Thứ Hai, Tháng Chín 20, 2021

Tư tưởng Phật học

Học theo Bồ-tát chế tác tâm từ

GN – Trong Phật giáo Bắc tông (Đại thừa), nói đến tâm từ là liên tưởng ngay đến Bồ-tát Quán Thế Âm, người Mẹ hiền yêu thương chúng sinh như con đỏ.

Mẹ yêu con là một thiên chức, không hề nghĩ suy hay toan tính, thậm chí yêu con hơn cả bản thân mình. Tâm từ cũng vậy, một tình thương chúng sinh rộng lớn, mong cho muôn loài an ổn hạnh phúc, tìm mọi cách giúp chúng sinh bớt khổ thêm vui, là một trong Bốn tâm vô lượng (Từ, Bi, Hỷ, Xả).

longtu23.jpgLòng từ cảm hóa

Phật giáo Nam tông (Nguyên thủy) cũng chú trọng đặc biệt đến tâm từ. Tâm từ (Mettā Citta) là lòng thương yêu chân thành (không điều kiện), tình thương cao thượng (không vị kỷ), tình thương mình và tất cả chúng sinh (không phân biệt); cầu mong sự lợi ích, sự tấn hóa, sự an lạc lâu dài cho mình và hết thảy chúng sinh. Tâm từ là một đại thiện tâm, có đặc tính vô sân, yêu thương và cứu giúp, không tổn hại, là phẩm hạnh của bậc Phạm thiên và bậc Giác ngộ. Đức Phật luôn khuyến khích chế tác và nuôi dưỡng tâm từ: “Này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện” (Kinh Tương ưng bộ).

Lợi ích của tâm từ

Vì sao chúng ta cần tu tập tâm từ? Bởi tâm từ không phải tự nhiên mà có (nếu có thương yêu thì đó là tâm ái hoặc tâm từ trá hình) nên phải chế tác và nuôi lớn mỗi ngày. Mặt khác, lợi ích của tâm từ vô cùng to lớn, hóa giải sân hận và não hại, nền tảng của các pháp lành, giúp cho phát triển Giới-Định-Tuệ mau chóng, trợ duyên cho hành giả thẳng đến giải thoát.

Tâm từ nếu được chế tác, được làm cho sung mãn có 11 lợi ích: “(1) Ngủ an lạc, (2) thức an lạc, (3) không ác mộng, (4) được loài người ái mộ, (5) được phi nhân ái mộ, (6) được chư thiên bảo hộ, (7) không bị lửa, thuốc độc, đao kiếm xúc chạm, (8) tâm được định mau chóng, (9) sắc mặt trong sáng, (10) mệnh chung không hôn ám, (11) nếu chưa thể nhập thượng pháp (A-la-hán) mệnh chung được sinh lên Phạm thiên giới” (Kinh Tăng chi bộ, chương XI, Tâm từ).

Tâm từ hỗ trợ tích cực cho thiền định, xứng đáng là đệ tử Phật, thọ nhận sự cúng dường của bá tánh thập phương: “Nếu chỉ trong khoảnh khắc búng móng tay, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo tu tập từ tâm… tác ý từ tâm; vị ấy, này các Tỳ-kheo, được gọi là vị Tỳ-kheo trú Thiền tịnh không có trống không, làm theo lời dạy bậc Ðạo sư, là người làm theo giáo giới, ăn đồ ăn khất thực của xứ không có uổng phí. Còn nói gì những người làm cho sung mãn từ tâm ấy” (Kinh Tăng chi bộ, chương I, phẩm 6 – Búng móng tay).

Các loài phi nhơn rất khó não hại người tu tập tâm từ. “Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, thời vị ấy rất khó bị phi nhân não hại. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn (Kinh Tương ưng bộ, chương XI, Tương ưng Thí dụ).

Tu tập tâm từ thành tựu quả phước lớn nhất, hơn cả bố thí, cúng dường, xây chùa, quy y, giữ giới. “Này các Tỷ-kheo, ai vào buổi sáng (buổi trưa, buổi chiều) bố thí một trăm cái nồi, và ai buổi sáng (buổi trưa, buổi chiều) chỉ trong nháy mắt, tu tập từ tâm giải thoát, sự việc này đối với sự việc trước, quả có lớn hơn” (Kinh Tương ưng bộ, chương XI, Tương ưng Thí dụ). “Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn,… và có ai bố thí cho chúng Tỷ-kheo với Đức Phật là vị thượng thủ, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia… và có ai với tâm tịnh tín quy y Phật, Pháp và Tăng, và có ai với tâm tịnh tín chấp nhận học pháp, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ không đắm say rượu men, rượu nấu… bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc, tu tập từ tâm, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia” (Kinh Tăng chi bộ, chương IX, phẩm Tiếng rống con sư tử, phần Velàma).

Điều cực kỳ quan yếu là, trong lộ trình tu tập hướng đến giác ngộ, (1) từ Tứ thiền (xả niệm thanh tịnh), hành giả chuyên tâm tu tập Thiền quán về Vô thường, Vô ngã,…, loại trừ mười kiết sử, lần lượt chứng đắc Tứ Thánh quả. (2) Hoặc từ Tứ thiền, dựa trên nền tảng của Thiền chi xả và nhất tâm, hành giả hướng tâm vào tưởng “không gian là vô biên”, thì sẽ đắc Không vô biên xứ định. Lần lượt chứng đạt Thức vô biên xứ định, Vô sở hữu xứ định và Phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Tại định Phi tưởng phi phi tưởng xứ, hành giả chánh niệm tỉnh giác ra khỏi định này thì sẽ vào Diệt thọ tưởng định. (3) Còn một con đường khác, từ Vô sở hữu xứ định, hành giả nỗ lực Thiền quán Bốn tâm vô lượng (Từ, Bi, Hỷ, Xả) để băng ngang Phi tưởng phi phi tưởng xứ định vào Diệt thọ tưởng định. Tại đây, tất cả lậu hoặc được đoạn trừ, Chánh trí giải thoát phát khởi biết rằng ta đã hoàn toàn giải thoát. (Thích Chơn Thiện, Tìm vào thực tại).

Thiền rải tâm từ

a- Thiền tha thứ

Trước khi rải tâm từ, hành giả nên quán niệm về sự tha thứ. Mình đã từng gây khổ đau cho người nên cầu xin sự tha thứ. Người khác từng gây khổ đau cho mình, mình cũng rộng lòng tha thứ. Mình cũng tự tha thứ cho chính mình và phát nguyện tu tập. Thiền sinh thầm quán niệm như sau:

– Vì vô minh nên tôi đã từng gây khổ đau cho người, xin hãy tha thứ cho tôi.

– Tôi thành thật tha thứ cho những ai đã từng gây khổ đau cho tôi.

– Tôi thành thật tha thứ cho chính tôi, từ nay nguyện bỏ ác làm lành, giữ tâm ý trong sạch.

Quán niệm về sự tha thứ sẽ giúp tâm tư thanh thản, nhẹ nhàng hơn, dễ rải lòng từ bi hơn.

b- Thiền rải tâm từ theo đối tượng, thầm quán niệm như sau:

– Nguyện cho tôi có đầy đủ sức khỏe, thân không bệnh tật, tâm không phiền não, cuộc sống được hạnh phúc yên vui.

– Nguyện cho các bậc thầy của tôi có đầy đủ sức khỏe, thân không bệnh tật, tâm không phiền não, cuộc sống được hạnh phúc yên vui.

– Nguyện cho cha mẹ của tôi (ông bà của tôi / bà con của tôi / những ân nhân của tôi / những người không quen với tôi / những người không thích tôi / các oan gia trái chủ của tôi) có đầy đủ sức khỏe, thân không bệnh tật, tâm không phiền não, cuộc sống được hạnh phúc yên vui.

c- Thiền rải tâm từ bi theo địa chính, thầm quán niệm như sau:

– Nguyện cho các chúng sanh trong nhà/ chùa của tôi có đầy đủ sức khỏe, thân không bệnh tật, tâm không phiền não, cuộc sống được hạnh phúc yên vui.

– Nguyện cho các chúng sanh trong phường/ xã của tôi có đầy đủ sức khỏe, thân không bệnh tật, tâm không phiền não, cuộc sống được hạnh phúc yên vui.

– Nguyện cho các chúng sanh trong quận/ huyện của tôi (trong thành phố-tỉnh của tôi / trong nước của tôi / trong thế giới này / trong vũ trụ này) có đầy đủ sức khỏe, thân không bệnh tật, tâm không phiền não, cuộc sống được hạnh phúc yên vui.

d- Thiền rải tâm từ theo phương hướng, thầm quán niệm như sau:

– Nguyện cho tất cả chúng sanh ở phương Đông có đầy đủ sức khỏe, thân không bệnh tật, tâm không phiền não, cuộc sống được hạnh phúc yên vui.

– Nguyện cho tất cả chúng sanh ở phương Đông-Nam có đầy đủ sức khỏe, thân không bệnh tật, tâm không phiền não, cuộc sống được hạnh phúc yên vui.

– Nguyện cho tất cả chúng sanh ở phương Nam (phương Tây-Nam/ phương Tây/ phương Tây-Bắc/ phương Bắc/ phương Đông-Bắc/ phương Trên/ phương Dưới/ khắp 10 phương) có đầy đủ sức khỏe, thân không bệnh tật, tâm không phiền não, cuộc sống được hạnh phúc yên vui.

Một số lưu ý

Có sự hướng dẫn quán niệm khác nhau, một số tài liệu chỉ vắn tắt như: “Nguyện cho các chúng sinh… đừng oan trái lẫn nhau, hãy cho tất cả được an vui”. Tùy theo sở thích, thói quen mỗi người mà chọn lời quán niệm dài hay ngắn. Có thể chọn một trong ba cách (theo đối tượng, theo địa chính, khắp 10 phương) để rải tâm từ. Người thực tập thiền rải tâm từ cần học thuộc để hướng tâm yêu thương đến đầy đủ các đối tượng, địa chính hay phương hướng. Chúng ta cảm nhận rõ ràng tâm từ được chan rải đến đối tượng, lan tỏa và tưới mát thân tâm mình cùng mọi người, mọi loài; tất cả chúng sinh đều được thấm nhuần yêu thương, bình an, hạnh phúc.

Cứ thực tập Thiền rải tâm từ như thế đều đặn và bền bỉ mỗi ngày. Tình thương được chế tác, nuôi lớn và chan rải rộng ra đến vô lượng chúng sinh muôn loài.

Nếu như gặp phải đại tai nạn thì chúng ta nên làm gì?

Thứ nhất không nên sợ hãi, tâm phải định trở lại (tức thanh tịnh tâm), định lại rồi thì quý vị mới có thể đối phó với hoàn cảnh. Lúc quý vị lo sợ thì bị nỗi sợ làm cho ngất đi.

Nguyện cho tất cả chúng sinh biết yêu thương lẫn nhau và cùng nhau tiến tu giải thoát.

Nguyện cho tất cả chúng sinh biết yêu thương lẫn nhau và cùng nhau tiến tu giải thoát.

Bình thường phải tu dưỡng, lúc bình thường chúng ta phải hết sức đoạn ác tu thiện, những việc không như lý không như pháp, đặc biệt là những việc tổn người lợi mình nhất định không thể làm, đã nghĩ thôi cũng không thể được. Chỉ nên chí thành niệm A Di Đà Phật!

Cho nên vì sao tôi phải giảng bộ kinh (Vô Lượng Thọ) này, bộ kinh này quý vị nghe nhiều hơn thì quý vị sẽ hiểu được những đạo lý ở trong kinh: thị phi thiện ác, cát hung họa phước…đều nói cho quý vị rất rõ ràng minh bạch. Chúng ta phải tu phước, phước báo lớn nhất chính là cầu sanh thế giới Cực Lạc, bởi vì quý vị đến thế giới Cực Lạc thì quý vị rất nhanh có thể thành Phật, quý vị thật sự đạt đến cứu cánh viên mãn rồi…

Những kinh luận khác không dễ dàng, rất khó để làm được, lý rất sâu, phương pháp quá khó khăn. Bộ kinh này lý luận sâu, thật sự phương pháp đơn giản dễ làm, chỉ cần quý vị tin tưởng có thế giới Cực Lạc, có đức Phật A Di Đà. Thế giới Cực Lạc là một tinh cầu khác không phải ở trên trái đất này, quý vị tin tưởng nó thật có, quý vị thật sự muốn đi.

Thân thể chúng ta không thể đi, linh hồn chúng ta có thể đi, thật sự muốn đi. Đi bằng cách nào? Niệm Phật có thể đi, đây là phương pháp để đi. Quý vị xem niệm A Di Đà Phật đơn giản biết bao, ai cũng biết niệm. Thành tâm niệm, tôi thật tin niệm ngài, tôi thật muốn đi, niệm Ngài vậy thì thành công rồi.

