mount Sinai, từng phát biểu 37 bài luận văn và truyền văn khoa học. Điều đáng nói là vị bác sĩ được đào tạo khoa học một cách nghiêm ngặt này đã thực sự đề xuất cách nói con người có luân hồi.

凯瑟琳经过催眠知道她的前世。
Catherine biết được tiền kiếp của mình thông qua thôi miên (Ảnh minh họa/Nguồn ảnh: AdobeStock)

Năm 1980, một người phụ nữ 27 tuổi tên là Catherine đã tìm đến ông và xin ông điều trị vì chứng lo lắng, sợ hãi và đau đớn. Ông đã bỏ ra 18 tháng thực hiện liệu pháp tâm lý truyền thống mà không có kết quả. Cuối cùng, ông sử dụng thôi miên, muốn lần theo những tổn thương của cô từ thời thơ ấu, nhưng lại nhận được kết quả là kiếp trước của cô.

Trong khi thôi miên, Catherine nói ra không chút do dự về tên tuổi, thời gian, y phục, cây cối đều rất sinh động. Cô ấy không phải ảo tưởng hay bịa chuyện. Suy nghĩ, biểu cảm, sự chú ý đến những chi tiết nhỏ nhất của cô ấy hoàn toàn khác với con người cô khi tỉnh táo, khiến Brian L.Weise không thể phủ nhận tính chân thực trong lời cô nói. Trong một loạt các liệu pháp thôi miên, Catherine nhớ lại những ký ức của kiếp trước đã gây ra các triệu chứng của cô, đồng thời truyền tải một số thông điệp về “thực thể linh hồn” đã biến hóa lên bậc cao.

Vị tiền bối nói với cô rằng cô đã sống hơn 80 lần trên trái đất, nhưng trong liệu pháp thôi miên chỉ xảy ra 12 lần, hơn nữa có vài lần lặp lại.

Trong khi thôi miên, cô tự nói: mình từng là một nữ nô lệ thời Ai Cập cổ đại, cư dân một thuộc địa thực dân vào thế kỷ 18, một gái điếm dưới vương triều thực dân Tây Ban Nha, một phụ nữ sống trong hang động thời kỳ đồ đá, nô lệ ở Virginia vào thế kỷ 19, một phi công trong thế chiến thứ hai, một người đàn ông Hà Lan bị cắt cổ, một thủy thủ ở Wells bị thương khi làm việc trên tàu, một cô bé tham dự lễ cưới của chị gái, một cậu bé vào thế kỷ 18 chứng kiến cha mình bị hành quyết. Cô mô tả một cách sống động khung cảnh mà cô đang ở. Weise đã kiểm tra Catherine và xác định cô ấy không nói dối.

Weise tự nhủ: “Tôi e rằng vấn đề không phải là tin hay không mà là nó khiến tôi biết rằng luân hồi là một điều có thật”.

Việc chết đi ở mỗi kiếp cũng tương tự như vậy. Sau khi chết, bản thân sẽ lơ lửng bên trên thân xác, có thể nhìn thấy toàn cảnh phía dưới. Thông thường sau khi chết đi, sẽ cảm nhận được một vầng sáng rực rỡ. Cô ấy sẽ nhận được năng lượng từ vầng sáng đó và bị hút về phía nó, vầng sáng sẽ ngày càng sáng hơn. Cô bay bổng trên mây, tiếp đó bản thân bị kéo đến một không gian nhỏ hẹp nhưng ấm áp, cô sắp được sinh ra và chuyển sang một kiếp sống khác.

Trong kiếp trước của cô thường xuyên xuất hiện những người quan trọng có quan hệ với cô trong kiếp này. Theo vô số lần nghiên cứu, một nhóm linh hồn sẽ được giáng sinh cùng nhau hết lần này đến lần khác và mất rất nhiều thời gian để trả sạch nợ cho nhau. Bạo lực và công bằng, con người trong khi đối xử với nhau đều sẽ phải hoàn trả. Nếu hết một kiếp mà vẫn chưa trả hết nợ thì sang đến kiếp sau sẽ càng khó khăn hơn. Những câu chuyện về luân hồi trả nợ này không khác gì cách nói về nghiệp chướng và nhân quả báo ứng trong tôn giáo truyền thống của Trung Quốc.

Weise đã giành bốn năm để viết cuốn sách “ManyLives, Many Masters”. Phải mất bốn năm ông mới có đủ can đảm, chấp nhận rủi ro nghề nghiệp và tiết lộ những thông tin không chính thống này, để mọi người có thể hiểu được ý nghĩa thật sự của sự bất tử và cuộc sống mà ông biết. Ngay sau khi cuốn sách này được xuất bản, nó đã nằm trong bảng xếp hạng ở Florida trong hai năm liên tiếp, bìa mềm đã được in mười lần và được dịch ra mười một thứ tiếng, lưu hành rộng rãi, nhận được phản hồi tốt của nhiều bác sĩ và chuyên gia. Weise cho biết: “Cuộc sống của tôi đã thay đổi hoàn toàn kể từ khi tôi tiếp xúc với bệnh nhân này”.

Theo Vision Times

Nhà Phật quan niệm thế nào về sự luân hồi?

0

Luân hồi theo Phật giáo giảng là gì? Đó là những lần đầu thai tiếp nối nhau của sinh mệnh (người, động vật, v.v…) khi chưa được giải thoát. Vòng tròn đó cứ xoay chuyển mãi trong cõi Tam giới đầy rẫy muộn phiền. Chỉ khi sinh mệnh có được thân người và bước vào tu luyện, tiêu trừ tội nghiệp, đạt đến giác ngộ thì mới thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử này…

Luân hồi theo Phật gia giảng

Tất cả sinh mệnh chưa đạt giác ngộ đều nằm trong vòng quay luân hồi tiếp nối nhau. Khi sinh mệnh chết, kết thúc một kiếp sống; phần hồn của họ rời nhục thân đi tới không gian khác đợi đầu thai sang một kiếp mới.

Vào lúc linh hồn rời khỏi thân xác, họ có thể nhìn thấy lại mọi việc trong đời mình. Những ân oán, nhân duyên đã trải qua. Trên thế giới có rất nhiều câu chuyện về trải nghiệm cận tử. Có người kể về quá trình phần hồn đi xuống âm gian; nhìn thấy những chuyện ở nơi địa ngục.

Phật Gia quan niệm nhân gian là “cõi tạm”. Con người sinh ra với “hai bàn tay trắng”, khi chết đi cũng “trắng hai tay”. Những gì là: tài sản vật chất, tình cảm với người này hay người kia, danh phận với đời… khi ra đi đều không mang theo được. Những gì mang được chỉ là “đức và nghiệp”. Vậy nên hãy sáng suốt để không phải day dứt khi đến ngày duyên nợ tại thế gian chấm dứt.

Luân hồi theo góc nhìn của Phật gia chính là dựa vào quy luật nhân quả

Phật gia nhìn nhận rằng: “Đời này khổ một chút cũng đừng lo, hãy làm nhiều việc tốt; đời sau hưởng phúc”. Đây chính là quy luật nhân quả, có mất thì có được. Phật Gia chỉ ra rằng: tất cả những việc bạn làm, ngay cả với suy nghĩ thôi, chưa cần thực hiện, bạn cũng đều phải chịu trách nhiệm về nó.

Tùy vào kết quả làm việc tốt và việc xấu trong các kiếp trước; mà đời này được đầu thai thành sinh mệnh là con người tại nhân gian, hay là động thực vật, hay là quỷ đói nơi địa ngục. Chuyển sinh làm người được coi là một cơ hội hiếm có để hướng tới việc tu luyện và giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.

Vậy nên Phật Gia luôn khuyên bảo con người sống thiện lương, chân thành, nhẫn nại. Việc này cũng giống như ươm mầm những hạt giống tốt; tương lai sinh mệnh sẽ đến nơi tốt đẹp tùy theo cảnh giới mà họ đạt được.

Ảnh: Shutterstock.

6 cõi luân hồi theo quan điểm của Phật giáo

Theo quan điểm của Phật giáo, một sinh mệnh sau khi không còn nhục thân nữa sẽ được chuyển sinh vào một trong 6 cõi luân hồi. Được chuyển sinh vào cõi nào là tuỳ theo việc thiện và ác mà sinh mệnh đó đã làm trước đây.

Cõi Trời

Cõi Trời có thể coi là cõi hạnh phúc nhất trong 6 cõi. Nhưng người ở đây không bất tử, họ hiểu biết nhiều nhưng không biết hết mọi thứ, có năng lực mạnh mẽ nhưng có giới hạn.
Cõi Trời tuy không phải khổ đau vì sinh lão bệnh tử nhưng chúng sinh trước khi chết lại vô cùng đau khổ và sợ hãi. Khi hấp hối, người thân từ bỏ họ; họ hoàn toàn cô độc, chìm đắm trong nỗi buồn sầu.

Cõi A tu la

Các chúng sinh ở cõi A tu la sống hạnh phúc hơn cõi người và kém hơn Cõi Trời. Họ có thể đã từng là người tốt nhưng nóng tính, bướng bỉnh. Người ở đây hiếu chiến và đố kỵ nên hay giao chiến. Kết quả thường thua, khắp người đầy thương tích.