Ở đây có tai nạn, hiện nay mọi người đều không tin. Tôi đến thế giới Cực Lạc thành Phật trước, những người ở thế giới này chịu khổ chịu nạn nay họ đã tỉnh lại rồi, lúc đó chúng ta đến giúp đỡ họ, vậy rất tốt. Họ đang mê hoặc điên đảo chưa tỉnh táo thì chúng ta tạm thời rời xa…

Nam mô A Di Đà Phật!

Những lời vàng ngọc của Đức Phật

Lời Phật dạy – Những lời vàng ngọc của Đức Phật truyền dạy, chúng ta hãy cùng chiêm nghiệm để giác ngộ cuộc sống và hành xử có văn hóa.

Luận Đại Trí Độ: “Phật pháp như biển cả, phải có lòng tin mới vào được.”
Luận Đại Trí Độ: “Phật pháp như biển cả, phải có lòng tin mới vào được.”

Lời Phật dạy

  • Kinh Đại Thừa Nghĩa: “Quay về nương dựa nên gọi là quy y. Hành tướng quy y như con theo cha mẹ, nương dựa phục tùng; như dân nương nhờ vua, như người yếu nương nhờ kẻ mạnh. Nương Phật như thầy, nên gọi là quy y Phật. Nhờ pháp như thuốc, nên gọi là quy y Pháp. Nương Tăng là bạn, nên gọi là quy y Tăng.”
  • Kinh Hoa Nghiêm: “Như người có tay, vào trong núi báu, tự do lấy ngọc; người có lòng tin cũng vậy, vào trong Phật pháp, tự do lấy của báu vô lậu.”
  • Kinh Tâm Địa Quán: “Như người không tay tuy đến núi báu, không lấy được gì. Người không lòng tin, dầu gặp Tam bảo cũng không ích gì.”
  • Luận Đại Trí Độ: “Phật pháp như biển cả, phải có lòng tin mới vào được.”
  • Kinh Tiểu Địa Quán: “Vào biển Phật pháp, lấy lòng tin làm gốc; qua sông sanh tử, lấy giới pháp làm thuyền.”
  • Kinh Trung A Hàm: “Ví như nhà vua, tạo lâu đài nơi bên thành, xây đắp chắc chắn, khiến không thể hư nát; bề trong quốc gia yên ổn, bề ngoài ngự phòng oán địch. Phật tử cũng vậy, phải kiên cố lòng tin tưởng đức Như Lai, khi lòng tin đã vững vàng thì quyết không theo những kẻ sa môn ngoại đạo phạm chí ác ma và ác thế gian. Ấy là đã xây dựng được lòng tin như lâu đài bền chắc. Là Phật tử phải bỏ điều ác, điều xấu mà tu các pháp lành.
  • Kinh Đại Bát Niết Bàn: “Người có lòng tin mà không hiểu giáo lý thì dễ tăng trưởng vô minh mờ ám, người hiểu giáo lý mà không lòng tin thì dễ tăng trưởng tà kiến. Cho nên lòng tin và hiểu biết phải cùng đủ mới làm cội gốc tu hành.”
Kinh Tiểu Địa Quán: "Vào biển Phật pháp, lấy lòng tin làm gốc; qua sông sanh tử, lấy giới pháp làm thuyền.”
Kinh Tiểu Địa Quán: “Vào biển Phật pháp, lấy lòng tin làm gốc; qua sông sanh tử, lấy giới pháp làm thuyền.”
  • Kinh Lăng Nghiêm: “Tin chơn lý thường trú gọi là lòng tin.”
  • Kinh Tăng Nhứt A Hàm (văn Ba lị): “Vì muốn đến niết bàn, nên tin Phật pháp, cần phải nghe mới được trí huệ, chẳng phải buông lung mà thông suốt; được như vậy thì lo gì đời nầy không vào được cảnh giới cao tột.”
  • Kinh Đại Bát Niết Bàn: “Lòng tin làm nhơn cho nghe pháp, nghe pháp làm nhơn cho lòng tin.”
  • Kinh Vô Lượng Thọ Như Lai Hội: “Đến bạn lành, được nghe pháp mầu nhiệm là được pháp các bậc thánh tôn yêu quí. Đức Như Lai trí tuệ hơn hết, trùm khắp hư không, nói ra giáo pháp, duy có Phật mới có thể hiểu thấu được. Vậy nên các ngươi cần phải nghe nhiều hiểu rộng chánh pháp, mới tin nổi lý chơn thiệt chánh pháp của Ta. Được làm thân người trong cõi người rất khó, mà được gặp giáo pháp Như Lai lại càng khó hơn. Vậy nên nghe được giáo pháp phải tinh tấn tu trì.”
  • Kinh Đại Bát Niết Bàn: “Nhơn duyên được nghe chánh pháp, là gần gũi bạn lành; nhơn duyên gần gũi bạn lành đó là lòng tin vậy. Phát được lòng tin có hai nhơn duyên là: nghe pháp và suy nghĩ nghĩa lý của pháp.”
  • Luận Khởi Tín: “Nói lòng tin có 4 món: một là lòng tin cội gốc, nghĩa là ưa nghĩ pháp chơn như; hai là tin đức Phật có vô lượng công đức, thường nhớ gần gũi, cúng dường, cung kính phát khởi căn lành để cầu xin nhất thế trí; ba là tin Pháp có nhiều lợi ích, thường nhớ tu hành cho rốt ráo; bốn là tin Tăng hay tu hành hạnh lợi mình và người, thường ưa gần gũi các vị Bồ tát cầu học hạnh như thật.”
  • Kinh Niết Bàn: “Lòng tin lại có 2 món: một là từ nghe mà sanh, hai là từ nghĩ mà sanh. Những người từ nghe sanh mà chẳng từ nghĩ sanh, thì gọi là lòng tin chẳng đầy đủ. Còn có 2 món nữa: một là tin có Đạo, hai là tin có chứng Đạo. Lòng tin người nào chỉ tin có Đạo mà chẳng tin có các người chứng Đạo, ấy gọi là lòng tin chẳng đầy đủ.”
  • Kinh Vô Lượng Thọ: “Nếu có chúng sanh rõ tin Phật trí cho đến thắng trí, rồi tu các công đức để hồi hướng lòng tin. Những chúng sanh này ở trong hoa bảy báu, tự nhiên hóa sanh: xếp bằng mà ngồi trong chừng giây lát, thân thể sáng rực, trí tuệ công đức như các Bồ tát đầy đủ trọn vẹn.”
  • Kinh Đại Bảo Tích: “Có lòng tin mới là Phật tử, vậy nên kẻ trí phải thường gần gũi người có lòng tin.”
  • Kinh Xuất Sanh Bồ Đề Tâm: “Nếu cầu Bồ đề để làm lợi ích chúng sanh, ấy là những kẻ vì chúng sanh hơn hết vậy; hạng này còn không thể so sánh huống là bậc trên nữa. Vậy nên đã được nghe các pháp này, kẻ trí thường sanh tâm vui pháp sẽ được đại phước không lường và mau được chứng đạo vô thượng.”
  • Kinh Đại Bát Niết Bàn: “Hoặc có người nói: Quả vô thượng chánh đẳng chánh giác, do lòng tin làm nhơn. Thật ra chánh nhơn của bồ đề (tức chánh đẳng giác) tuy còn nhiều vô lượng, nhưng nếu nói lòng tin, tức đã bao quát hết rồi vậy.”
  • Kinh Hoa Nghiêm: “Bồ đề Tâm là con đường lớn, vì có thể đưa người được vào cõi Nhất thế trí. Bồ đề Tâm là con mắt sáng, vì có thể xem thấy hết thảy đường chánh nẻo tà. Bồ đề Tâm là mặt trăng sáng, vì soi rõ các tịnh pháp đều viên mãn. Bồ đề Tâm là nước sạch, vì rửa sạch tất cả dơ bẩn phiền não. Bồ đề Tâm là ruộng tốt, vì nuôi dưỡng chúng sanh trong sạch.Bồ đề Tâm là hạt giống tất cả đức Phật, vì có thể sanh tất cả pháp các đức Phật.”
  • Kinh Đại Bát Niết Bàn: ” Đại tín tâm tức là Phật tánh, Phật tánh tức là Như Lai.”
  • Kinh Hoa Nghiêm: “Trăng Bồ đề trong mát, soi rốt ráo hư không, chúng sanh tâm nước sạch, bóng Bồ đề hiện ngay.”
Kinh Đại Bảo Tích: “Có lòng tin mới là Phật tử, vậy nên kẻ trí phải thường gần gũi người có lòng tin.”
Kinh Đại Bảo Tích: “Có lòng tin mới là Phật tử, vậy nên kẻ trí phải thường gần gũi người có lòng tin.”
  • Kinh Tăng Nhứt A Hàm (Văn Ba-lị): Đức Phật biết mở giây sanh tử cho tất cả chúng sanh: Ngài đích thân đối với thần nhơn, chỉ rõ pháp hiểu biết, khiến họ thấy hoặc nghe, đều được an tâm. Đức Phật thật là bậc Đạo nhơn, là Thiện nhơn, là Quyết định nhơn, là Vô lậu nhơn, vì Ngài thấu suốt thân mệnh, chính là bậc Đại nhơn trí tuệ cao cả vậy.
  • (Cũng kinh này) Tỳ kheo nương Phật pháp mà sanh lòng tin: tin Đức Như Lai là: Thế Tôn, đẳng Chánh giác, Minh hạnh Túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng Phu, Thiên nhơn sư. Ngài chứng quả an lành không bệnh; tu nhẫn nại và tinh tấn mức trung đạo, chứng quả chẳng hư ngụy, chẳng mê hoặc. Đúng như thật đối trước các bậc sư chủ: Chỉ rõ đạo nghĩa, an trụ tinh tấn, bỏ pháp bất thiện, phát khởi thiện pháp, nương thiện pháp mà quyết định gắng gỗ bền chắc. Thế mới thành tựu bậc trí huệ chứng Vô thượng trí vậy.
  • Kinh Tiểu A Hàm: “(Văn Ba lị) Ta, tuy trong một nháy mắt, cũng chẳng rời trí lực sâu sắc của Phật Đà mà tỏ rõ nói pháp; nói pháp không ái và không phiền não của Phật Đà; với kẻ khác không còn so sánh. Ta chẳng phân biệt ngày, đêm, lấy con mắt tâm xem thấy hết. Ta tự tin rằng thoạt qua là hết đêm, cho nên trong giây lát chẳng bỏ rời. Ta tin và thích, tâm và niệm, khiến ta quy y Phật giáo vậy. Những người trí huệ cao cả như thế chẳng luận là nơi chỗ nào ta cũng vẫn đến quy y. Dầu cho thân ta già, sức ta yếu, không thể đi đến chỗ ấy được, nhưng tâm ta quyết định thường đi đến chỗ ấy. Thế thì tâm ta và tâm kẻ ấy phù hợp vậy.”
  • Kinh Pháp Hoa: “Hết lòng muốn thấy Phật, chẳng tiếc gì thân mạng, khi Ta và chúng Tăng, đồng đến núi Linh Thứu.”
  • Kinh Đại Bửu Tích: “Phật dạy: Nếu có Bồ Tát đem vui thắng ý, đến chỗ Ta phát khởi ý nghĩ như gặp cha, người kia sẽ được vào trong hàng ngũ Như Lai, như Ta không khác gì.”
  • Kinh Trung A Hàm: “(Văn Ba lị) Thưa Thế Tôn: Nếu pháp này chỉ có Thế Tôn thành tựu, mà Tỳ kheo chẳng đặng thành tựu, hay Tỳ kheo đặng thành tựu mà Tỳ kheo ni chẳng đặng thành tựu; hoặc Tỳ kheo ni đặng thành tựu mà các người tại gia Ưu bà tắc, Ưu bà di và các người còn dục lạc chẳng đặng thành tựu, thời pháp ấy chẳng được hoàn toàn. Nhưng pháp này đức Thế Tôn được thành tựu, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni đều được thành tựu. Hơn nữa, những người tại gia nam nữ và các kẻ còn dục lạc thảy đều được thành tựu, cho nên ta tin pháp này là hoàn toàn.”
Kinh Hoa Nghiêm: "Nếu có chúng sanh nào, chưa phát tâm Bồ đề, một khi nghe tên Phật, quyết định thành Bồ đề.”
Kinh Hoa Nghiêm: “Nếu có chúng sanh nào, chưa phát tâm Bồ đề, một khi nghe tên Phật, quyết định thành Bồ đề.”
  • Kinh Tạp A Hàm: “(Văn Ba lị) Vì muốn đến Niết Bàn, tin, vâng các Thánh pháp, nghe, cầu được trí huệ, tinh tấn hay thông suốt.”
  • Kinh Phạm Võng: “Đứng đầu tất cả hạnh là đức tin, vì cội gốc các đức vậy.”
  • Kinh Đại Trang Nghiêm: “Tất cả các công đức, đức tin là sứ mạng; trong các của báu, của đức tin đứng đầu.”
  • Kinh Hoa Nghiêm: “Tin là nguồn Đạo, mẹ công đức, nuôi lớn tất cả các pháp lành, dứt trừ lưới nghi, thoát dòng ái, mở chỉ Niết Bàn, đạo Vô thượng; tin lòng trong sạch không dơ bẩn, dứt trừ kiêu mạn gốc cung kính, là của thứ nhất trong kho Pháp, là tay trong sạch lãnh các hạnh; tin hay huệ thí tâm không tham; tin hay vui mừng vào Phật pháp; tin hay thêm lớn trí công đức; tin hay quyết đến cõi Như Lai; tin khiến các căn lành sáng suốt; tin sức bền chắc không thể hư; tin hay dứt hẳn gốc phiền não; tin hay hướng về Phật công đức; tin đối cảnh giới không tham lam, xa lìa các nạn, được không nạn; tin hay vượt khỏi các đường ma, thị hiện đạo Vô thượng giải thoát; tin chẳng phá hư giống công đức; tin hay nuôi lớn cây Bồ đề; tin hay thêm ích trí tối thượng; tin hay thị hiện tất cả Phật.”
  • Kinh Hoa Nghiêm: “Nếu có chúng sanh nào, chưa phát tâm Bồ đề, một khi nghe tên Phật, quyết định thành Bồ đề.”
  • Luận Thập Trụ Tỳ Bà Sa: “Nếu người trồng căn lành, nghi thời hoa chẳng nở; lòng tin được trong sạch, hoa nở liền thấy Phật.”
  • Kinh Hoa Nghiêm: “Bồ tát đối sanh tử, khi đầu tiên phát tâm, một bề cầu Giác đạo, bền chắc chẳng khá lay. Kia một niệm công đức, sâu rộng không ngằn mé, Như Lai phân biệt nói, trọn kiếp không thể hết.
  • Tất cả tâm chúng sanh đều phân biệt hết, tất cả cõi vi trần hãy còn tính được số; mười phương cõi hư không, mảy lông cũng lường được, Bồ Tát sơ phát tâm, rốt ráo chẳng lường được.
  • Kinh Xuất Sanh Bồ Đề Tâm: “Như đấng Đại Phước rất cao kia, chẳng bằng phần mười sáu Đạo tâm; nếu muốn cầu phước như Tu Di, như cát sông Hằng ở cõi Phật, thảy đều tạo chúa, xây các tháp chẳng bằng Đạo tâm mười sáu phần.”
  • Kinh Đại Bảo Tích: “Công đức Bồ Đề tâm, nếu có chất hẳn hỏi, khắp cả cõi hư không, không thể dung chứa hết.”
Kinh Hoa Nghiêm: "Nếu được nghe một câu pháp chưa từng nghe, sanh lòng rất vui mừng, còn hơn được bao nhiêu ngọc báu đầy trong tam thiên đại thiên thế giới.”
Kinh Hoa Nghiêm: “Nếu được nghe một câu pháp chưa từng nghe, sanh lòng rất vui mừng, còn hơn được bao nhiêu ngọc báu đầy trong tam thiên đại thiên thế giới.”
  • Kinh Hoa Nghiêm: “Nếu được nghe một câu pháp chưa từng nghe, sanh lòng rất vui mừng, còn hơn được bao nhiêu ngọc báu đầy trong tam thiên đại thiên thế giới.”
  • Kinh Vô Lượng Thọ: “Đức Phật bảo Ngài Di Lặc rằng: Nghe danh hiệu Đức Phật kia, vui mừng nhảy nhót, cho đến một niệm. Phải biết người ấy ắt được lợi lớn. Ấy là đủ công đức cao tột.”
  • Đức Phật dạy: Nghe pháp hay chẳng quên, thấy kinh được rất mừng, ấy bạn lành ta vậy.
  • Kinh Hoa Nghiêm: “Ví như vàng Diêm phù đàn, chỉ thua ngọc Như ý, hơn tất cả các ngọc. Bồ Đề tâm như vàng Diêm phù đàn, cũng như vậy, chỉ thua Nhất thế trí, hơn tất cả các công đức.”
  • Ví như chim Ca lăng tần già, khi còn nằm trong trứng, đã có thế lực mạnh, các loài chim chẳng bằng. Vị Đại Bồ tát cũng như vậy. Còn ở trứng sanh tử, đã phát tâm bồ đề, công đức rất thế lực, hàng Thanh văn Duyên giác làm gì so sánh kịp.
  • Ví như hoa cây Ba Lợi Chất Đa, xông áo một ngày, hoa Chiêm Bồ, hoa Bà Sư, tuy xông ngàn năm, chẳng hay sánh nổi. Hoa Bồ đề tâm cũng lại như vậy, đem công đức xông một ngày, mùi thơm thấu mười phương cõi Phật, hàng Thanh văn Duyên giác, dùng trí vô lậu xông các công đức đến trăm ngàn kiếp cũng chẳng làm sao kịp được.
  • Nghe Pháp khởi lòng tin, vui mừng không nghi ngại, chóng thành Đạo vô thượng; ngang hàng các Như Lai. Tâm trong sạch như đồ đựng nước, hình bóng thường hiển hiện. Nhưng tâm chúng sanh nhơ bẩn như đồ bị nứt, thì chẳng thấy hình bóng Như Lai Pháp Thân. Nếu hay tin, biết trừ kiêu mạn, phát tâm liền được thấy Như Lai, nếu còn dua vậy tâm chẳng sạch, ức kiếp tìm cầu khó gặp thay.
  • Kinh Vô Lượng Thọ: “Kiêu mạn, si tệ, biếng nhác, khó tin nổi pháp này, nhờ đời trước thấy Phật, như vậy ưa nghe Pháp.”

Nhuận Tâm

Đức trị và pháp trị từ một góc nhìn Phật giáo

 Nhìn từ lịch sử, việc trị quốc bằng “pháp trị” hay “đức trị” là một vấn đề được đặt ra từ rất sớm. 

Đức Phật từ bi - Tranh Myanmar
Đức Phật từ bi – Tranh Myanmar

Đức trị

Đức trị là học thuyết cai trị con người theo đạo đức. Việc cai trị cũng chính là việc giáo dục đạo đức, làm cho con người nhận ra sự suy đồi của mình, từ đó sửa chữa bản thân để trở nên có đạo đức, nhờ vậy xã hội sẽ trở nên ổn định, trật tự và tốt đẹp hơn. Học thuyết này coi tư cách người cầm quyền quan trọng hơn luật lệ, hễ có người yêu dân, làm gương cho kẻ dưới thì nước sẽ an bình. Khổng Tử nói: “Nếu nhà cầm quyền chuyên dùng pháp chế, cấm lệnh mà dắt dẫn dân chúng; chuyên dùng hình phạt mà trị dân, thì dân sợ mà chẳng phạm pháp đó thôi, chứ họ chẳng biết hổ ngươi. Vậy, muốn dẫn dắt dân chúng, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh; muốn trị dân, nhà cầm quyền phải dùng lễ – tiết, thì chẳng những dân biết hổ ngươi, họ lại còn cảm hóa mà trở nên tốt lành”.1

Pháp trị

Pháp trị là học thuyết cai trị con người dựa trên luật pháp buộc mọi người phải tuân theo. Những người chủ trương pháp trị đa số cho rằng, bản chất con người là tư lợi, nên giáo dục đạo đức là không cải thiện gì nhiều, cách duy nhất cai trị hiệu quả là dùng pháp luật, hình phạt nghiêm khắc, thưởng phạt công bằng, như vậy nhà cầm quyền chẳng cần tài đức mà nước cũng được yên. Các nhà tư tưởng ở phương Tây cho rằng: Nhân dân phải đấu tranh bảo vệ pháp luật như bảo vệ chốn nương thân của chính mình (Democritos 460 – 370 tr.TL). Xã hội không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật. Nhà nước phải tôn trọng, phục tùng pháp luật, tôn trọng pháp luật là tôn trọng lý trí, công bằng và trí tuệ phổ biến, nếu không quyền lực sẽ lạc lối (Sokrates 470 – 399 TCN). Aristoteles (384 – 322 tr.TL), nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổ đại, cũng khẳng định rằng pháp luật thống trị tất cả và đã đưa ra lý thuyết về sự tổ chức hợp lý quyền lực nhà nước…

Vấn đề trị nước theo kinh sách Phật giáo

– Kết hợp đức trị và pháp trị

Muốn cho xứ sở được thanh bình, thịnh trị thì trước hết những người cầm quyền phải công minh, chính trực. Với trí tuệ và lòng từ vô hạn, Đức Phật hiểu rất rõ vấn đề này nên mỗi khi nói chuyện với các vị quốc vương về chính sự, Đức Phật thường khuyên họ phải trau dồi đạo đức của mình. Trong Jātaka số 385, Bồ-tát đưa ra lời khuyên nhằm giúp cho việc cai trị đất nước của nhà vua được hưng thịnh: “Bằng cách từ bỏ mọi ác đạo, không xâm phạm Thập vương pháp (Mười đức tính của vị vua) và hành động chân chính: bố thí, nhân từ, đức hạnh, công bình, thân ái, nhu mì, ôn hòa, nhẫn nhục, ăn năn, bi mẫn, là mười giới đức”.2

Đức Phật nói rằng nếu người lãnh đạo có phẩm chất đạo đức kém thì điều đó sẽ đưa chính họ và những người khác vào cánh cửa bại vong. Do đó, người lãnh đạo đất nước cần luôn cân nhắc, xem xét mọi việc làm, lời nói và suy nghĩ của mình, cố gắng lắng nghe ý kiến của dân chúng, để ngăn chặn kịp thời bất kỳ sai lầm nào trong việc trị nước, bởi vì: “Khi đàn bò lội sông/ Đầu đàn đi đúng hướng/ Cả đoàn đều đúng hướng/ Vì hướng dẫn đúng đường”.3

Không thể chỉ sử dụng đạo đức để trị nước mà Ngài còn khuyên các vị vua biết kết hợp giữa pháp trị và đức trị. Vì nếu chỉ nghiêng về đức trị thì những thành phần xấu sẽ lợi dụng lòng nhân từ của vua để làm loạn, còn nếu quá đặt nặng pháp trị mà thiếu đức thì pháp đó dù có thể đem đến sự ổn định cho một đất nước nhưng lại mang tính hà khắc và tàn bạo. Trong kinh Kim quang minh tối thắng vương, khi Kiên Lao Địa Thần chắp tay cung kính thưa hỏi Đức Thế Tôn làm thế nào để quản trị quốc gia, an dưỡng quốc dân, bảo đảm bản thân ngồi lâu vương vị khi có nhiều người hành ác nghiệp, Ngài đã dạy rằng:

Quốc dân tạo ác nghiệp,

Quốc vương không cấm đoán,

Thế là phi Chính pháp

Không đúng cách trị đuổi”.

(國人造惡業

王捨不禁制

斯非順正理

治擯當如法).4

Người làm vua không nên để sự tư lợi, tư dục nào xen vào; việc thu thuế, việc xét xử phán quyết… đều nên y theo pháp luật. Chính trị tuy xây dựng trên tinh thần nhân ái nhưng đối với những kẻ cố tình phạm pháp thì vua phải nghiêm trị.

Nếu trong quốc gia mình

Thấy ai làm phi pháp,

Phải trị phạt đúng phép

Không nên bỏ cho qua”.

(若於自國中

見行非法者

如法當治罰

不應生捨棄).5

Chúng sinh đa bệnh nên Đức Phật vận dụng nhiều phương tiện để chuyển hóa; có trường hợp Ngài khuyên dùng đức trị và có trường hợp Ngài khuyên dùng pháp trị. Tuy nhiên trong kinh sách, chúng ta thấy “đức trị” có phần được nhấn mạnh hơn: “Này các Tỷ-kheo, Như Lai… lúc xưa làm người là vị lãnh đạo Đại chúng về các thiện pháp, là vị tiên phong Đại chúng về thiện hành thuộc thân, khẩu, ý, phân phát bố thí, thủ hộ giới luật, tham dự các lễ Bố-tát, hiếu kính cha mẹ, lễ kính Sa-môn, cung kính bậc trưởng thượng trong gia đình và về các thiện pháp đặc biệt khác”.6Nếu lãnh đạo là người có tài năng và đạo đức, đưa ra những đường lối, chủ trương tích cực, đúng hướng thì mọi người nhờ đó sẽ có cuộc sống an vui hạnh phúc, đất nước ngày càng thịnh vượng, thái bình.