Cõi người

Ai sống ở cõi này đều phải đối diện với vòng tuần hoàn: sinh, lão, bệnh, tử. Ngoài ra nếu không có sự thống khổ về mặt thân thể như nghèo đói, bệnh tật, thì sẽ là sự đau khổ về mặt tinh thần, cuộc sống không hạnh phúc. Sự tái sinh vào cõi này, được cho là có lợi nhất trong tất cả các cõi luân hồi về mặt tu hành và giải thoát. Điều này là do một số đặc tính độc đáo, duy nhất chỉ có ở cõi người. Do vậy, Phật gia có giảng: “Nhân thân nan đắc” – tức là đắc được thân người không hề dễ dàng. Vì vậy cần phải biết trân quý, được thân người là cơ hội tốt để tu luyện thoát khỏi luân hồi, cần tranh thủ tu luyện trong kiếp người để có thể giải thoát được khổ đau.

Cõi súc sinh

Cõi súc sinh bao gồm các loài động vật. Phật giáo giảng rằng không nên sát sinh. Cõi này dành cho những người có nhiều nghiệp ác, chủ yếu là không biết phân biệt giữa việc làm đúng và việc làm sai; hoặc biết là việc làm sai nhưng vẫn cố ý làm, ví dụ như buôn bán lậu, lừa đảo, tham nhũng, v.v…

Cõi quỷ đói (ngạ quỷ)

Những chúng sinh ở trong cõi ngạ quỷ là những con ma đói. Họ cực kỳ khổ sở, đói và khát, nhưng họ lại hầu như không thể ăn hay uống.
Chúng sinh ở cõi ngạ quỷ có hình dáng khá giống con người, nhưng với lớp da thối rữa, chân tay nhỏ, bụng rất to và dài, cổ hẹp.
Cõi này dành cho những chúng sinh có rất nhiều tội nghiệp.

Cõi địa ngục

Địa ngục là cõi đau khổ và đáng sợ nhất trong 6 cõi. Nơi đây, chúng sinh bị đọa đày chịu tội do họ từng tạo các nghiệp rất xấu trong quá khứ. Họ bị đày đọa đến mức độ cảm giác như đã chết, nhưng sau đó hồi phục lại sức khỏe (hoặc tái sinh lại) và rồi lại bị đày đọa tiếp… cứ liên tiếp chịu thống khổ như vậy. Thời gian ở trong địa ngục không kéo dài vô tận, mặc dù vậy, thời gian đó thường là rất lâu và những gì họ phải trải qua là vô cùng khủng khiếp.
Cõi này dành cho những chúng sinh có rất rất nhiều nghiệp ác như: giết người, hiếp dâm, hành hạ đánh đập người khác vô cớ…

Làm thế nào để thoát khỏi vòng xoáy luân hồi?

Theo Phật gia, để giải thoát khỏi luân hồi sinh tử thì chỉ có con đường tu luyện trở thành Giác giả. Bậc Giác giả là người đã giác ngộ, đã nhảy thoát khỏi vòng xoay luân hồi. Khi đó họ có thể nhìn được chân tướng của sự vật; không bị giả tướng làm mê mờ, tiêu diêu tự tại ở các cảnh giới cao hơn.

Sau khi tu hành đắc đạo, Đức Phật đã nhìn được những kiếp trước của mình. Một số kiếp trước này được ghi lại trong kinh điển Phật giáo.

Nói đến Phật gia nhiều người thường nghĩ đến Phật giáo. Thực chất Phật giáo chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong Phật gia. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng giảng: tu Phật có 8 vạn 4 nghìn pháp môn.

Vì vậy, khi nói đến tu luyện người ta thường nghĩ đến hình ảnh những vị tăng nhân, ni cô hay đạo sỹ… Thực ra không hẳn như vậy. Bởi vì có nhiều pháp môn nên cũng có rất nhiều phương pháp, hình thức tu luyện khác nhau. Tu luyện không nhất thiết là phải đi vào núi sâu, rừng già, hay vào tự viện, đình quán… Có những pháp môn thuộc Phật gia có thể tu luyện ngay chính nơi người thường. Bởi bản chất tu luyện chính là không ngừng tu dưỡng tâm tính; Hành thiện, hành Chân, tu Nhẫn và buông bỏ những tính xấu,v.v…

Nhiều người cho rằng tu luyện thành bậc Giác giả chỉ để đạt giải thoát tự thân. Nhưng hiện nay rất nhiều đệ tử Phật Gia tin rằng bậc Giác giả có thể chuyển sinh xuống thế gian để thức tỉnh những người đang mê mờ nơi cõi hồng trần, cứu độ chúng sinh.

Theo Nguyện Ước

Nhân quả hữu báo ra sao, buông lời thề thốt khi nào sẽ linh?

0

Trong cuộc sống, có thể bạn đã từng chứng kiến hiện tượng như thế này: cha mẹ đều là giáo viên nhưng con cái của họ lại không thích học hành. Tại sao vậy? Đáng lẽ trong môi trường tốt thì những đứa trẻ phải yêu thích học tập mới đúng. Câu chuyện dưới đây ngõ hầu sẽ ít nhiều lý giải cho chúng ta về điều này… 

Nhân quả hữu báo ra sao?

Chuyện cũ kể rằng: Vào thời vua Càn Long, triều Thanh (Trung Hoa), ở kinh thành có một viên quan Ngự sử họ Dương, chơi rất thân với một vị đạo sĩ. Đạo sĩ này có khả năng nhìn thấy ma quỷ. Theo lời của lão đạo sĩ thì: “Vào thời điểm giữa trưa, các loại ma quỷ đều ra ngoài hoạt động. Chúng có lớn có nhỏ, có già có trẻ, đâu đâu cũng có. Thức ăn của chúng đều giống như khói, hút tinh khí và đồ ăn còn thừa của người hoặc con vật. Giống như những gì được mô tả trong Kinh Pháp Hoa, mọi thứ mà một người trải qua trong đời này đều là do nghiệp quả luân báo vậy”.

Một ngày nọ, lão đạo sĩ đến nhà Dương Ngự Sử rồi cười nói: “Hôm nay tôi không thấy tiểu quỷ ăn vụng đồ trong bếp nhà ông nữa, nó đã đi đầu thai rồi, không biết đến nhà ai đòi nợ đây”. Dương Ngự Sử nghe thấy lời này liền nghĩ đến đứa con trai mới sinh của mình, sau đó ông bảo bà vú bế đứa bé đến cho đạo sĩ xem. Đạo sĩ vừa nhìn thì giật mình không thốt nên lời.

Dương Ngự Sử cảm thấy kỳ lạ quá, liền nắm tay áo của lão đạo sĩ, kéo đến chỗ vắng người rồi liên tục lễ bái và cầu xin khai thị. Đạo sĩ thở dài nói: “Ông đã làm ra việc gì rồi! Tiểu quỷ ăn vụng đồ trong nhà bếp lại đầu thai làm đứa con trai này”. Dương nói: “Ta nghĩ bản thân không phạm qua lỗi lầm nặng nề gì, chỉ là trước đây từng làm giáo viên dạy trẻ con nhà người ta nhưng lại không dụng tâm dạy bảo cho lắm”.

Đạo sĩ vỗ vỗ vào lưng Dương Ngự Sử và nói: “Là một giáo viên, nhận lương rồi mà lại dạy bảo hời hợt con nhà người ta. Đây còn là việc nhỏ không?”. Nói xong, lão đạo sĩ phẩy tay áo rồi bỏ đi.

Quả nhiên sau khi con trai của Dương Ngự Sử trưởng thành, anh ta suốt ngày đam mê tửu sắc, hoang phí tiền bạc đất đai nhà cửa, đến khi chết vẫn để lại tai tiếng là một người con “phá gia chi tử”.

Thế mới hay nghiệp lực luân báo, nhân quả không sai, lỗi lầm gây ra còn có khi liên đới. Dương Ngự Sử nhận tiền lương mà lại làm việc qua loa phu diễn, kết quả hại người hại mình, gia tài chẳng còn mà người cũng bị tổn hao biết bao phúc khí. Có thơ rằng:

“Lại ngẫm chuyện đèo bòng ba họ
Rằng cha ông củng cố cháu con
Hỡi ôi đức hạnh hao mòn
Một cơn gió bụi luống toang cửa nhà”…

[Vô danh cư sỹ].

Buông lời thề thốt khi nào sẽ linh?

Ngày nay, nhiều người nói năng rất tùy tiện. Để chứng minh bản thân vô tội hoặc không làm điều xấu mà có người rất thản nhiên thề thốt. Tuy nhiên, họ lại không hề ý thức được rằng khi lời thề ứng nghiệm sẽ đáng sợ ra sao.

Sách xưa có chép: Quách Phượng Cương người Ngô Trung (thuộc tỉnh Giang Tô, Trung Quốc ngày nay) từng kể: “Mỗ Giáp có nợ tiền của ông, sau khi ông cầm giấy tờ đến đòi nợ thì Giáp liền dùng rượu chuốc cho ông say rồi trộm lấy giấy nợ. Ngày hôm sau, Giáp liền nói đã trả tiền nợ rồi. Phượng Cương biết rõ họ Giáp kia thừa dịp ông say mà trộm mất giấy nợ, ông nói thề như thế này: “Giấy tờ thu nợ của tôi bị mất, nếu tôi đòi tiền lần nữa thì vợ của ta đời đời đều tái giá”. Giáp cũng thề: “Nếu như ta thiếu nợ của ngươi, vậy thì vợ của ta nhất định làm kỹ nữ lấy tiền trả lại ngươi”.

Không ngờ, sau hơn một tháng, vợ Giáp qua đời. Giáp cũng không lấy thêm vợ nữa. Thấy vậy, Giáp còn tưởng rằng lưới trời lồng lộng nhưng đã để ông lọt lưới rồi. Khoảng hai mươi năm sau, Phượng Cương tới Bạch Lộc làm quan. Địa phương này có một kỹ nữ nổi tiếng gần xa tên là Lê Vân, rất nhiều công tử cùng các thương gia, hào phú muốn được cùng cô tiêu khiển…

Tuy nhiên, Phượng Cương cùng Lê Vân vừa gặp đã thương, giống như “tiếng sét ái tình” vậy, hai người đều rất yêu thích đối phương. Lê Vân cũng không nghi ngờ gì việc Phượng Cương có mê luyến sắc đẹp của cô hay không, kỹ nữ diễm kiều này đã lấy toàn bộ tiền tiết kiệm được đưa cho Phượng Cương để chuộc cô ra khỏi lầu xanh làm thiếp. Từ đầu, tú bà đã biết Lê Vân là cây hái ra tiền nên cương quyết không đồng ý. Không ngờ, sau đó Lê Vân bỗng nhiên không mắc bệnh mà chết. Phượng Cương vô cùng buồn bã, dùng tiền mà Lê Vân đưa cho để mai táng và xây lăng mộ vô cùng đẹp cho cô.

Một đêm nọ, Phượng Cương đột nhiên nhìn thấy Lê Vân đến bên nói lời cảm tạ: “Tôi là vợ của Mỗ Giáp đầu thai. Số tiền tôi dành dụm được đó là dùng để trả nợ cho Giáp. Những gì anh dùng để mai táng, kiếp sau tôi sẽ báo đáp”. Cô nói xong liền biến mất.

Người xưa dùng lời thề để tỏ lòng thành và đạo lý Chân, Thiện… Ngày nay kẻ gian xảo lại dùng nó để lừa gạt người, che đậy tội lỗi, họ coi đó là một sự ‘khôn ngoan’, thậm chí còn thản nhiên xem nhẹ và giễu cợt, lấp liếm kiểu như: “Tôi mà nói dối thì hai đầu gối bằng nhau!”. Tuy vậy, quả báo là rất rõ ràng, ứng nghiệm thường đúng với lời thề. Cho dù kiếp này thoát được thì kiếp sau cũng phải trả.

Ví như lời thề của Mỗ Giáp đã rất nhanh hiện báo: vợ anh ta chết đi còn phải làm kỹ nữ để trả nợ cho người ta. Cũng may, có lẽ tổ tiên của Giáp đã tích được âm đức nên không nỡ để người con dâu chịu cảnh làm kỹ nữ kéo dài, do đó vợ của Giáp mới sớm qua đời, âu cũng là một phương thức hóa giải lời thề nguyện vậy. Có câu thơ rằng:

“Muôn sự khuyên người đừng giả ác
Trên đầu ba thước có Thần linh
Trời cao luôn dõi dõi nhìn
Mắt thường chẳng thấu, muôn nghìn dối gian”…

[Trích thơ: Vô danh cư sỹ].

Theo Sound Of Hope
San San biên dịch

‘Nắng và mưa’ qua cái nhìn của nhân quả

Trong cuộc sống có đôi khi chúng ta lầm tưởng, mọi thứ đều diễn ra quá êm đẹp và theo chiều hướng tốt để ta có thể đạt được cái mà chúng ta muốn có. Nhưng không hẳn là như vậy mà lắm lúc chúng ta quên đi sự vô thường và biến hoại của vật chất trong từng giây phút đi qua.

Ta có thể tận mắt nhìn một đám mây đang bay ngang trước mắt, nhưng rồi nó cũng phải biến tướng dời đi nơi khác mà không còn nguyên vẹn như ban đầu chúng ta đang có cảm thọ là đám mây kia vẫn ở vị trí cũ.

Và tương tự như vậy, mưa luôn là đối tượng để mọi vật hấp thu thêm nguồn năng lượng, bổ dưỡng thêm cho cây cối, thềm cỏ xanh và những loài côn trùng, sinh vật nhỏ. Từ đó mưa thấm dần vào lòng đất để cấu tạo địa chất, một sự sống không thể thiếu đối với loài người. Hạt mưa dù bé nhỏ đến đâu nhưng vẫn mang một giá trị sống nhất định nào đó cho những nhà khoa học và môi trường lặn lội đi tìm mãi, nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu và sự nóng lên của trái đất ngay trong lòng chính chúng ta. Như thế Đức Phật luôn là con người tiên phong, nắm vững những khái niệm nhân quả có liên quan đến mối “tương quan tương duyên” mỗi khi ánh nắng bình minh bắt đầu vươn lên thì vô vàn, hàng ngàn hạt sương được chuyển qua một đời sống mới ‘tái sinh’.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Tức nhiên chúng ta sẽ thấy rõ hơn về việc nó nhường chỗ cho những sinh vật khác biểu hiện. Lúc đó trời đất sẽ khác đi, những thay đổi của tâm thức vạn vật được nhận thức như một tiếp nối ‘chẳng sinh mà cũng chẳng diệt’ chỉ qua con mắt thường của chúng ta mới có giới hạn, giới hạn từ trong tiếng sấm sét, tiếng của đôi cánh nhạn bay qua sông. Không những thế chúng ta còn lúng túng khi biết sự hiện hữu bất thường của ‘mưa và nắng’, thế mà đôi khi con người lại sợ hãi, ít có chấp nhận sự thay thế của một trạng thái khác nhau.

Hôm tôi đi viếng chùa Đậu ở tỉnh Hà Tây, giữa đường xe dừng lại, hỏi thăm ngỏ vào chùa có hai Thiền sư đắc đạo, có người bảo đi lối này, người kia chỉ hướng phía trước, rồi có người dẫn đường cho xe vào một con đường khác. Trong khi ngồi trên xe mọi người ai cũng cho rằng mình đã đi sai “đạo lộ”, có bác muốn cho xe quay về, có Cô nói, mình cứ đi thử một đoạn nữa xem sao? Có lẽ lúc này với ai cũng đều đúng cả vì chúng ta ai cũng có một hình dung riêng về bhùa Đậu trong đầu, trong vị trí lịch sử. Thế rồi mọi con đường lúc nảy được mọi người chú ý ca tụng lại là cuối cùng chỉ còn duy nhất một con đường đi vào chùa Đậu mà thôi. Bởi vậy chúng ta thường nghĩ cái gì của ta xảy ra là nhất định phải đúng, đúng theo sự máy móc từ vô lượng kiếp, nghiệp lực, tập khí hay còn gọi là nắng và mưa nếu được thay đổi sẽ từ từ.

Có một con đường chuyển hóa ngay trong mọi suy nghĩ, cái thấy chánh niệm. Bầy kiến cũng thế, nếu chúng biết thời gian lột xác thì nó sẽ biết chọn đất đào hang hay cuốn tổ vào một thân cây khỏe khoắn, tập đi tìm lương khô để thoát thân và gửi mình vào cho một đoàn thể. Khi chúng tìm đủ mọi cách để tồn tại thì nhờ cậy sự bảo hộ hay phải gia nhập vào một sự sống mới. Một khi mưa rơi xuống mặt đất mềm là lúc có nắng hiện lên trên táng cây cổ thụ và khi nhân quả cho và nhận là lúc hạt giống thiện ác, bao dung, nóng giận được cất kỉ bên trong tạng thức. Như chúng ta biết tạng thức là cái bao chứa đựng tất cả những tập khí, đối tượng khác nhau, tùy thuật vào khả năng xử lý của ý thức để những suy nghĩ có phần nhận diện ‘chọn lựa’ cho ra bằng được cái mà mình muốn tiếp nhận( bông hoa thơm, dòng nước mát, hạt bụi nhỏ, cành lá khô, giận, thương, tâm hồn đẹp, buồn vui…) khi ta có cái nhìn cụ thể khỏi vướn mắt rồi thì mỗi tướng trạng “câu sanh chủng tử” trên lại một lần nữa sẽ rời ta mà đi hay ở lại, tùy vào tâm hành quyết định:

“Khi căn nhà mục nát

Là mưa dột thấm vào

Nắng xuyên qua khe hở

Tìm đâu người khéo lợp”

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Sau những ngày gieo hạt, quán chiếu vào từng sự sống, ta có thể thấy rõ hơn về quan điểm nhân quả và khi ‘nhìn sóng không phải sóng’ là hiện tượng ‘một có trong tất cả’. Chúng ta cần phải nỗ lực quan tâm hơn về sự tàn phá hủy hoại môi trường sống, đừng bỏ qua việc nhỏ hay vụn về xả rác. Ta nên thực tập sống có lợi ích để giảm bớt hiểm họa về sức khỏe, nguồn nước, cây xanh thiếu dần. Như chính vườn tâm của Đức Phật luôn là một mái ấm cho nhân loại học hỏi, tìm kiếm để yêu thương đồng loại.