– Trị nước bằng con đường trí tuệ và hòa bình trên cơ sơ duyên sinh

Khi người cai trị luôn tôn trọng Pháp mà vẫn có vô số việc phi pháp xảy ra trong quốc độ, như trộm cắp, dối trá, bạo lực, tàn ác, hận thù, thì nguyên nhân phát sinh từ đâu? Vua chúa thời xa xưa, cũng như chính quyền ngày nay, chỉ cố gắng dẹp trừ các tội ác bằng hình phạt. Nhưng theo quan điểm của Phật giáo, không phải mọi hình phạt đều có thể dẹp trừ được tội phạm. “Này các Tỷ-kheo, như vậy vì không cho người nghèo tiền của, nghèo đói tăng thịnh; vì nghèo đói tăng thịnh nên trộm cắp tăng thịnh; vì trộm cắp tăng thịnh nên đao kiếm được tăng thịnh; và đao kiếm được tăng thịnh, nên sát sinh tăng thịnh; vì sát sanh tăng thịnh nên nói láo tăng thịnh; vì nói láo tăng thịnh nên tuổi thọ của loài hữu tình giảm thiểu, sắc đẹp giảm thiểu…”.7

Theo đoạn kinh trên, nghèo khổ, bất bình đẳng tài sản là nguyên nhân dẫn đến xã hội bất an và suy đồi đạo đức. Cho nên phục hồi các tiêu chuẩn đạo đức thì trật tự xã hội cũng được khôi phục.Nhưng khôi phục bằng cách nào? “Những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, Tôn vương hãy cấp cho những vị ấy hạt giống và thực vật; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về thương nghiệp, Tôn vương hãy cấp cho những vị ấy vốn đầu tư; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về quan chức, Tôn vương hãy cấp cho những vị ấy vật thực và lương bổng. Và những người này khi chuyên tâm vào nghề riêng của mình sẽ không nhiễu hại quốc độ nhà vua. Và ngân quỹ nhà vua sẽ được dồi dào, quốc độ sẽ được an cư lạc nghiệp, không có tai ương, ách nạn và dân chúng hoan hỷ vui vẻ, cho con nhảy trên ngực, sống chẳng khác gì với nhà cửa mở rộng”.8 Hay: “Trên bờ những hồ sen này, ta sẽ cho đặt những vật bố thí, đồ ăn cho những ai đói, đồ uống cho những ai khát, áo quần cho những ai cần áo quần, xe cộ cho những ai cần xe, đồ nằm cho những ai cần nằm, đàn bà cho những ai cần đàn bà, bạc cho những ai cần bạc và vàng cho những ai cần vàng”.9

Những đại diện tiêu biểu cho việc trị nước theo con đường Phật giáo

– Vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) nước Kosada

Trị vì vương quốc Kosala, đóng đô tại Sāvatthī (Xá Vệ), vua Pasenadi đem hết tài năng cùng với nhiệt tâm để điều hành đất nước, đồng thời ông cũng thực hiện chính sách bang giao tốt đẹp với các nước láng giềng. Nhà vua cùng tuổi với Đức Phật. Ông quy y vào những năm đầu tiên sau khi Đức Phật hoằng dương giáo pháp. Trong kinh tạng Nikāya, có nhiều lời dạy của Đức Phật dành cho vua Kosala được ghi lại.

Sau khi nghe những lời giải đoán mười sáu điềm chiêm bao, vua Pasenadi cảm thán: “Cảm ân nhị vị Tôn giả Đại đức đã khai tâm, đã mở mắt cho trẫm nhìn thấy rõ hầu như toàn bộ viễn cảnh tương lai khi đạo đức và lẽ phải suy đồi, kéo theo sự suy đồi của con người và xã hội! Vậy thì, trách nhiệm của một vị vua lớn lắm, cao cả lắm mà cũng nặng nề lắm! Vận mệnh của đất nước, sự vui khổ của muôn dân tùy thuộc đạo đức, giới hạnh bản thân của vị vua ấy cùng cán cân nghiêm minh của công lý. Thiếu một trong hai, không được; nghiêng lệch bên này, bên kia, không được! Toàn thể triều đình, các quan hãy ghi nhớ lời trẫm hôm nay”.10Đoạn kinh này cho thấy, nhà vua nhận ra rằng đạo đức, giới hạnh (đức trị) và cán cân nghiêm minh (pháp trị) là hai điều không thể thiếu trong việc lãnh đạo đất nước. Thiếu một trong hai thì vận mệnh đất nước sẽ đi xuống. Vua Pasenadi sau nhiều lần được Đức Thế Tôn giáo hóa đã có những tư tưởng thiện khởi lên và ông đã suy nghĩ như sau: “Những ai sống thân làm ác, sống miệng nói ác, sống ý nghĩ ác; đối với người ấy, tự ngã là kẻ thù”.11

– Vua Asoka (A Dục)

Hoàng đế A Dục (304-232 TTL) đã sống và thực hành các bổn phận đạo đức của một vị vua khi trị vì đất nước với mong muốn bảo đảm an sinh cho tất cả mọi người dân trong vương quốc của ông. Trong bia ký XIII, vua A Dục tuyên bố rằng ông thực hành Chánh pháp (Dharma), yêu mến Chánh pháp và giảng dạy Chánh pháp. Ông quảng bá chính sách bất bạo động đến các vương quốc lân cận, yêu cầu họ tôn trọng các thiện ý của ông, và gửi sứ giả đi khắp nơi để truyền bá thông điệp hòa bình và bất bạo động. “Trong lịch sử cũng đã có một vị vua cai trị lỗi lạc, đã có can đảm, đức tin và kiến giải đủ để áp dụng lời dạy này của Phật về bất bạo động, hòa bình và yêu thương trong sự cai trị một đế quốc rộng lớn về cả nội bộ lẫn ngoại giao – đó là A Dục vương, vị hoàng đế Phật tử của xứ Ấn (thế kỷ thứ III trước Tây lịch), ‘người con yêu quý của các thần linh’ như ông đã được mệnh danh”.12

Áp dụng triệt để giáo lý Đức Phật vào việc cai trị đất nước, ông đã lấy lòng nhân từ làm cơ sở cho việc trị vì, giúp đỡ dân chúng, dùng thiện nghiệp để loại bỏ ác nghiệp. Ông khuyến khích ứng dụng các nguyên tắc đạo đức trong xã hội, như chân thật, từ bi, bất bạo động, không hoang phí, không chiếm đoạt, không gây hại cho mọi loài vật, và không phân biệt giai cấp, chủng tộc hay tín ngưỡng. Điều đặc biệt là đích thân nhà vua thực hành trai giới, khuyên mọi người không nên sát sinh, dạy họ biết sống theo thiện pháp, tôn trọng lẫn nhau, kính trọng những người già cả, cha mẹ anh em, thương yêu kẻ tàn tật, tôi tớ, và khuyến khích làm việc thiện. Qua đây chúng ta thấy rằng, vua A Dục là một người thấm nhuần Chánh pháp, là một vị vua có tấm lòng khoan dung, một vị vua Bồ-tát cai trị vì lợi ích của muôn dân.

– Vua Kanishka (Ca-nị-sắc-ca)

Kanishka là một vị vua nổi bật của đế quốc Kushan. Những người Kushan đã đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của Phật giáo Đại thừa. Ông được kinh sách Phật giáo tán dương không kém gì vua A Dục của đế quốc Maurya vào 3 thế kỷ trước.

Vua Kanishka tiếp nối vua A Dục xây dựng đế quốc lớn, chi phối toàn miền Bắc Ấn Độ. Trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ, Kanishka và A Dục đều được ca tụng là hai vị vua hộ trì Phật pháp. Nhà vua dời thủ đô từ Trung Á đến thành Phú-lâu-sa ở vùng Kiện-đà-la phía Tây bắc Ấn Độ. Do tiếp xúc mật thiết với các nền văn hóa như Ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp và La Mã, triều đại của ông có sự dung hợp giữa các nền văn hóa Đông và Tây. Lúc đầu nhà vua tôn sùng dị giáo, không tin tội phúc, khinh rẻ Phật pháp, sau nhờ sự cảm hóa của Bồ-tát Mã Minh nên ông đã quy y Phật giáo. Nhưng Đại Đường Tây Vực ký quyển 2 và kinh Tạp bảo tạng quyển 7 ghi chép nhân duyên quy y của vua lại khác. Về sau vua ra sức bảo hộ Phật giáo, xây dựng chùa chiền, hộ trì kết tập và chú thích Tam tạng kinh điển. Vào thời vua Kanishka, Phật giáo được truyền bá rộng rãi, nhiều cao tăng xuất hiện, công cuộc biên soạn các kinh điển Đại thừa được xúc tiến. Đến thời con của ông là Phú-tây-sắc-ca vương (Huviwka), do chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Hy Lạp, mỹ thuật Phật giáo Kiện-đà-la (Gandhara) đã phát triển rất rực rỡ.13

– Các vị vua thời Lý-Trần

Với xu hướng hòa quang đồng trần, đạo Phật thời Lý-Trần đã dấn thân tích cực trong việc làm lợi ích cuộc đời. Vào thời nhà Trần, tư tưởng này được thực hiện triệt để vì nhu cầu bức thiết của đất nước lúc bấy giờ là đang đối đầu với sự xâm lược của quân Nguyên Mông hung hãn và thiện chiến. Bấy giờ cả nước từ vua quan cho đến thần dân đều đoàn kết một lòng, tập trung năng lực và trí tuệ để bảo vệ đất nước. Những nhà lãnh đạo bấy giờ vừa giữ vai trò những người đứng đầu quốc gia, vừa có tâm thế là một nhà lãnh tụ Phật giáo. Phần lớn họ là những bậc anh hùng, có tài cai trị, giỏi chiến lược, và có kiến thức quảng bác. Ngoài ra họ cũng là những nhà Phật học uyên thâm. Họ vừa có tư cách một Bồ-tát tại gia, quên mình phụng sự chúng sinh, vừa có phong độ của một thiền sư siêu phàm thoát tục, cho dù sống trong vàng son nhung lụa mà vẫn không bị phù hoa cám dỗ. Khi đất nước lâm nguy, họ cầm gươm lên ngựa, đi trước ba quân, xông pha giữa lằn tên mũi đạn, cứu đất nước thoát khỏi ách ngoại xâm; khi đất nước hòa bình, họ dùng đức trị dân, đưa ra những đường hướng, chính sách đúng đắn để xây dựng đất nước…

Phật giáo đời Lý-Trần quả thật mang tinh thần nhập thế năng động, đáp ứng những nhu cầu bức bách của đất nước, đem đạo hòa vào đời, làm cho đời thêm tươi sáng. Chính những nguyên nhân này đã khiến cho thời đại Lý-Trần trở thành thời đại phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam.

Không có hệ thống chính trị nào có thể mang lại hòa bình và hạnh phúc thực sự khi mà con người trong hệ thống ấy bị thống trị bởi tham lam, sân hận và si mê. Phật giáo không nhằm vào việc hướng dẫn hình thành các tổ chức chính trị hay thay đổi, cải cách định chế chính trị. Phật giáo chỉ tiếp cận các vấn đề của xã hội, nhận ra bản chất xã hội để cải đổi bằng cách chuyển hóa hành nghiệp của cá nhân, những yếu tố cấu thành xã hội đó. Dựa vào một số nguyên tắc chung, Phật giáo hướng dẫn cho xã hội theo chiều hướng nhân văn hơn, cải thiện phúc lợi của các thành viên, và chia sẻ công bằng hơn các nguồn lực.

Thích Quảng Tiến Nhẫn

______________

(1) Khổng Tử, Luận ngữ, Đoàn Trung Còn dịch và chú, NXB.Trí Đức Sài Gòn, 1950, tr.15.

(2) ĐTKVNkinhTiểu bộtập 6, chương VI, phẩm Sáu bài kệ 385, chuyện Lộc vương hoan hỷ, VNCPHVN ấn hành, 2002, tr.680.

(3) ĐTKVNkinh Tăng chi bộ,tập 1, chương IV, Bốn pháp VII, phẩm Nghiệp công đức, VNCPHVN ấn hành, 2002, tr.697.

(4) 《金光明最勝王經》卷8: (CBETA 2019.Q2, T16, no. 665, p.442c8-9).

(5) 《金光明最勝王經》卷8:(CBETA 2019.Q2, T16, no. 665, p.443b20-21).