Riêng tôi rất đồng cảm với sự quan tâm nguồn nước thải, chuyển hóa rác, nhặt rác bẩn và tiêu thụ bao ni lông của Thượng tọa Giác Viên, Chùa Từ Đức, Cam Ranh. Tôi may mắn được Thượng tọa hướng dẫn cụ thể về phương pháp duyên sinh là “Cái này có, tức cái kia có, cái nay sinh thì cái kia sinh” mới đây tôi mới làm thiết thức hơn cho những con người gần tôi và những lòng lề đường sum quanh ven đường hay những núi rác ở chợ, bến xe, ga tàu, chung cư, sân chơi giải trí, đặc biệt là nơi ngồi nghe pháp thoại, thiền trà, nhà hàng chay sân vườn…Khi ta biết lắng nghe về những mối nguy hại ấy là cuộc sống ta giàu có hơn, suy nghĩ thoải mái hơn, tâm tư con người ta khỏe mạnh hơn và các thế hệ tiếp theo có đạo đức lành mạnh hơn.

Trong dịp kỷ niệm ngàn năm Thăng Long Đô Hội, chúng ta cần phải thể hiện niềm biết ơn sâu sắc đối với đất nước là tự thân của mỗi chúng ta cần dọn bớt rác (Rác bên trong tâm lẫn ngoài tâm) có được những hành động như thế là ta đã ăn mừng và nhớ về cội nguồn tâm linh, cội nguồn tổ tiên rồi, đừng để đến lúc mưa và nắng, thiên tai hủy hoại và địa chấn khủng bố thì ta mới chịu đứng yên thở nhẹ vỗ tay.

Cho nên cuộc đời không như chúng ta nhận thức chỉ vài chút qua loa trên bề mặt “cái thấy” sắc và không. Lẽ dĩ nhiên mọi người phải nhìn được tuệ giác ta là núi, ta là dòng sông và đôi khi ta còn là sự tương tức. Có như vậy thì chúng ta mới đồng hành vào một thế giới duyên sinh, thế giới của sự trở về nương tựa nơi hành tinh xanh này. Như Đức Phật có dạy (cái gì là lõi cây, cái ấy sẽ tồn tại lâu dài). Mỗi khi tôi có dịp đi ra đường vào buổi sáng, thấy từ những con đường bị kẹt xe hằng giờ đồng hồ, trong tôi luôn thở ra những hơi thở bình an và nở ra những đóa hoa tình thương, vì tôi nghĩ mình có thể đóng góp cho xã hội những chất liệu nuôi dưỡng hiểu biết, cảm thông vào con đường đang bị hâm nóng bởi do khí thải, và cảnh người xô đẩy nhau, hấp tấp chen lấn, có khi xô ngả va chạm vào nhau để chiếm được làn xe. Tranh thủ đuổi theo phía trước để tìm cách đến đích. Một sự ‘vọng tưởng’ vô ích.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Thấy vậy tôi thường hạn chế đi ra ngoài, do tôi biết chắc nếu tôi bước ra đường thì mặc nhiên vô tình đã làm khổ lụy thêm trái đất phải gánh nặng bởi sự ô nhiễm và sẽ đụng đến cái tư tưởng đúng đắng của những đối tượng tham gia giao thông. Muốn tiêu thụ tất cả các loại năng lượng, còn đối với những nhà tu hành, họ thường quán niệm rất rõ về sự cống hiến và sự bảo tồn năng lượng, họ luôn xem việc ra đường là đã sả rác, đã làm chết đi môi sinh và họ chọn cách đi bộ để nuôi dưỡng sự sống trong từng tế bào. Chính vì vậy đừng nên để cuộc sống của chúng ta rơi vào “ giọt dầu được bỏ vào bát sữa”. Tôi cảm nhận Thượng tọa Giác Viên luôn thực tập nghiêm túc về sự có mặt của Thầy trong việc làm mới môi trường, vì Thầy thường chia sẻ với mọi người rằng là chúng ta đang sống trong bầu khí quyển của dòng ngân hà và nhờ vào nguồn nước, rau sạch, bóng mát. Thầy đề nghị tự thân mỗi người hạn chế đốt cháy năng lượng xanh mà chúng ta đang sử dụng hằng ngày.

Vừa rồi tôi có chuyến ra Bắc, sau đó được lên Mộc Châu, tôi được một người thân giải thích rằng, bây giờ chè xanh cũng phải chung số phận cho việc tiêu thụ nhanh. Người sơn phu được huấn luyện kỹ lưỡng trong việc bơm thuốc vào từng đọt trà, nếu muốn vườn chè có năng suất, đọt trà xanh thì người chủ sơn trang cần phá bỏ những rào cản của sự sống để thu hoạch trà ngắn thời gian và làm lợi cho việc kinh doanh của những người thu mua. Ngày nay, những ngày mưa không theo mùa nữa và thiên tai đến bất thường, bởi vậy đời sống của mọi cá thể đang gặp khó khăn và lối sống nhờ vả thiên nhiên đang là mối đe dọa làm trái đất vỡ dần.

Kinh Tâm – Thích Pháp Bảo

Biển thủ tiền công đức, chịu quả báo kinh hoàng…

Vào năm Đinh Hợi (1767), lúc đó Hoàng đế Càn Long triều đại nhà Thanh đang tại vị. Thôn Trấn Giang muốn tu sửa miếu Thành Hoàng. Người dân giao cho 3 người trong làng phụ trách việc quyên tiền công đức là Nghiễm Mỗ, Cao Mỗ và Lữ Mỗ. Nhiệm vụ của họ là thu nhận và ghi chép tài chính, ai quyên tiền thì ghi vào sổ công đức… 

Một hôm, vào lúc sáng sớm, khi trời đang mưa, một phụ nữ ngồi kiệu đi tới, từ trong tay áo, cô lấy ra một thỏi bạc giao cho Nghiễm Mỗ và nói: “Đây là 50 lượng bạc dùng công đức tu sửa miếu Thành Hoàng, phiền ngài ghi giúp”. Nghiễm Mỗ nhận thỏi bạc sau đó mới hỏi danh tính người phụ nữ để ghi tên. Người phụ nữ trả lời: “Chỉ là một việc thiện nhỏ, sao cần phải để lại danh tính, phiền ngài chỉ cần ghi rõ số lượng bạc công đức là được”. Cô nói xong liền rời đi.

Sau khi Cao Mỗ và Lữ Mỗ đến, Nghiễm Mỗ đã kể lại câu chuyện cho hai người nghe và cùng họ thương lượng nên ghi như thế nào. Lữ Mỗ cười nói: “Là gì vậy? Lại muốn ghi sổ sao? Nhân lúc không ai biết sự việc này, chúng ta chia nhau khoản tiền, sẽ không ai truy cứu”. Cao Mỗ nói thêm: “Ý tưởng này thật hay”. Nghiễm Mỗ không đồng ý nên đã cố gắng khuyên can, tuy nhiên Lữ và Cao không nghe. Nghiễm không thể làm gì khác đành quay người bỏ đi, ngay sau đó Lữ và Cao đã chia nhau 50 lượng bạc này.

Sau khi công việc sửa miếu hoàn thành, sự tình này chỉ có Nghiễm Mỗ là biết rõ. Tuy nhiên, không đến một năm sau thì Cao chết, năm kế tiếp thì Lữ qua đời. Sau đó, Nghiễm cũng không nói với ai một lời về việc này.

Vào mùa xuân năm Mậu Tuất, hiệu Càn Long (1777), Nghiễm Mỗ mắc bệnh nặng, đang trong cơn hôn mê thì thấy có hai vị sứ giả, tay cầm trát đến nói với ông: “Một người phụ nữ tố cáo ông với Thần Thành Hoàng, chúng tôi phụng chỉ đến đưa ông tới đối chất”. Nghiễm Mỗ hỏi hình dáng của người phụ nữ này trông như thế nào, tuy nhiên hai vị sứ giả trả lời là không biết. Sau đó, Nghiễm đã vâng lệnh đi theo hai sứ giả đến miếu Thành Hoàng. Bình thường ở lối vào của ngôi miếu rất sôi động, tuy nhiên hôm nay ông lại thấy vắng vẻ và trang nghiêm lạ thường, hơn nữa còn không có một bóng người qua lại. Ngày bình thường, quầy bán hàng cùng sạp xem bói quẻ, toán đoán mệnh được bày đầy ở lối đi, hai bên cửa miếu đều có người ở đó, nhưng giờ thì chỉ thấy sai dịch đứng trực đợi cửa.

Sau khi bước qua cây cầu gỗ rồi tiến vào bên trong lớp cửa thứ 2, một người đeo gông cùm nhìn thấy Nghiễm Mỗ liền hét lớn: “Nghiễm đệ đã đến rồi”. Nghiễm mỗ nhìn kỹ một chút thì phát hiện ra đó là Cao Mỗ. Cao Mỗ vừa khóc vừa nói: “Đệ à, huynh qua đời đã 5 năm rồi, tính đến thời điểm hiện tại đã chịu phạt 4 năm tội lỗi, đều là những tội mà khi còn sống đã gây ra. Vì vụ việc liên quan đến chia tiền công đức mà phải đến đây chờ xét xử”. Nghiễm Mỗ trả lời: “Việc chia tiền công đức đã xảy ra hơn 10 năm rồi, vì điều gì mà sự việc đó lại được nhắc lại, chắc là do người phụ nữ kia đã tố cáo phải không?”.