(6) ĐTKVNkinhTrường bộtập 2, 30. Kinh Tướng, VNCPHVN ấn hành, 1991, tr.513.

(7) ĐTKVN, kinhTrường bộ, tập 2, 26. Kinh Chuyển luân thánh vương sư tử hống, VNCPHVN ấn hành, 1991, tr.370.

(8) ĐTKVN,kinhTrường bộ, tập 1, 5. Kinh Kutadanta, VNCPHVN ấn hành, 1991, tr.241.

(9) KinhTrường bộtập 2, 17. Kinh Đại Thiện Kiến vương, VNCPHVN ấn hành, 1991, tr.22.

(10) https://thuvienhoasen.org/a25411/giai-doan-16-diem-trieu-cua-duc-vua-p-senadi.

(11) KinhTương ưng 1, thiên Có kệ, chương III Tương ưng Kosala I. Phẩm Thứ nhất,VNCPHVN ấn hành, 1991, tr.167.

(12) Walpola Rahula, Đức Phật đã dạy những gì, NS. Thích nữ Trí Hải dịch, NXB.Tôn Giáo, 1998, tr.92.

(13) Xem thêm: HT.Thích Quảng Độ, Phật Quang đại từ điển, NXB.HVHGDLSĐB, 1999, tr.734b.

Động tức có khổ…

Dịch bệnh hiện nay đang lan tràn, chưa biết bao giờ mới chấm dứt, không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Người nhiễm bệnh kinh hoàng. Người chết cũng không ít. 

1234.jpgBản chất thật con người đang sở hữu thì không động – Ảnh minh họa

Ở nhà vài ngày đối với một ai đó đang khỏe mạnh là việc khó có thể chấp nhận với cái nhìn của đa số. Không bệnh tật, không phải nằm yên một chỗ, thì đi đây đi kia là việc tất nhiên, không thể phí hoài. Nếu bạn dành thời gian cho việc ở nhà một mình, người ta liền nghĩ ngay đến bệnh trầm cảm, hay bạn đang gặp vấn đề gì đó trong cuộc sống. Điều này không phải sai với một số người. Vậy mà bây giờ, có lệnh ngưng hết mọi sinh hoạt, từ việc làm cho đến vui chơi. Ngay cả những đại lễ mang tính quốc gia cũng phải ngưng. Thành phố trở nên vắng lặng. Mọi người hạn chế tiếp xúc… Đó không phải là việc dễ chịu với những ai đã quen động.

Tôi nhìn thấy đâu đó tấm hình vẽ một con chó với cái bụng thật to, đang lim dim ngồi ngửa trên ghế, bên cạnh ghi dòng chữ: “Ở nhà mấy hôm nay, thân nhiệt bình thường, hô hấp bình thường, ăn uống bình thường, cân nặng dị thường, tinh thần thất thường”. Hoặc là vài tin nhắn vui vui: “Khuyến cáo từ bác sĩ tâm lý: Trong thời gian ở nhà chống dịch, việc bắt chuyện với cây cối, động vật, thậm chí với bát đĩa trong nhà là hoàn toàn bình thường, vì con người ai cũng có nhu cầu giao tiếp. Tuy nhiên, hãy liên hệ ngay với bệnh viện khi bạn thấy chúng trả lời. Xin cảm ơn!”. Những khoảnh khắc tiêu tiếu cho quên nỗi buồn ở nhà. Nhưng nó đã diễn tả khá đúng tâm trạng của hầu hết người đời bây giờ: Thân ở yên một chỗ khiến tâm thức không còn bình thường. Trạng thái thường gặp là stress. Sự thất thường đó là hậu quả của việc phải giam người trong nhà, dù là tự nguyện. Chỉ mới là kết quả của một sự giảm bớt, chưa phải là kết quả của một sự bất động hoàn toàn, vậy mà căng thẳng đã xuất hiện. Chỉ vì đi ngược với thói quen mà mình đã huân tập từ thời vô thỉ.

Cội nguồn chân nguyên của tất cả muôn loài, là bản thể của mọi sự vật và hiện tượng, vốn chẳng động. Chỉ vì không tự tánh, không thể tự giữ mà vọng động. Động đó là do bất giác mà có. Bất giác, vì chẳng biết đúng như thật pháp chân như toàn nhất, tâm khởi mà có niệm1. Niệm này do bản giác vọng động mà có nên chẳng có tự thể riêng, thể của nó chính là chân như bản giác2. Tướng vọng động đó, luận Đại thừa khởi tín gọi là Nghiệp tướng, nói đủ là Vô minh nghiệp tướng. Nghiệp này do vô minh mà có, nên gọi là Vô minh nghiệp tướng. Tổ Hiền Thủ nói: “Đây tuy động nhưng động niệm này rất vi tế, duyên khởi mà thành nhất tướng, năng sở chưa phân, chính là phần tự thể của thức A-lại-da3. Chỗ này năng sở chưa phân. Tức chưa có cái gọi là ta, người, thế giới, chúng sinh như hiện nay. Nương Vô minh nghiệp tướng này mà xuất hiện cái hay thấy, gọi là Năng kiến tướng. Nói hay thấy, không có nghĩa là phải có mắt mới thấy, chỉ là sự rõ biết cùng khắp của tâm thức, kinh Thủ Lăng nghiêm gọi chỗ này là Kiến tinh, là cái thấy còn tinh ròng, chưa bị nhiễm ô bởi phân biệt. Có năng thì nhất định có sở, nên Năng kiến tướng xuất hiện rồi liền có Cảnh giới tướng. Cảnh giới tướng này, theo cái nhìn của Đại sư Hám Sơn là hư không và tứ đại4. Quá trình biến khởi đó được mô tả khá rõ trong kinh Lăng nghiêm, bằng câu hỏi mở đầu của Tôn giả Phú-lâu-na: “Tánh bản nhiên thanh tịnh vì sao bỗng nhiên sinh ra núi, sông, đất liền cùng các thứ hữu vi thứ lớp dời đổi…?”. Sau khi trả lời chi tiết xong, Phật kết luận: “Đều do tánh rõ biết sáng suốt của giác minh. Nhân rõ biết mà phát ra tướng. Từ cái vọng thấy mà sinh ra núi, sông, đất liền cùng các tướng hữu vi thứ lớp dời đổi…”. Vọng thì không thật. Thế giới này chỉ là một trường đại mộng, do chúng sinh ngủ quên trong giấc ngủ vô minh mà có. Chúng sinh tự tạo ra thân căn và thế giới quanh mình, rồi theo đó mà buồn, vui, sợ hãi, đau khổ. Tất cả không ngoài tâm mà có. Kinh Hoa nghiêm nói: “Nếu người muốn thấu tỏ/ Tất cả Phật ba đời/ Nên quán tánh pháp giới/ Tất cả chỉ tâm tạo/ Tâm như tay thợ vẽ/ Vẽ các thứ ngũ uẩn/ Tất cả trong thế gian/ Đều chỉ do tâm tạo5. Tất cả không ngoài tâm, nhưng không phải theo kiểu duy tâm của phương Tây, mà theo cách kinh Lăng nghiêm và luận Đại thừa khởi tín đã nói, rõ hơn với bộ luận Thành duy thức.

Trong phạm vi xa nguồn hiện nay, cảnh giới mà một chúng hữu tình đang thọ nhận chính là Cảnh giới tướng. Tứ đại và hư không đã có cảnh sắc và phần hạn rõ ràng. Như loài người thì Cảnh giới tướng là chỉ cho thế giới con người đang sống, trong đó có thân và các căn của loài người. Loài vật thì Cảnh giới tướng là những gì chúng đang thọ nhận bằng thân và căn của chúng. Còn Năng kiến tướng thuộc về tâm. Trong trường hợp này, quá trình trên không chỉ dừng lại ở ba tướng tế vừa mô tả trên, mà đã bị chi phối bởi sáu tướng thô kế tiếp: Trí tướngTương tục tướngChấp thủ tướngKế danh tự tướngKhởi nghiệp tướng, và cuối cùng là Nghiệp hệ khổ tướng. Quá trình đó được mô tả sơ lược như sau: Khi chân tâm đã phân năng sở, liền xuất hiện sự phân biệt6. Phân biệt rồi thì tâm thức khởi niệm tương tục không dứt, duyên niệm cảnh giới, duy trì sự khổ vui, tâm khởi dính mắc7. Y sự dính mắc đó mà phân biệt tướng danh ngôn hư dối, tìm danh thủ trước8, tạo mọi thứ nghiệp, đó là Khởi nghiệp tướng. Khởi nghiệp tướng này là nhân để có tướng cảnh giới thuộc sáu đường. Có cảnh giới ở sáu đường rồi thì cái gọi là làm chủ, tự tại… chỉ là trá hình của nghiệp lực. Nói Nghiệp hệ khổ tướng là vậy. Hệ diễn tả tình trạng lệ thuộc, trói buộc. Tất cả đều lệ thuộc vào nghiệp nhân mà chúng sinh từng gây ra trước đó.

Đó là lý do vì sao có hai chữ định mệnh. Vì mạng sống và mọi việc của nhân sinh như đã được định sẵn. Có những thứ không muốn vẫn xảy ra. Có những thứ rất muốn vẫn không thể làm được. Vì tất cả đã có nhân từ trước, giờ đủ duyên chỉ sinh quả mà thôi.

Với cái nhìn của Phật giáo, cái gọi là định mệnh chỉ đúng với những gì thuộc định nghiệp. Nhân đã có, duyên đã đủ, và giờ ra quả. Vẫn còn chút tự do với những loại nghiệp gọi là bất định, nhân tuy có mà duyên chưa đủ. Có thể tạo duyên giúp chuyển quả. Vì thế nhà Phật không công nhận thuyết định mệnh dù đời người thật sự bị trói buộc bởi các nghiệp mình từng gây tạo.

 Có một thực tế là, dù đều là người, nhưng không ai giống ai, từ hình dạng, thân thế, đến hoàn cảnh v.v… Có thứ giống nhau mà có thứ không giống nhau, phải nói là muôn hình vạn trạng ở thế giới này. Để giải quyết vấn đề đồng dị này, kinh Lăng nghiêm có nói đến hai từ đồng nghiệp và biệt nghiệp. Đồng nghiệp chỉ cho những tư tưởng và hành vi giống nhau, kết quả nhận được từ chúng là như nhau, nên nói đồng, như cùng là loài người hay loài vật, cùng một màu da, cùng giai cấp v.v… Trong những thứ đồng đó, xuất hiện những thứ không đồng, là do tư tưởng và hành vi không như nhau. Người từng tạo nhân bố thí nhiều thì giàu có. Người từng tạo nhân keo kiết mạnh thì sa cơ, thấp hèn v.v… Tóm lại, bản chất thật con người đang sở hữu thì không động, nhưng có mọi thứ như hiện nay là do động. Động đó tuy không thật nhưng giờ lại trở thành bản chất trong từng con người. Hỏi sao ở nhà chỉ vài giờ là không chịu được, vài ngày trở thành căng thẳng, vài tháng liền thành điên loạn? Ngọn nguồn là vì chúng ta đã làm quen với cái động quá lâu xa. Thật còn đó mà ẩn mất. Vọng giờ thành chủ. Mọi thứ đều được xây dựng trên nền tảng ấy, từ cái động vi tế do bất giác mà có, cho đến những cái động thô, là thói quen trong cách suy nghĩ, nhận thức và hành vi của mỗi người, Phật giáo gọi là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.

Việc loạn động này đã được nhà toán học Pascal cảnh báo vào giữa thế kỷ XVII: “Mọi vấn đề của con người xuất phát từ chỗ họ không thể ngồi yên một mình trong phòng”. Gần đây, câu nói này đã được soi tỏ bởi một thí nghiệm của Đại học Virginia ở Mỹ. Những người tham gia thí nghiệm được yêu cầu ngồi một mình mười lăm phút, trong một căn phòng trống trơn, không có gì ngoài một nút bấm. Nếu bấm nút, họ sẽ bị điện giật. Và tất cả đều được thử trước mức độ điện giật này. Ai cũng tuyên bố dù được trả tiền cũng không đụng đến9. Vậy mà, thay vì suy tưởng hay nghỉ ngơi chịu đựng cho qua mười lăm phút, họ đã bấm vào nút giật. Bởi ngồi yên, với họ là một cực hình, nó đáng sợ hơn bất cứ thứ gì trong hiện tại, cần có gì đó để làm, dù việc đó có hại đến bản thân chăng nữa.