Cao Mỗ nói: “Không phải. Người phụ nữ kia đã qua đời cách đây hai tháng. Người ta sau khi chết, quỷ hồn đều áp giải họ đến miếu Thành Hoàng. Người phụ nữ đó là một người tốt, sau khi qua đời, quỷ hồn có đưa cô đến trước mặt Thần Thành Hoàng để thẩm tra, Thành Hoàng có hỏi đùa bà: “Nghe nói khi còn sống, nhà ngươi rất thích làm việc thiện. Mấy năm trước miếu Thành Hoàng được mọi người quyên góp tu sửa, nhà ngươi thuộc loại người phóng khoáng tiền bạc mà không chi ra đồng nào, đây là vì điều gì?” Người phụ nữ đáp: “Ngày 20/6 năm đó, tôi có quyên góp 50 lượng bạc và đưa cho một vị tú tài họ Nghiễm để tu sửa miếu. Tôi thấy đây là việc quá nhỏ nên không muốn ghi danh vào sổ công đức, cho nên Ngài không biết chuyện này”.

Thấy vậy, thần Thành Hoàng đã sai quan trông coi việc ác điều tra kỹ lưỡng vấn đề này. Những thứ không được ghi chép trên giấy tờ đều lộ hết ra rồi. Bởi vì lúc trước không nghe khuyên can nên huynh mới bị gọi đến đây để đối chất”. Nghiễm Mỗ hỏi: “Sao không thấy Lữ huynh? Anh ấy giờ ở đâu?” Cao Mỗ thở dài một tiếng rồi trả lời: “Khi còn sống, anh ấy đã tạo quá nhiều nghiệp chướng, không chỉ đắc tội ở mỗi việc chia tiền công đức này, giờ đang chịu đọa đày trong địa ngục”.

Cao Mỗ vừa dứt lời thì đột nhiên có hai sai dịch đi tới nói với hai người: “Thần Thành Hoàng đã thăng đường thẩm vấn”. Sau đó Cao và Nghiễm đã đi theo sai dịch đến công đường. Tới nơi, hai người thấy hai tiểu đồng cầm theo thẻ bài dẫn theo một người phụ nữ tới, tiếp đến là một sai dịch khác dẫn theo một tên tội phạm đeo gông cùm tới, người này chính là Lữ Mỗ. Những người liên quan đến vụ án đã được mời đến đông đủ. Thần Thành Hoàng bắt đầu xử án. Ngài thẩm vấn Nghiễm Mỗ: “Người phụ nữ tốt bụng kia có từng đưa bạc tới tận tay cho nhà ngươi không?” Nghiễm mỗ nghe xong liền đem toàn bộ sự việc kể lại từ đầu đến cuối.

Sau khi nghe xong, Thần Thành Hoàng nói với phán quan hầu tòa ngồi bên cạnh: “Vụ án này liên quan đến văn phòng sửa chữa, một mình cá nhân ta không thể xử. Hãy viết rõ tình tiết vụ án và áp giải người liên quan đến điện Đông Nhạc đại đế, để ông ấy định đoạt”. Nói xong, hai tiểu đồng nhận được lệnh đưa người phụ nữ tốt bụng về nhà.

Hai sai dịch nhận lệnh giải Nghiễm, Cao, Lữ ra cửa tây miếu Thành Hoàng. Trên đường đi có rất nhiều người, có người nam mặc trang phục phụ nữ, cũng có phụ nữ mặc trang phục của nam, trên đầu đội bao muối, trên thân có da cừu da chó, chỗ nào cũng màu đen.

Một trong hai viên sai dịch nói: “Đây là những người đã chết trong vụ đốt thuyền muối năm Càn Long thứ 36. Bất kể là do chết chìm hay chết cháy, hôm nay nghiệp đã trả đủ và chuẩn bị đi đầu thai”. Sai dịch nói với Nghiễm mỗ: “Khó được Đông Nhạc đại đế thẩm vấn hôm nay, chúng ta nhanh đưa tài liệu”. Nói xong, một trong hai sai dịch liền đi ngay.

Chỉ trong chốc lát, sai dịch vừa đi trình án đã chạy lại nói: “Tài liệu đã được gửi, lại đây nghe xử án”. Nghiễm mỗ cùng Cao và Lữ lập tức chạy tới, chưa kịp dừng chân thì đã nghe thấy trên điện có người tuyên án nói: “Cao Mỗ ăn trộm tiền công đức, tội không lớn, cứ dựa theo Thành Hoàng định tội, cho hắn mang chiếc gông; Lữ Mỗ, khi còn sống thường dựa vào viết lách mà ăn tiền đút lót, ghi đơn kiện, hại dân lành, tội lỗi không nhỏ, ngoài việc phải đeo gông, cần để Hỏa Thần thiêu đốt thân thể. Nghiễm Mỗ là một người chính nghĩa, dương thọ chưa hết, đưa hắn lên dương gian càng sớm càng tốt”.

Nghiễm Mỗ nghe xong vô cùng bàng hoàng. Từ trong mơ tỉnh dậy, thấy bản thân đang nằm trên giường, người trong nhà đều mặc áo vải để tang. Nghiễm Mỗ hỏi thăm xem trong nhà có sự tình gì nghiêm trọng, người nhà đáp: “Anh đã chết 3 ngày rồi, chỉ vì trong thấy cơ thể anh luôn phát ra khí nóng nên mọi người vẫn chưa khâm liệm mà ở đây trông coi”. Sau khi nghe xong, Nghiễm Mỗ liền kể lại sự tình trong mộng, người nhà đều cả sợ nhưng trong lòng vẫn bán tín bán nghi. Vào đêm tháng 8 một năm sau đó, nhà họ Lữ phát sinh hỏa hoạn, gia tài của họ Mỗ bị cháy sạch.

Theo Sound Of Hope 
San San biên dịch

Báo ứng hiện đời: Hộ trì Phật pháp bằng đức hạnh

Khi tụng kinh không nên tham mau, đọc qua loa. Trong lúc tụng kinh, âm, khẩu, mắt, phối hợp hỗ tương cho đồng sẽ không hôn trầm, tán loạn. Tụng từng chữ từng câu cũng đồng như tụng ngàn chữ ngàn câu, tụng một bộ kinh giống như tụng ngàn bộ kinh. Như vậy pháp giới chúng sinh mới được hưởng lợi ích.

Tôi hỏi sư phụ: Con thấy Nữ sĩ kia một mực chí thành hộ trì tự viện, hay bố thí tham gia pháp hội, nhưng hiện giờ bà đang bị ung thư phổi, bệnh viện cũng không trị nổi. Xin hỏi Sư phụ nguyên nhân căn bệnh của bà.

Sư phụ đáp:

– Làm người không nên để cho tâm danh lợi làm lụy, chẳng nên khởi tâm cống cao ngã mạn, Phải biết lúc ta đến cõi đời này vốn là trần trụi thi khi lìa thế gian vẫn phải trắng tay, không đem theo được gì. Danh lợi giống như khói mây thoáng qua, không nên vì danh lợi mà khởi tâm cống cao ngã mạn. Chỉ có tâm thanh tịnh mới được Phật quang gia hộ. Nếu dùng tâm xấu, tâm cống cao ngã mạn mà bố thí tài vật cho chùa, thì tự viện giống như cung điện chứa vàng chất bạc, kẻ cúng bằng tâm chứa độc như thế chỉ làm nhiễm ô người tu hành phạm hạnh. Còn nếu không những đem tài vật cúng dường, mà còn biết dùng đức hạnh hộ trì tự viện, thì tự viện mới thành là đạo tràng vạn đức trang nghiêm, hóa độ thập phương rộng rãi.

Khi tụng kinh không nên tham mau, đọc qua loa. Ảnh minh họa.

Hãy bảo bà ấy ngoài việc tu tâm sửa tính giữ lòng khiêm cung ra, còn phải tụng kinh Địa Tạng để tiêu trừ túc nghiệp. Khi tụng kinh không nên tham mau, đọc qua loa. Trong lúc tụng kinh, âm, khẩu, mắt, phối hợp hỗ tương cho đồng sẽ không hôn trầm, tán loạn. Tụng từng chữ từng câu cũng đồng như tụng ngàn chữ ngàn câu, tụng một bộ kinh giống như tụng ngàn bộ kinh. Như vậy pháp giới chúng sinh mới được hưởng lợi ích. Không chỉ giữ gìn ngôn hạnh không tham, sân, si mà phải hằng có tâm điều phục chúng. Giống như làm cỏ phải diệt tận gốc, mới không lưu lại hậu hoạn.

Khi tôi đem lời Sư phụ dạy chuyển đến nữ cư sĩ, bà nói: “Sư phụ phê bình rất đúng!”. Bà nhìn nhận đây là khuyết điểm bản thân và chân thành biểu lộ sự ăn năn. Sau đó bà buông bỏ hoàn toàn, không thèm quan tâm đến chuyện bệnh tật nữa, cứ ở nhà tụng Kinh Địa Tạng.

Trong lúc tụng kinh, âm, khẩu, mắt, phối hợp hỗ tương cho đồng sẽ không hôn trầm, tán loạn.

Khi tụng đến bộ thứ 7 thì cảm thấy bệnh trên thân thể như lành được một nửa. Lúc đến bệnh viện để kiểm tra xét nghiệm thì bướu ác tính đã trở thành lành tính! Niềm vui của Bà quá ước mong, làm tăng thêm niềm tin đối với Sư phụ.

Khi bác sĩ đề nghị phẫu thuật để cắt bỏ, bà không chịu, quay về tiếp tục tụng Kinh Địa Tạng, lúc tụng đến bộ thứ 19, thì cảm thấy sức khỏe tràn đầy. Hằng ngày bà lễ Phật hơn trăm lạy mà không thấy mệt. Sau đó bà lại đến bệnh viện tái kiểm tra, kết quả cho thấy khối u trong phổi đã hoàn toàn biến mất, không còn lưu một dấu vết nào. Quả là một kỳ tích!

Đến nay đã gần 5 năm, mùa xuân năm 2000 bà đi xe từ Thiên Tân đến thăm tôi, thấy bà có vẻ khang kiện còn hơn hồi trẻ rất nhiều. Thực là lạ!

Tại sao người sống thiện, tinh tấn tu hành lại gặp nhiều ác nghiệp?

Hỏi: Con thường nghe băng giảng rằng nếu trợ niệm cho người sắp lâm chung và người ấy được vãng sanh thì công đức của người trợ niệm là vô cùng lớn. Thêm vào đó, nhờ trợ niệm cho người sắp lâm chung giúp bản thân mình được thêm tinh tấn tu hành, niệm Phật được tín tâm hơn.

Ở nơi con ở đã cố gắng hình thành một ban trợ niệm giúp người lâm chung khi cần. Tuy nhiên vừa qua, có một anh trưởng ban của đạo tràng niệm Phật và ban trợ niệm lại bị tai nạn chết bất đắt kỳ tử, chúng con không thể tiến hành trợ niệm. Mọi người vô cùng hoang mang vì người đạo tràng trưởng này chuyên làm việc thiện, luôn sẵn sàng đi trợ niệm giúp người mọi lúc mọi nơi. Vậy nếu đúng ra theo lý nhân quả người đạo tràng trưởng này phải có quả tốt và người niệm Phật luôn có các vị Bồ Tát gia hộ. Vậy tại sao lại bị nhân quả như thế này? Nếu vậy người ấy sẽ sanh về cảnh giới nào. Xin Sư hoan hỷ cho chúng con được biết.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Đáp:

Làm phước được phước:

Người có tâm trợ niệm cho người sắp lâm chung và người lâm chung được vãng sanh thì công đức của người trợ niệm vô cùng to lớn. Trong kinh Địa Tạng, phẩm thứ VII, Phật dạy: “Như có người nam cùng người nữ nào lúc sanh tiền không tu tạo phước lành mà lại gây lấy những tội ác, sau khi người mạng chung, hàng thân quyến kẻ lớn người nhỏ vì người chết mà tu tạo phước lợi làm tất cà việc về thánh đạo, thời trong bảy phần công đức người chết nhờ đặng một phần, còn sáu phần công đức thuộc về người thân quyến hiện lo tu tạo đó…”. Vì vậy, nên những người thiện nam cùng thiện nữ ở hiện tại và vị lai, nghe lời nói vừa rồi đó nên cố gắng mà tu hành sẽ đặng hưởng trọn phần công đức.

Việc trợ niệm cho người sắp lâm chung được vãng sanh là một Phật sự lớn như tất cả các Phật sự lớn khác trong nhà Phật, mà quan trọng nhất là việc niệm Phật trợ duyên cho người sắp lâm chung là việc dành cho những người con Phật phát bồ đề tâm giúp người cứu người trong cơn bức ngặt. Việc giúp người cứu người là việc hệ trọng, không cần đắn đo suy nghĩ “làm việc thiện để được đem đến sự tốt lành, quả lành”. Người làm việc thiện, Bạn cần giữ tâm trong sạch, thần thái tinh mơ như một vị Bồ tát “thi ân bất cầu báo”; chắc chắn khi giúp người chính là Bạn đang trang nghiêm công đức bồi đắp cho phần tự thân được nhiều quả phước cho tương lai rồi đó.

Ban Hộ niệm ở nơi Bạn có thỉnh quý Sư chứng minh không? Rất cần sự chứng minh của quý Sư, để nhằm vào việc nương tựa công đức của Tăng già, thì Phật sự của Bạn càng được trang nghiêm và vững chảy hơn, công đức tạo tác của Bạn vẫn không mất mát vào đâu, nhưng sẽ làm cho các Bạn nhẹ nhàng, thân tâm thư thái, những chướng duyên nạn tai không quấy nhiễu.

Lại nữa, công đức của người xuất gia sẽ ảnh hưởng lực đến kẻ mất người còn, khiến cho các nghiệp duyên trong ba đời đều được giảm nhẹ dẫn đến siêu thoát, không còn những ảnh hưởng lực xấu xảy đến, không còn những chướng duyên, nghịch lý làm tổn hại đến thân hoặc tâm của người làm Phật sự.

Làm phước gặp nạn?

Kinh Trung A Hàm, Phật dạy: “Tất cả chúng sanh đều có cái nghiệp của mình”. Nghiệp là do tự mỗi người tạo từ nhiều đời trước, khi đã tao thì chính những nghiệp ấy đi theo người đó từ đời nầy sang đời khác như bóng theo hình, như bánh xe lăn theo con vật kéo xe. Khi nào có đủ điều kiện, đủ duyên thì kết thành quả.

Thuở Đức Phật còn tại tiền, có chàng thanh niên tên Sudha, thắc mắc trước trạng huống bất đồng giữa loài người, muốn tìm chân lý, đến gần Ngài và bạch rằng:

“Bạch Đức Thế Tôn, vì lý do nào và nguyên nhân nào trong đời có người yểu và có người thọ, người bệnh hoạn và người khoẻ mạnh, người xấu xa và người đẹp đẽ , có hạng người làm gì cũng không ai làm theo, nói chi cũng không ai nghe và hạng người có thế lực, làm gì cũng có người theo, nói chi cũng có người nghe , có người nghèo khổ và người giàu sang , có người sanh trưởng trong gia đình bần tiện và có người dòng dõi cao sang, có người dốt và có người trí tuệ ?

Đức Phật trả lời vắn tắt như thế này:

“Tất cả chúng sanh đều mang theo cái Nghiệp của chính mình như một di sản, như vật di truyền, như người chí thân, như chỗ nương tựa. Chính vì cái nghiệp riêng của mỗi người mỗi khác nên mới có cảnh dị đồng giữa chúng sanh.”

Vị Đạo tràng trưởng của Ban, đứng đầu Ban Hộ niệm cũng có sứ mạng thiêng liêng cao cả, tuy nhiên không vượt qua được những nghiệp dĩ, quá khứ gần hoặc xa xôi tiền kiếp, do “nghiệp sát” nhiều nên mệnh yểu theo quy luật nhân quả dưới dạng mọi hình thức (tam đồ bát nạn). Việc trợ duyên cho người lâm chung vãng sanh là trang nghiêm công đức tô bồi cho báo thân vị Đạo tràng trưởng sẽ được phần thưởng xứng đáng và thọ hưởng trong tương lai. Theo luật nhân quả, không nên suy niệm và dùng những công đức hiện tại có được để cân đối che chắn với những tác nhân tạo nghiệp ác từ kiếp trước!

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Sự biến chuyển từ nhân đến quả có khi nhanh khi chậm, chứ không phải bao giờ cũng diễn tiến trong một thời gian đồng nhất:

Có những nhân và xảy ra kế tiếp nhau, liền nhau, nhân vừa phát khởi thì quả đã xuất hiện, như khi vừa đánh xuống mặt trống (nhân) thì tiếng trống liền phát hiện ra (quả); hay khi hai luồng điện âm và dương vừa gặp nhau, thì ánh sáng liền bừng lên. Có khi nhân đã gây rồi, nhưng quả đợi một thời gian, quả mới hình thành, như từ khi gieo hạt giống, cho đến khi gặt lúa, cần phải có một thời gian ít nhất là bốn tháng. Có khi từ nhân đến quả cách nhau từng chục năm, như đứa trẻ mới cắp sách đi học đến ngày thành tài, phải qua một thời gian ít nhất là mười năm.

Có khi cần đến một vài trăm năm, hay nhiều hơn nữa quả mới xuất hiện. Chẳng hạn như từ ý niệm giành độc lập của một quốc gia, đến khi thực hiện được nền độc lập ấy, cần phải qua bao thế kỷ.

Vì lý do mau chậm, trong sự phát hiện cái quả, chúng ta không nên nóng nẩy hấp tấp, mà cho rằng cái luật nhơn quả không hoàn toàn đúng, khi thấy có những cái nhân chưa phát sinh ra quả (Phật học Phổ Thông – Lý Nhân Quả trang 245 – tác giả HT. Thích Thiện Hoa).

Trong quá trình tạo nghiệp, nghiệp báo chúng sanh thường đi đôi với luật nhân quả, nghiệp lực của một người đã tạo trong quá khứ khi đủ điều kiện chín mùi thì quả sẽ đến ngày trong giây phút hiện tại và những tác nhân hiện tại sẽ xây dựng cho quả báo trong tương lai, cứ như thế xây vần như một quy luật tất yếu: Tuy nhiên thường thì chúng sanh ít thấy, nhưng làm con nhà Phật sẽ thấy rõ như ban ngày! Vì thế Bạn không nên bi ai về việc vị Đạo tràng trưởng làm phước, tại sao gặp nạn tai thọ yểu!