Thí nghiệm cho thấy con người bị chi phối bởi thói quen tương ưng với sự loạn động lớn lao thế nào. Thành chẳng có gì ngạc nhiên khi thấy các bãi biển ở phía Bắc thành phố Sydney vẫn kín người, bất chấp mức phạt 11.000 AUD được áp dụng cho việc cách ly ở Australia. Đóng cửa các bãi biển, họ lại tụ qua chỗ khác. Chỉ cần một tin gì đó hơi bất thường xuất hiện là đã có sự tụ hội nhanh chóng. Việt Nam và các nước khác cũng không ngoại lệ. Các hội thánh, đền thờ, bãi biển, công viên v.v… đầy ắp người. Ngày 1-4 Việt Nam thực hiện cách ly xã hội trên toàn quốc, trong vòng mười lăm ngày, theo chủ trương của Thủ tướng Chính phủ, nhưng quanh bờ hồ Hoàn Kiếm vẫn rất đông người. Lực lượng an ninh và bảo vệ phải có mặt để tuyên truyền, động viên, giải tán… nhưng đến 7 giờ tối vẫn chưa xong. Lý do đơn giản là ở nhà cả ngày chán quá, ra đi bộ một lát cho thoải mái, vì tập thể dục quanh hồ vốn là thói quen không thể thiếu của đa phần v.v… Để thực hiện tốt việc cách ly này, Chính phủ đã phải “tăng cường kiểm tra, trường hợp nào không nằm trong diện được đi ra ngoài, đều phải xử phạt”10. Hầu hết các quốc gia đều phải có những biện pháp mạnh đối với việc cách ly này, mới có thể duy trì tình trạng giúp người dân ở yên một chỗ. Thật là vất vả khi mọi thứ xảy ra trái với thói quen hằng ngày của mọi người.

Cũng chính vì đó mà nghe đến cách ly là sợ. Sợ phải đối diện với những gì trái với sinh hoạt cũng như thói quen của mình. Sợ tù túng, bó buộc. Sợ nên bị cách ly là la làng. Rồi khai gian, báo cáo láo, và nếu trốn được là trốn ngay, bất chấp sự kêu gọi cùng thỉnh cầu của các vị có trách nhiệm. Kết quả là dịch bệnh lan rộng toàn cầu, mức độ lây lan chóng mặt, người nhiễm vô số, người chết không ít.

Ý thức vì cộng đồng hiện nay được nhắc đến rất nhiều. Hy vọng có thể phát huy được sự hiểu biết cũng như tính Phật trong mỗi người (dù nó đã lặng khá lâu từ thời vô thỉ), hy vọng lực ấy bùng lên để có thể ngăn bớt sự vọng động của con người. Một vài lần, tôi cũng đã ghi một câu gì đó dưới những trang tin, nói lên sự thiếu ý thức của con người. Không phải do tức tối hay muốn chửi bới. Một khi bạn đã hiểu nguyên do phát sinh, hiểu con người chỉ là nạn nhân của chính những gì mình từng huân tập, thì chẳng còn sự bực tức nào hiện diện nếu không nói là thương cảm. Chỉ là muốn góp phần ngăn bớt những tệ hại nhờ vào lực của số đông. Hy vọng họ thấy sợ hãi với việc chửi bới mà ý thức nhiều hơn với bổn phận và trách nhiệm mình cần có với cộng đồng, dùng hiểu biết và sự thương cảm thắng bớt những vọng động của bản thân.

Sài thành bây giờ khá vắng vẻ. Đường sá thênh thang… là ước mơ của khá nhiều người khi phải chen nhau dưới cái nắng đổ lửa và trong không khí ngột ngạt xăng dầu cùng khói bụi. Nhưng tâm chưa nguôi vọng động nên cảnh vắng lặng không thể tự hiện, phải nương vào dịch bệnh mới có. Không có dịch bệnh như hiện nay, bao đời thành phố được vắng lặng? Thành dù thích thú, cũng đành chọn cái không thích thú để chân tay được thoải mái, còn kiếm tiền sinh nhai… Rất nhiều thứ cần phải giải quyết, không thể ngồi yên một chỗ mãi. Cái cần giải quyết trước mắt là tình trạng căng thẳng và nhàm chán khi phải đi ngược với thói quen vọng động của mình.

Tôi trước giờ vẫn không thích cái nắng của Sài thành, nắng trầy mình. Cũng không thích không khí ô nhiễm bụi bặm của Sài thành, thấy nghẹt thở mỗi khi ra đường, thích ở nhà nhiều hơn. Vậy mà chính nhờ cái nóng đó, dịch bệnh ở Việt Nam ít có điều kiện phát tán.

Nắng và bụi, khẩu trang không thể không dùng. Người ta quen che kín từ đầu đến chân, không một ai thắc mắc. Cũng không ai thắc mắc vì sao trên mặt mọi người lại mang khẩu trang y tế. Can đảm bày mặt giữa khí trời oi bức mới là việc lạ của phố phường. Thói quen đó không ngờ lại thành tiện lợi cho việc chống dịch hiện nay, cần thì đeo, không thì thôi, dù việc đó hơi khó với một số người. Nhưng đa phần thì vô tư, khẩu trang cả ngày lẫn đêm vẫn được. Mới thấy, trong họa có phúc, chẳng nên chê thứ nào. Thành lỡ gây nghiệp nhân không mát mẻ và ô nhiễm rồi thì nhận cái quả nóng bức bụi bặm trong vui vẻ cho an. Biết đâu chừng, để tồn tại trước đám nhiễm ô đó mà thân thể sản sinh được một loại kháng thể, nCov không thể đột nhập.

Ở nước ngoài, đeo khẩu trang là việc cực kỳ khó, dù đó là phương tiện khá cần thiết để dịch bệnh không lây lan. Vì trước giờ, không có gì cần bảo vệ, việc đeo khẩu trang trở thành bất bình thường ở nước họ. Thiên hạ sợ khi thấy ai đeo khẩu trang, như thể là một loại bệnh truyền nhiễm cần tránh xa, dù người đeo không hề bệnh. Đã thấy sợ thì bản thân khó mà làm được những điều tương tự. Một bệnh viện thuộc thành phố Irving, tiểu bang Texas, không cho y bác sĩ mang khẩu trang, lý do khá ngộ nghĩnh, mang khẩu trang khi đi thăm bệnh là coi thường bệnh nhân, khẩu trang chỉ được dùng khi mổ. Trong bưu điện cũng vậy. Dù đã có người nhiễm nCov, quỵ ngay trong giờ làm việc, lãnh đạo vẫn yêu cầu nhân viên không được đeo khẩu trang, khi nào bệnh rồi hãy đeo. Một nhân viên da đen phản đối: “Nếu bệnh rồi thì làm gì còn ngồi đây mà đeo khẩu trang”. Nhờ đó, khẩu trang được trang bị cho mọi người, nhưng ai muốn thì đeo, không thì thôi. Không phải như Việt Nam, người dân tự nguyện đeo, ai không tự nguyện sẽ bị phạt. Vào chốn đông người mà không có khẩu trang, bạn sẽ được nhắc nhở. Hoặc là bạn ngoan ngoãn làm theo hoặc là bạn phải đối diện với sự phản ứng gay gắt của mọi người. Nhờ đó, dịch bệnh không có điều kiện lan tràn như ở các nước Âu Mỹ.

Phải nói, khi một tư tưởng được hình thành và bám chặt, trở thành một loại định kiến kiên cố trên toàn xã hội, thì thật là nan giải cho một quốc gia khi cần một thay đổi mới. Cho nên, muốn tùy duyên được thì phải vô chấp. Vô chấp mới tùy duyên được. Tùy được, an bình mới sinh. Trúc Lâm Đại Đầu Đà có kệ “Ở đời vui đạo hãy tùy duyên/ Đói đến thì ăn mệt ngủ liền/ Trong nhà có báu thôi tìm kiếm/ Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”. Chẳng thể tùy duyên mang khẩu trang, cũng chẳng chịu yên ở tại nhà, cứ theo thói cũ mà đi mãi, mặt cứ đưa ra cũng có ngày… Nhiễm nCov là việc đương nhiên. Lây lan dịch bệnh là đương nhiên. Việc dừng mọi hoạt động vui chơi, cách ly giao tiếp, ở yên một chỗ v.v… là y cứ trên mặt hiện tượng y học mà giải quyết, hầu chấm dứt sự lây lan của dịch bệnh, nhưng lại khá tương ưng với đạo.

Trong kinh Đại bát Niết-bàn, Đức Phật dạy “Này thiện nam tử! Thế nào là hạnh anh nhi? Này thiện nam tử! Chẳng đứng dậy, chẳng dừng trụ, chẳng đến, chẳng đi, chẳng nói năng, gọi là anh nhi11. Như Lai cũng vậy. Chẳng đứng dậy, vì Như Lai chẳng khởi các pháp tướng. Chẳng dừng trụ, vì Như Lai chẳng trước tất cả pháp. Chẳng đến, vì Như Lai thân hành không có động chuyển. Chẳng đi, vì Như Lai đã được Đại bát Niết-bàn. Chẳng nói năng, vì Như Lai tuy vì tất cả chúng sinh diễn thuyết các pháp mà thật không có sở thuyết…”. Không khởi, không dừng trụ, không lưu chuyển, không nói năng đều là tướng của pháp giới thanh tịnh, không bị nhiễm ô, không có tật bệnh. Nhưng chúng sinh, là chung lại mà khởi12, chung lại mà chuyển, khiến pháp giới thanh tịnh biến thành lục đạo luân hồi. Trong những khoảng luân hồi ấy, tha hồ mà nói năng và bám víu các pháp. Thân, khẩu, ý, nếu dừng được ở cửa thiện nghiệp, cõi giới an vui hạnh phúc hiện ra13. Thân, khẩu, ý nếu vướng vào cửa bất thiện, trầm luân khổ nạn trăm đường. Vượt hai ngưỡng ấy, chẳng khởi, chẳng trụ, chẳng đến, chẳng đi, cũng chẳng nói năng, là con đường trung đạo giúp nhập lại tánh thể Như Lai trong mỗi người. Đó là chỗ mà Trung luận nói “Thật tướng của các pháp/ Tâm hành ngôn ngữ đoạn/ Không sinh cũng không diệt/ Tịch diệt như Niết-bàn14. Chẳng động, tức chẳng có khổ. Chấm dứt hoàn toàn hai cái khổ sinh tử là Phần đoạn tử và Biến dịch tử.

Cho nên, Yên vị một chỗ tu hành, tương chao qua ngày v.v… chẳng phải là việc dễ làm. Yên được mới là việc khó. Yên tâm lại càng khó hơn. Chẳng phải là kẻ rỗi việc, không công. Nền tảng an bình chính là từ đó. Tụng kinh, niệm Phật, trì chú, thiền định, giảm bớt tham dục v.v… chẳng phải tiêu cực, chẳng phải mê tín dị đoan, chính là giúp thân yên dần, giúp tâm bớt sinh, đó là tích cực gìn giữ bản thân, phòng lúc nạn tai, cứu người. Hoạn nạn tuy đồng, vẫn còn phước nghiệp bản thân.

Động tức có khổ…

Vì quả chẳng lìa nhân15.

Bà con bớt động cho đời an vui.

Chân Hiền Tâm

_______________

(1) Đại thừa khởi tín luận – Bồ-tát Mã Minh tạo luận. Chân Hiền Tâm Việt dịch và giải thích.

 (2) Như sóng lăn tăn từ nước mà có, thể của nó chính là nước.

 (3) Đại thừa khởi tín luận nghĩa ký – Đại sư Hiền Thủ trực giải. Chân Hiền Tâm Việt dịch. Chanhientam.net 

(4) Đại thừa khởi tín luận trực giải – Đại sư Hám Sơn trực giải. Chân Hiền Tâm Việt dịch. Chanhientam.net 

(5) Kinh Đại phương quảng Hoa nghiêm.  

(6) Trí tướng. 

(7) Chấp thủ tướng. 

(8) Kế danh tự tướng. 

(9) Vẻ đẹp của người đứng một mình – Đặng Hoàng Giang. 

 (10) Báo mới. 

(11) 不能起住來去語言。是名嬰兒。Kinh Đại bát Niết-bàn. Kinh bộ 12. Kinh số 375. 

(12) Tâm, ý, ý thức chung lại mà khởi, là nghĩa của từ chúng sinh. 

(13) Nói “động tức có khổ”, sao loại thiện nghiệp này bắt nguồn từ động mà nói an vui hạnh phúc? Là do so với khổ đau của chúng sinh ở các đường mà nói. Còn so với loại thường-lạc-ngã-tịnh của tự tánh Như Lai bất sinh bất diệt, thì an vui đó vẫn không ngoài tâm sinh diệt, vẫn là vui trong cái khổ. Thiện nghiệp trời người vẫn chịu cái khổ của Phần đoạn tử. Thiện nghiệp của Thanh văn và Duyên giác, đến quả vị tối cùng là La-hán và Bích Chi Phật vẫn còn chịu cái khổ vi tế của Biến dịch tử. 

 (14) Trung quán luận – phẩm Quán pháp – Bồ-tát Long Thọ. 

 (15) Luận Đại thừa khởi tín – Bồ-tát Mã Minh. Chân Hiền Tâm Việt dịch và giải thích.

Cầu nguyện qua cái nhìn Duyên khởi

Mọi nguyện cầu được thành tựu hay không đều không qua khỏi nghiệp của mỗi người, liên quan đến cái gọi là đồng nghiệp, biệt nghiệp, định nghiệp, bất định nghiệp…

Một người Mỹ đang cầu nguyện, ảnh internet
Một người Mỹ đang cầu nguyện, ảnh internet
Trong cuộc tranh cử tổng thống diễn ra tại nước Mỹ, giữa hai đảng Cộng hòa và Dân chủ. Kamala Harris, 56 tuổi, ứng viên phó tổng thống của đảng Dân chủ, được sinh ra tại California Mỹ, nhưng thường được mẹ đưa về Nam Ấn Độ, quê hương của bà. Harris chịu ảnh hưởng tích cực của ông ngoại, là một quan chức dân sự cấp cao của Ấn Độ1. Ngày bầu cử tổng thống chính thức, tại ngôi đền chính của làng, nơi có khắc tên Harris, khoảng 60 người dân địa phương đã làm lễ cầu nguyện và mộc dục cho Dharma Sastha, hiện thân của thần Ayyappan theo đạo Hindu. Cả làng họ đều ủng hộ bà. Họ hy vọng bà sẽ giành chiến thắng. Đó là lý do khiến họ tiến hành lễ cầu nguyện đặc biệt này.

Song song đó, một nhóm Ấn Độ khác, tín đồ của Hindu Sena, lại cầu nguyện cho Donald Trump. Họ muốn đương kim tổng thống Mỹ tái đắc cử để kiểm soát các đối thủ chính của Ấn Độ là Pakistan và Trung Quốc2. Do mục đích này mà dân ở chỗ này thì cầu cho đảng Cộng hòa thắng, dân ở chỗ kia thì cầu cho đảng Dân chủ thắng.

Thực tế, không phải mọi lời cầu nguyện đều được đáp ứng. Như cuộc tranh cử kia, chỉ có thể có một đảng thắng, hoặc Cộng hòa hoặc Dân chủ, không thể cả hai. Điều đó có nghĩa lời cầu nguyện của một nhóm sẽ không được đáp ứng. Đó là việc chắc chắn. Vậy thực chất của việc cầu nguyện là gì? Nó có thực sự được đáp ứng bởi các đấng tối cao?

Cầu nguyện qua cái nhìn của một con chiên

Một người kể rằng3:

Khi tôi còn là một người theo chủ nghĩa vô thần, tôi có một người bạn rất hay cầu nguyện. Mỗi tuần tôi đều được nghe một câu chuyện mà cô tin là Chúa sẽ lo liệu cho cô. Và mỗi tuần tôi đều thấy việc đáp ứng lạ lùng ấy. Thật là khó khăn cho một kẻ vô thần như tôi phải chứng kiến điều đó từ tuần này sang tuần khác. Không lâu sau, loại lý lẽ “chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên” của tôi dần trở nên yếu ớt.

Có điều, tại sao Đức Chúa Trời lại đáp ứng lời cầu nguyện của bạn tôi? Lý do lớn nhất là cô ta có mối liên hệ với Chúa. Cô ta muốn theo Chúa và thật sự lắng nghe những gì Chúa phán. Trong tâm trí cô, Đức Chúa Trời có quyền hướng dẫn cuộc đời cô và cô sẵn lòng để ngài làm điều đó. Khi cô cầu nguyện thì đó như là một phần trong mối liên hệ với Chúa. Cô cảm thấy thật dễ chịu khi đến với Chúa để trình bày những nhu cầu, những nỗi bận tâm và bất cứ vấn đề gì đang xảy ra trong đời sống của cô. Hơn nữa, cô tin chắc những gì cô đọc trong Kinh Thánh rằng Đức Chúa Trời muốn cô tin cậy như thế. Cô bày tỏ cho mọi người thấy lời tuyên bố của Kinh Thánh sau đây là đúng: “Này là điều chúng ta dạn dĩ ở trước mặt Chúa. Nếu chúng ta theo ý muốn ngài mà cầu xin điều gì thì ngài nghe chúng ta… Vì mắt của Chúa đoái trông người công bình, tai ngài lắng nghe lời cầu nguyện người…”.

Đức Chúa Trời không nhậm tất cả lời cầu nguyện của mọi người, là do họ không có mối liên hệ với Chúa. Họ có thể biết Đức Chúa Trời đang tồn tại, thậm chí họ vẫn đang thờ phụng Chúa, nhưng những ai chưa từng được đáp ứng lời cầu nguyện thì hầu như không có mối liên hệ gì với Chúa. Họ chưa từng tiếp nhận sự tha thứ trọn vẹn của Chúa cho những tội lỗi của họ. Bạn có thể hỏi, vậy điều đó phải hiểu như thế nào? Đây là lời giải đáp “Này, tay Đức Giê-hô-va chẳng trở nên ngắn để không cứu được, tai ngài cũng chẳng nặng nề để không nghe được. Chỉ là sự gian ác của các ngươi làm xa cách mình với Đức Chúa Trời, tội lỗi của các ngươi đã che khuất mặt ngài khỏi các ngươi, đến nỗi ngài không nghe các ngươi nữa”.

Theo cái nhìn đó, lời cầu nguyện được đáp ứng là có, nhưng có điều kiện. Ắt hẳn là vậy. Vì thế giới này là thế giới duyên khởi, không có gì xuất hiện mà không có nhân duyên. Điều kiện đó là, bạn phải có mối liên hệ mật thiết với đấng tối cao trong lòng bạn. Mối liên hệ này được hiểu là làm theo những gì Đức Chúa Trời đã dạy, thông qua Kinh Thánh, và phải từng tiếp nhận sự tha thứ trọn vẹn của Chúa cho những tội lỗi của mình, không chỉ dừng ở mặt thờ phụng. Bạn phải là kẻ lương thiện và biết chí tâm sám hối những tội lỗi đã phạm một cách chân thành. Bởi tội lỗi chính là thứ làm bạn bị ngăn cách với Thượng đế và “Chúa cứu thế là giải pháp duy nhất của Thượng đế cho vấn đề tội lỗi của chúng ta. Nhờ ngài, chúng ta mới có thể nhận biết và kinh nghiệm tình thương yêu cũng như chương trình của Thượng đế cho đời sống của mình”4. Cái nhìn này không khác Phật giáo bao nhiêu. Chỉ là Phật giáo còn nói sâu vào thực chất của những hiện tượng đó.

Cầu nguyện qua cái nhìn của một Phật tử

Cầu là xin một sự trợ giúp. Những gì mà quyết định thành tựu không nằm trong tầm tay mình thường khởi tâm cầu xin. Một hành động khá quen thuộc trong đời sống thường nhật của con người. Hoặc là một sự cầu xin có đối tượng rõ ràng. Lạy trời đừng có kẹt xe. Hoặc là một sự cầu xin không có đối tượng. Cầu mong đừng kẹt xe. Chỉ là xin đừng kẹt xe, còn xin ai thì không rõ. Nó diễn tả một mong muốn, và hy vọng mong muốn đó được trợ giúp để thành tựu.

Nguyện là mong muốn, cũng có nghĩa là cầu xin.

Cầu nguyện là xin, xin một sự trợ giúp để những mong muốn của mình được thành tựu.

Trong Phật giáo, không phải không có cầu nguyện, nhưng do tin hiểu nhân quả, biết mọi thứ trên đời muốn được quả thì phải tạo nhân, không chỉ cầu xin mà được. Không tạo đúng nhân thì cầu xin bao nhiêu cũng không toại nguyện. Còn đã tạo đúng nhân tương ưng thì dù không cầu xin quả vẫn hiện rõ ràng. Nên trong Phật giáo, thấy dùng từ “nguyện” nhiều hơn “cầu nguyện”, dù trong nhiều việc, nguyện ấy bao gồm luôn cả cầu. Nguyện diễn tả một mong muốn được thành tựu trong tương lai mà hiện tại chưa làm được, hoặc làm được mà bằng phương thức gián tiếp như hồi hướng công đức xin bình an cho một ai đó, thành tựu một việc gì đó v.v…

Ngay cả khi đã tin vào nhân quả, trong tình thế cấp bách hoặc khó khăn, cầu nguyện vẫn là việc thiết yếu đối với một Phật tử. Bởi con người là một sinh vật bé nhỏ giữa dòng đời bất tận, cần một sự trợ giúp từ chư Phật hay Bồ-tát.

“Khi cầu nguyện, tâm trở nên tĩnh lặng và tập trung. Đó là việc khá tốt cho đời sống nhân loại khi những cầu nguyện mang tính chân, thiện, mỹ.”

Mọi nguyện cầu đều được thành tựu nếu hội đủ duyên

Kinh luận cũng như thực tế cho thấy việc cầu nguyện muốn thành tựu, chỉ cần hội đủ nhân duyên, không lệ thuộc vào việc được cầu nguyện là lành hay dữ. Bạn có thể khiến một ác quả được thành tựu nếu đáp ứng đủ nhân duyên cho nó. Vua Lưu Ly giết được dòng họ Thích, trong đó có cả những kẻ tu đạo thanh tịnh, toàn trí toàn bi như Phật vẫn không thể cứu, là do dòng họ Thích đã tạo một ác nghiệp và vua Lưu Ly đã phát lời nguyện “Đời trước nếu có chút ít phước báu nào đều dùng để báo oán”5. Ông mang hết phước báu đã có để mong thành tựu một ý nguyện trong tương lai. Nhân duyên hội đủ và việc tựu thành.

Angulimala trước khi gặp Phật và chứng Thánh quả, là một tên thợ săn tàn bạo, giết người không gớm tay. Nhưng sau khi chứng Thánh quả, ông thấy bất nhẫn cho những khổ nạn của chúng sinh. Một lần vào thành khất thực, ông chứng kiến một phụ nữ đang đau đớn và nguy kịch trong khi sinh nở. Theo lời Phật dạy, ông mang công đức mình đã có khi tu tập hồi hướng cho bà, mong bà được bình an. Và người phụ nữ được bình an.

Những năm còn trên ghế nhà trường, dù là tiểu học hay trung học, câu niệm Phật luôn là lá bùa che tôi thoát nạn trả bài. Cũng là lá bùa che tôi thoát nạn sông nước v.v. Hết thảy đều nương vào câu niệm Phật.

Điều đó cho thấy việc cầu mong, dù là thiện hay bất thiện, đều được toại nguyện khi nhân duyên tạo ra nó được hội đủ. Nhân duyên đó chính là thiện nghiệp. Như kinh Địa Tạng bổn nguyện nói: “Trong đời sau như có kẻ thiện nam, người thiện nữ nào, muốn cầu trăm ngàn muôn ức điều nguyện, thời chỉ nên quy y, chiêm ngưỡng, đảnh lễ, cúng dường, ngợi khen hình tượng của Bồ-tát Địa Tạng. Được như thế, thời nguyện những chi, cầu những chi, thảy đều thành tựu”. Thiện nghiệp ở đây chính là quy y, chiêm ngưỡng…, và chỉ nên làm những việc như thế. Thiện nghiệp của vua Lưu Ly là phước báu trong quá khứ, của Tôn giả Angulimala là công đức tu hành trong hiện đời, của người phụ nữ Cơ Đốc giáo là tâm hướng Chúa và làm theo những gì Chúa đã dạy, còn tôi là câu niệm Phật. Đó là những thiện nghiệp giúp thành tựu các mong muốn.

Với những cầu xin, không chỉ trong phạm vi của mình mà có liên quan đến người khác, như cầu cho người phụ nữ đang sinh nở, cầu cho việc tàn sát dòng họ Thích được thành tựu, đều phụ thuộc ít nhiều vào nhân duyên của đối tượng được cầu nguyện và mối liên hệ nhân duyên với nhau. Thiện và ác nghiệp của đương sự quyết định không nhỏ trong việc cầu xin hay mong muốn này. Người phụ nữ, nếu không có ít nhiều thiện nghiệp và không có duyên với Tôn giả Angulimala thì khó mà nhận được lời hồi hướng của Tôn giả. Dòng họ Thích, nếu không tạo cái nhân sát sinh với tiền thân của vua Lưu Ly, cũng không thể mắc lời nguyện của vua Lưu Ly. Vì lời cầu nguyện không thể tác động đến đối phương nếu không có nhân duyên hoặc nhân duyên không đủ, như bài kinh Tương ưng Thôn trưởng, trong kinh Tương ưng bộ nói:

Khi Thế Tôn trú ở Nālandā, một Thôn trưởng đã đến và hỏi:

– Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn trú ở phương Tây, mang theo bình nước, đeo vòng hoa huệ, nhờ nước được thanh tịnh.