Phật giáo nhìn nhận có phần ảnh hưởng của sự truyền thống (gen) và của giới thân cận (cộng nghiệp), nhưng không đủ để chứng minh. Thế nên, Phật giáo thêm vào định luật nghiệp báo, tức là sự tổng hợp các hành động khác trong quá khứ và hiện tại. Chính chúng ta phải lãnh phần trách nhiệm về những hành động của chúng ta trong quá khứ và gặt hái hoàn cảnh an vui hay đau khổ trong hiện tại. Chính ta tạo thiên đàng cho ta. Cũng chính ta tạo địa ngục cho ta. Ta là người xây dựng tương lai của ta….( Đức Phật và Phật Pháp – Lý Nhân Quả, chương 18-21, tác giả Nàrada Mahà Thera – Phạm Kim Khánh dịch).

Làm Phật tử, Bạn nên có những suy nghiệm tích cực hơn sẽ hóa giải những bi quan trong đời sống hằng ngày.

Mệnh yểu chết bất đắc kỳ tử sanh về đâu?

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Người mệnh yểu, chết bất đắc kỳ tử: Quan niệm người đời là chết không có hẹn, không định hướng, không biết thần thức xuôi về đâu!

Người chết thọ yểu, chết bất đắc kỳ tử vẫn đi theo nghiệp thức của người đó mà tái sanh. Nếu họ làm thiện thì đi về cõi thánh thiện Trời, Người, làm ác thì về cõi ác A tu la, Địa ngục, Ngạ quỹ, Súc sanh. Dù người đó có qua đời theo hình thức nào đi nữa, nhưng thức tâm vẫn phải bi cuốn hút theo nghiệp lực đã tạo.

Trong kinh A Hàm có câu chuyện, như sau: Ông Ma Ha Nam là em bà con chú bác với đức Phật. Khi đức Phật trở về hoàng cung giáo hóa trong thân tộc, thì ông đến xin Phật cho ông quy y giữ năm giới và tu thập thiện. Đức Phật tán thán sự phát tâm của ông và cho ông được toại nguyện. Từ ngày đó, ông trở thành một vị Ưu bà tắc rất thuần thành.

Một hôm, Cư sĩ nêu ra vấn đề hỏi Phật, bạch Đức Thế tôn: Một người cả đời vâng theo lời Phật dạy tu hành, chuyên làm việc thiện, bỗng một hôm nào đó, bất thần xảy ra tai nạn, chết bất đắc kỳ tử, như vậy, thì thần thức người đó sẽ sanh về đâu? Có bị sa đọa địa ngục không? Vì chết như thế, đâu có ai trợ duyên niệm Phật cho mình mà được siêu thoát!

Đức Phật không trả lời thẳng câu hỏi của ông, mà đức Phật hỏi vặn lại:

Nầy Cư sĩ Ma Ha Nam, giả như có một cái cây mà nó đã nghiêng sẵn về một hướng, bỗng một hôm có người đến cưa, thì cây đó ngã về hướng nào ?

Thưa Thế Tôn, cây nghiêng hướng nào, khi cưa thân cây sẽ ngã theo hướng đó.

Phật dạy: “Cũng vậy đó Cư sĩ, hàng ngày Cữ sĩ thường tạo nghiệp lành, khi chết thì ông sẽ theo nghiệp lành mà tái sanh vào cõi lành. Ngược lại, nếu người nào hàng ngày tạo nghiệp ác, thì khi chết sẽ tái sanh vào cõi ác. Như vậy không phải người chết bất đắc kỳ tử là đọa địa ngục”.

Người chết, dù chết già, chết trẻ, chết ở tuổi trung niên, chết bất đắc kỳ tử nghiệp dĩ không mất, mà thần thức sẽ theo nghiệp thiện hoặc nghiệp ác mà hóa sanh vào cảnh giới lành hay cảnh giới dữ. Đối với người con Phật, điều quan trọng là hàng ngày chúng ta nên xem xét lại mình, kiểm soát những hành vi cử chỉ của mình, những suy nghĩ của mình tạo nghiệp lành nhiều hay nghiệp ác nhiều. Hiện đời mình nặng về nghiệp gì, thì khi chết mình sẽ đi theo nghiệp đó.

Căn cứ theo lời Phật dạy cho Cư sĩ Ma Ha Nam, thì chúng ta không nên lo sợ, khi chết bất đắc kỳ tử không biết có sanh về cảnh giới lành hay không? Vấn đề nầy, nếu suy nghiệm vào đời sống thực tế của người đó, thì chúng ta sẽ thấy rõ họ sanh về đâu.

Trong lúc thọ báo, người chết bất đắc kỳ tử, là trường hợp chết không có ý niệm trước, tuy nhiên vẫn ở trong môi trường của cận tử nghiệp, như vậy cái nghiệp tích lũy thiện ác trước kia vẫn không bao giờ mất. Qua khỏi thời điểm cận tử nghiệp, tùy thời gian lâu mau không nhứt định, thì ta trở lại thụ hưởng cái tích lũy nghiệp mà hiện đời ta đã gây tạo. Nếu là nghiệp lành như vị Đạo tràng trưởng của Bạn, thì sanh về cảnh giới lành, như nếu tái sanh làm người thì vẫn được có địa vị cao quý trong xã hội, hay giàu sang tột bực, nếu có tu hành niệm Phật trường chay thì chắc chắn vãng sanh Cực Lạc… Ngược lại, chiêu cảm quả ác thì!!!

Nhân quả ba đời thật không sai

Thiện ác sinh ra đã an bày

Hành thiện găp thiện là chơn lý

Ác báo nhãn tiền phải trả vay

Vì sao người giàu mà ta nghèo?

Quan sát cuộc sống xung quanh chúng ta thấy rằng có nhiều người khá giả nhưng cũng có không ít người rất nghèo.

Họ nghèo vì biếng nhác, vụng về, đau ốm… thì đã đành. Nhưng có người đã hết sức cố gắng, đã làm đủ mọi cách nhưng vì nhiều lý do khác nhau chi phối nên vẫn không thoát được nghèo túng, thậm chí có người nghèo đến nỗi gần như mạt. Cái nghèo khó luôn bó lấy cái khôn ngoan nên có lúc họ gần như cùng quẫn. Vẫn biết “cùng tắc biến” nhưng “biến” không phải lúc nào cũng “thông” nên nghèo khó và lận đận cứ quay vòng lẩn quẩn mãi.

Mấy ai biết rằng, chúng ta giàu có hôm nay là do nhân lành của bố thí ngày trước. Và mấy ai ngộ ra rằng, sự nghèo khó trong hiện tại là do nhân ác nơi quá khứ trộm cướp của người. Nên người giàu muốn về sau tiếp tục khá giả giàu sang thì cần bố thí, san sẻ nhiều hơn. Còn người nghèo muốn đổi đời thì trước hết nên thành tâm sám hối nghiệp chướng rồi phát tâm công quả, bố thí (ngoài bố thí trong khả năng, rất cần tùy hỷ thí) và chí thú làm ăn lương thiện may ra mới khá lên được.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Thế nên, giàu sang cũng không nên quá tự hào và ỷ lại, mà nghèo khó cũng không nên quá tự ti và làm quấy làm càn. Hãy chiêm nghiệm lời dạy của Thế Tôn về sự giàu nghèo để tìm ra hướng đi đúng đắn cho cuộc đời mình:

“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Ở trong chúng này, Ta không thấy một pháp nào đã được thực hành, thực hành nhiều rồi lại thành hạnh địa ngục, hạnh ngạ quỷ, hạnh súc sanh, nếu sanh trong loài người rất là nghèo túng, áo không đủ che thân, cơm chẳng đầy miệng như là việc ăn trộm.

Này các Tỳ-kheo! Nếu có người ý thích trộm cắp lấy tài vật của người khác, liền đọa trong ngạ quỷ, súc sanh; nếu sanh trong loài người rất là nghèo túng. Vì sao thế? Vì đoạn dứt nghiệp sống của người khác. Thế nên này các Tỳ-kheo, hãy học đừng lấy của chẳng cho. Như vậy, các Tỳ-kheo, hãy học điều này!

– Ở trong chúng này, Ta không thấy một pháp nào đã được thực hành, thực hành nhiều rồi hưởng phước trong loài người, hưởng phước trên trời, được chứng Niết-bàn, như là bố thí rộng rãi.

Này các Tỳ-kheo! Nếu có người rộng hành bố thí, ở đời hiện tại được sắc đẹp, được sức lực, được đầy đủ, trên trời, trong loài người hưởng phước vô lượng. Thế nên, các Tỳ-kheo, nên hành bố thí, chớ có tâm keo kiệt. Như thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập I, phẩm Ngũ giới, VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.185).

Rõ ràng, cuộc sống hiện tại của mình là do chính phước nghiệp của mình chi phối. Nhân quả – Nghiệp báo luôn gắn bó chặt chẽ với nhau như bóng theo hình. Suy nghiệm sâu sắc chúng ta sẽ thấy, giàu hay nghèo đều có nguyên nhân, không phải ngẫu nhiên hay tự nhiên, không do hên xui may rủi, tự thân mình tài giỏi hay vụng về chỉ là tác nhân trong hiện tại còn có sự chi phối mãnh liệt của nhiều tác nhân quá khứ nữa.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Thấy được như vậy rồi, người đệ tử Phật sống có trách nhiệm với bản thân mình, tin tưởng sâu sắc vào nhân quả, tôn trọng tài sản của người khác, quyết không lấy bất cứ thứ gì dù nhỏ như cây kim ngọn cỏ nếu không được cho, nhất là thận trọng với các nguồn lợi có được dễ dàng vốn không phải do công sức mình làm ra. Chỉ thực hành chừng ấy thôi, người đệ tử Phật đã làm được rất nhiều trong quá trình tu dưỡng và hoàn thiện tự thân cũng như đã đóng góp rất nhiều cho việc xây dựng xã hội lành mạnh, văn minh.

Trong bối cảnh đời sống xã hội mà trộm cướp như rươi, tham nhũng là quốc nạn thì nhận thức và tu dưỡng bản thân về “giàu và nghèo” theo như lời Phật dạy có ý nghĩa căn cơ trong việc thiết lập nền tảng đạo đức cho cộng đồng. Chỉ cần tu tập hạnh “đừng lấy của chẳng cho” và “nên hành bố thí, chớ có tâm keo kiệt” thì đã góp phần không nhỏ đem đến bình an cho bản thân và phú cường cho đất nước.

Báo ứng hiện đời: Ăn chay trì giới mới được lợi ích

0

Phật, Bồ tát là bác sĩ tốt nhất trên thế gian. Phật pháp là thuốc hay nhất trong vũ trụ. Nhưng do phần đông người ta không hiểu rõ, không biết đế7n vị thuốc tối hay này. Người ta hoàn toàn không biết là mỗi người đều tự có kho báu, thực quá đáng tiếc.

Đổng phu nhân ngụ ở tầng dưới, tuổi hơn 40, tính tình chất phác, rộng rãi. Bà bị tiêu chảy mười mấy năm nay. Hàng ngày phải đi ít nhất 4-5 lần, nhiều thì mười mấy lần. Hễ bụng vừa đau là phải ra nhà xí, bác sĩ nói bà bị viêm ruột mãn tính. Dù uống rất nhiều thuốc nhưng không có hiệu quả.

Có lần bà lên nhà, hỏi tôi cách gì giúp bà không?

Tôi hóm hỉnh bảo:

– Tôi sẽ ra thuốc cho bà, chỉ cần bà chịu dùng y theo “toa” kê. Thì bảo đảm bệnh tật sẽ tiêu. Và hạng “bác sĩ” như tôi đây, một xu cũng không lấy.

Bà Đổng thực thà nói: – Ông cứ kê toa đi, tôi tin ông mà! Đắt mấy tôi cũng mua, đắng mấy tôi cũng uống!

Ăn chay không chỉ tốt cho thân bệnh mà còn tốt cho cả tâm bệnh.

Ăn chay không chỉ tốt cho thân bệnh mà còn tốt cho cả tâm bệnh.

Tôi nói:

– Thuốc tôi cho không làm bà tốn tiền. Tôi thấy bà phải sớm ngưng ăn thịt, gà, vịt, cá… Vì ruột, dạ dày của bà không tiếp thọ đồ hôi tanh, do vậy mà mỗi ngày bà đều đi tiêu chảy. Bắt đầu từ nay trở đi, trừ trứng gà không trống ra, bà phải đoạn dứt việc ăn thịt và nên ăn chay hoàn toàn.

Tôi nói thêm:

– Kể từ tối nay, trước khi sắp ngủ, bà hãy thư giãn thân, ngồi cho tốt, hít thở đều, tĩnh tâm lại, nhắm mắt niệm: “Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát” nửa tiếng. Chỉ cần bà thành tâm, thì sẽ mau chóng có kết quả. Nếu niệm một tháng mà không hiệu quả, xem như tôi nói không đúng, tôi sẽ để bà ăn thịt lại. Dù sao dùng toa này không tốn tiền, bà có muốn thử hay không?

Bà nghe tôi nói, mặt đầy nghi ngờ, hỏi:

– Nè, một nữ đồng nghiệp của tôi cứ đến rằm, mồng một là đi chùa tụng kinh. Ngày nào cũng thành tâm thắp hương trong nhà, nhưng bà ta khắp thân đều bệnh. Đã từng châm, tiêm, uống thuốc biết bao ngày, nhưng bệnh vẫn không ngớt, như thế thì ông giải thích sao đây?

Tôi chất vấn:

– Bà ta ăn chay hả?

– Người ta bảo bà: “Là cư sĩ tại gia thờ Phật, chỉ cần không sát sinh là được rồi, có thể ăn tam tịnh nhục”… cho nên bà cứ thế mà ăn – Bà Đổng trả lời.

Ngồi thiền niệm Phật kết hợp với ăn chay giữ giới mang lại lợi ích vô cùng lớn.

Ngồi thiền niệm Phật kết hợp với ăn chay giữ giới mang lại lợi ích vô cùng lớn.

Tôi hỏi:

– Giả sử có người hút thuốc mà bị bệnh phổi, do uống rượu mà bệnh gan, thì có phải là không cần kiêng cữ gì, cứ mặc tình hút thuốc, nhậu thả ga, chỉ cần tiêm chích, uống thuốc là bệnh sẽ lành, phải vậy không?

– Đây là điều không thể – Bà đáp.

– Cũng giống như thế thôi. Do ăn thịt chúng sinh mà bệnh, thì trước tiên cần phải đình chỉ ăn thịt. Phải tụng kinh, niệm Phật mới có hiệu quả. Bởi do không hiếu kính phụ mẫu hoặc tạo ác nghiệp mà bị bệnh, thì trước cần đoạn ác nghiệp, phát tâm sám hối, cầu chư Phật gia trì mới hiệu nghiệm.

– Phật, Bồ tát là bác sĩ tốt nhất trên thế gian. Phật pháp là thuốc hay nhất trong vũ trụ. Nhưng do phần đông người ta không hiểu rõ, không biết đến vị thuốc tối hay này. Người ta hoàn toàn không biết là mỗi người đều tự có kho báu, thực quá đáng tiếc. Nếu như chẳng thể tuân hành theo lời Phật dặn, thì bất kể dùng thuốc chi, khám bác sĩ nào, bệnh của bà cũng trị không hết. Tôi nói có đúng không?

– Ông giảng thì tôi hiểu rồi. Từ nay tôi bắt đầu, trong vòng một tháng thực hành “toa” ăn chay niệm Phật mà ông vừa cho. Nếu thực sự làm vậy mà bệnh lành, thì tôi nguyện từ nay trở đi không ăn thịt nữa, mà sẽ học tập theo ông – ngày ngày ăn chay niệm Phật.

Tối hôm sau, bà Đông mặt mày hớn hở, báo cho tôi:

– Đêm qua tôi về nhà rồi bụng không bị đau, lúc dùng tối cũng không ăn thịt. Trước khi sắp ngủ thì ngồi tĩnh tọa, tôi nhắm mắt niệm Phật, niệm một chút thì toàn thân phát nóng, thầm nghĩ: “Đây có phải là cảm ứng chăng?” Càng niệm thì tâm càng hoan hỷ. Đến lúc cảm thấy hai chân bị tê thì tôi mở mắt. Ôi chao! Hóa ra đã hơn cả tiếng đồng hồ rồi. Tôi buông chân ra, toàn thân toát mồ hôi. Cảm giác như mới vừa được tắm xong nước nóng vậy, thấy toàn thân cực kỳ nhẹ nhàng, thư thái.

Phật pháp là thuốc hay nhất trong vũ trụ.

Phật pháp là thuốc hay nhất trong vũ trụ.

Rồi bà hí hửng nói:

– Thực không ngờ ngồi thiền niệm Phật tốt như vậy đó. suốt ngày nay, cho tới giờ bụng tôi vẫn chưa đau. Thực là lạ, mười mấy năm nay tôi chưa bao giờ có được kinh nghiệm này.

Cho đến hôm nay, bà Đổng không những chứng đau bụng đi tả đã hết, mà ngay cả bệnh đau lưng nhiều năm trước cũng không thuốc mà khỏi.

Bây giờ hàng ngày bà ngồi thiền niệm Phật, còn bắt đầu tụng kinh Địa Tạng và chú Đại Bi. Bà tự giác tu tinh tấn, tâm tư kiên định, phát nguyện hành theo lời Phật dạy.

Đọc nhiều

Cần điều tra clip và xử lý cán bộ đòi chôn sống nhà sư.

Giữa lúc cơn khủng hoảng truyền thông Phật giáo đang leo thang vì những bài báo lá cải tiếp tục bồi bút sau khi...

Sự thật về người quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao...

Ngày 13/3/2021, ngay sau khi báo Thanh Niên Online đưa tin: ”Quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao cấu trẻ em:...

Cần Lên Án Báo Tuổi Trẻ Khi Đem Phật Giáo Ra Biếm Họa

Ngày 15/1/2020, Tuổi Trẻ Online đã có sự can thiệp chỉnh sửa lại thông tin đăng tải, buộc lòng phải lên tiếng xin lỗi...

Khai tôn giáo trong căn cước công dân, phải có “giấy chứng nhận xuất...

 Đây là một thắc mắc lớn mà người viết đã nhiều lần đặt ra trong khi trực tiếp thực hiện các thủ tục liên...