Những người thờ lửa, khi một người đã chết, họ nhấc bổng và mang vị ấy ra ngoài, kêu tên vị ấy lên và dẫn vị ấy vào thiên giới. Còn Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác sẽ làm gì cho toàn thế giới sau khi thân hoại mạng chung, được sinh lên thiện thú và thiên giới?

Đức Phật đã dùng hai ví dụ để trả lời câu hỏi của Nālandā.

– Này Thôn trưởng! Có người lấy một tảng đá lớn ném xuống hồ nước sâu. Rồi một đám đông tụ hội lại, cầu khẩn, tán dương, chắp tay đi khắp và nói: “Hãy đứng lên, này tảng đá! Hãy nổi lên, này tảng đá! Hãy trôi vào bờ, này tảng đá!”. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng! Tảng đá lớn ấy có do cái nhân cầu khẩn của đám đông, có do cái nhân tán dương, có do cái nhân chắp tay đi khắp của đám đông mà nổi lên và trôi dạt vào bờ?

– Thưa không, bạch Thế Tôn!

– Cũng vậy, này Thôn trưởng! Có người sát sinh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, phù phiếm, tham lam, sân hận, tà kiến, đến khi sắp mạng chung, có một đám đông tụ hội lại, cầu khẩn, tán dương, chắp tay đi khắp và nói: “Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh lên thiện thú và thiên giới”. Song người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, vẫn sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

– Này Thôn trưởng! Có người nhấn một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu, rồi đập bể ghè ấy. Ghè ấy tan vụn và chìm xuống nước, còn dầu thì nổi lên trên. Một đám đông tụ hội lại, cầu khẩn, tán dương, chắp tay đi khắp và nói: “Hãy chìm xuống, này dầu! Hãy chìm sâu xuống, này dầu! Hãy chìm xuống tận đáy, này dầu!”. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng! dầu ấy có do cái nhân cầu khẩn, có do cái nhân tán dương, có do cái nhân chắp tay đi khắp của đám đông mà chìm xuống, hay chìm sâu xuống, hay chìm xuống tận đáy không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này Thôn trưởng! Có người từ bỏ sát sinh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh, từ bỏ nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, phù phiếm, không có tham, sân và theo chánh tri kiến. Người ấy khi sắp mạng chung, được một đám đông tụ hội lại, cầu khẩn, tán dương, chắp tay đi khắp và nói: “Mong rằng người này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”. Song người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sinh lên thiện thú và thiên giới.

Bài kinh trên cho thấy nghiệp của mỗi người là thứ quyết định đường đi của người ấy. Lời cầu nguyện bên ngoài nếu không thuận với nghiệp của người, đều không có tác dụng, nhất là với loại định nghiệp.

Việc hướng nguyện chỉ có tác dụng khi nghiệp của người không phải là định nghiệp và người cầu cũng như người nhận có mối quan hệ nhân duyên, dù là thuận hay nghịch. Đó là lý do Phật dạy trong kinh Địa Tạng bổn nguyện rằng: “Quyến thuộc đã sớm khuất, nếu do ác nghiệp mà bị đọa vào ác đạo, tính ra phải chịu đến số kiếp, nay nhờ công đức tô vẽ, chiêm lễ, cúng dường hình tượng ngài Địa Tạng của con cái hay anh chị em, liền được giải thoát, sinh lên cõi trời, cõi người, hưởng quả vui thù thắng vi diệu”. Hai bài kinh thấy nghịch nhau, nhưng thật là không nghịch. Chỉ là đủ nhân duyên hay không đủ nhân duyên. Lời nguyện của Tôn giả có tác dụng với người phụ nữ vì nhân duyên đã hội đủ. Tức lời hướng nguyện cho một ai đó vẫn có tác dụng xoay chuyển nghiệp của người, không phải không có. Điều kiện cần ở đây là nhân duyên đã tạo ra với nhau, thông qua những mối quan hệ. Người phụ nữ từng gieo duyên lành với Tôn giả Agulimala, giờ đủ duyên nhận lại được lời hướng nguyện. Người chết từng gieo duyên lành với con cái, anh chị em v.v., nhờ duyên lành đó mà lời hướng nguyện có tác dụng. Bà Thanh Đề, do nhân duyên cúng dường một lon gạo cho tiền thân của Tôn giả Mục Kiền Liên nên về sau nhận được lời hướng nguyện của ngài cùng với chư Tăng, thoát kiếp địa ngục và sinh thiên. Đó là những nhân duyên theo hướng thuận. Với những nhân duyên theo hướng nghịch, như Tôn giả Angulimala từng xâm hại đến nhiều người, nhân nghịch duyên đó, lời hướng nguyện của Tôn giả cũng sẽ có tác dụng với người được hướng nguyện, như một sự trả nợ.

Tùy duyên mà lời cầu nguyện có tác dụng khác nhau

Thực tế là việc cầu nguyện thấy lúc được, lúc không. Có việc cũng thành tựu mà chậm. Có việc cầu thì liền được. Đó là vì mọi thứ đều tùy thuộc vào phước đức hay thiện nghiệp của bản thân và người được hướng nguyện. Như trường hợp Tôn giả Agulimala hồi hướng, người phụ nữ liền được. Đối với bà Thanh Đề, công đức của Thánh Mục Kiền Liên không đủ giúp bà chuyển tâm, phải nhờ đến lực của năm trăm vị A-la-hán khác thì bà mới chuyển tâm, sinh thiên.

Có nhiều người cầu xin cho việc đủ ăn thôi đã khó. Vì cầu thì có mà thiện nghiệp phước báu không đủ để lời cầu nguyện được thành tựu. Lời cầu nguyện chỉ thành tựu khi đương sự biết tạo thiện nghiệp trong hiện đời. Như Phật dạy muốn giàu sang thì phải bố thí. Nghèo không có gì để bố thí thì dùng công sức mà bố thí, như đến chùa làm công quả, giúp đỡ người khác v.v. rồi hướng nguyện thiện nghiệp đó cho việc sung túc. Không tài mà cũng không sức thì phải biết niệm Phật, rồi hồi hướng phước đức đó cho việc sung túc. Phải tạo phần thiện nghiệp tương ưng thì mọi thứ mới thành tựu. Thành tựu là nhờ đủ duyên. Những gì thuộc định nghiệp thì phước đức hay thiện nghiệp hiện đời khó xoay chuyển, nhưng sẽ được cái quả ở tương lai. Vì thế vẫn nên tạo thiện nghiệp.

Nhiều người cầu thấy liền được dù không thấy tạo thiện nghiệp bao nhiêu, là do phước báu đã có trong quá khứ, chỉ là ẩn đó, giờ cần một lời hướng nguyện để khai mở, coi như đủ duyên, nên xuất hiện.

Nói chung, tùy duyên mà việc cầu nguyện hoặc là thành tựu, hoặc là không, hoặc là mau, hoặc là chậm.

Duy tâm sở hiện

Mọi thứ đều từ tâm hiện, Phật ngoài không khác với Phật của chính mình. Mọi người đều có Phật tánh v.v. là phần giáo lý thâm sâu của Phật giáo. Cũng là phần lý mà do đó Phật xuất hiện ở đời. Chỉ cần ngộ nhập lại phần tri kiến này thì mọi thứ đều đầy đủ. Tri kiến ấy đầy đủ trong mỗi chúng sinh, nhưng chúng sinh không thể sử dụng được như Phật, cũng không có lực dụng thần thông như Phật, là do một niệm bất giác sơ khởi, tâm động. Chính cái động đó mở đầu cho mọi loạn động về sau. Tâm chúng sinh không còn tĩnh lặng tỉnh giác để dụng cho được phần tri kiến Phật của mình, cứ theo lực động đó mà đi, ngày càng tán loạn. Càng tán loạn thì càng vô minh. Đã vô minh thì tam nghiệp tạo bất thiện nghiệp càng nhiều, càng xa rời ông Phật của mình. Hướng tâm cầu nguyện mong muốn thành tựu một ước nguyện, theo cách như Con chiên hay của Phật tử, là bước đầu hướng tâm trở lại phần tĩnh lặng của tâm, khai mở những gì từng lưu giữ.

Nếu đã có một hướng nguyện cao cả từ quá khứ, thì thiện nghiệp có khi giúp thành tựu một ước nguyện trong hiện tại, có khi giúp phá bỏ một ước nguyện trong hiện tại. Các ước nguyện này không phải là ước nguyện cao cả đã phát từ trước. Chẳng hạn, trong quá khứ bạn đã phát Bồ-đề tâm, nhưng điều đó không có nghĩa bạn đã điều phục được tham sân hoàn toàn. Bởi ngoài phần hiện hành chưa thể điều phục xong, còn phần tập khí ẩn sâu trong tạng thức, Bồ-tát ra đời lại cách ấm còn mê, nên trong hiện đời không tránh khỏi những nguyện cầu mang tính tham dục hay do sân hận mà ra. Tùy thiện nghiệp cũng như việc khai mở ở tự tâm mà những nguyện cầu này được thành tựu hay không, miễn nó luôn giữ bạn đi trên con đường mà hướng nguyện cao cả chính là lực chủ đạo.

Niệm Phật cầu trợ lực cho việc không thuộc bài là một cầu nguyện không chính đáng. Tuy vậy, nếu không có những thành tựu đó thì một đứa con nít như tôi không biết dựa vào đâu để có niềm tin với chư Phật, sẽ không có việc niệm Phật dài lâu, khó mà huân tiếp chủng tử lành vào tạng thức. Tôi cũng sẽ không dùng nó để vượt qua những khổ nạn, là duyên giúp tôi quay lại con đường mình đã chọn. Song, không phải mọi mong cầu không chính đáng của tôi đều được đáp ứng. Tất cả mọi nguyện cầu được đáp ứng hay không, phụ thuộc vào việc nó có làm chướng ngại con đường hướng thượng của tôi hay không. Nếu nguyện cầu đó làm chướng ngại con đường tôi đang đi, thì dù nó chính đáng bao nhiêu, vẫn không thành tựu. Diệu dụng của việc phát Bồ-đề tâm là ở đó. Một khi đã có hướng nguyện cao thượng làm chủ lực thì mọi ước nguyện còn lại cứ theo đó mà đi. Hoặc là bạn được thỏa mãn. Hoặc là bất như ý xảy ra. Song tất cả đều là diệu dụng của tự tâm. Mà việc chí tâm phát nguyện Bồ-đề vô thượng là bước đầu giúp bạn khai mở lại tự tâm của chính mình.

Rốt cuộc rồi…

Việc ai làm tổng thống nước Mỹ tùy thuộc vào nghiệp của chính đương sự. Nếu làm tổng thống là định nghiệp thì dù được hướng nguyện hay không, việc cứ theo đó mà thành tựu. Nếu là bất định nghiệp, việc cầu nguyện tùy thuộc vào thiện và ác nghiệp của đương sự trong hiện đời, cộng với lời hướng nguyện của người đời. Lời hướng nguyện của số đông sẽ có giá trị hơn là những biệt nghiệp riêng lẻ.

Nhưng thường…

Những gì mang tính lớn lao, liên quan mật thiết đến toàn thế giới như thế, lời cầu nguyện cũng như thiện nghiệp trong hiện đời không phải là thứ quyết định. Mọi thứ đã được sắp đặt như một loại định mệnh. Một sự sắp đặt của cái gọi là cộng nghiệp. Nói đến cộng nghiệp thì tùy nghiệp của nhân loại đã tạo mà có các hiện tượng hiện nay. Đó là lý do vì sao lời tiên tri về một thế giới trong tương lai thường đúng. Vì mọi thứ đã được lập trình theo nhân và duyên của nó. Nhân duyên tạo ra trong hiện đời dành cho một thế giới tương lai.

Nói chung, mọi nguyện cầu được thành tựu hay không đều không qua khỏi nghiệp của mỗi người, liên quan đến cái gọi là đồng nghiệp, biệt nghiệp, định nghiệp, bất định nghiệp v.v.

Nhân nơi công đức này, nguyện tất cả chúng sinh đều tạo thiện nghiệp để thế giới được an bình trong hiện tại và tương lai.

Chân Hiền Tâm/Nguyệt san Giác Ngộ

______________________

(1) Ngôi làng Ấn Độ cầu nguyện Kamala Harris chiến thắng. VnExpress.

(2) Báo Lao Động 4-11-2020.

(3) Đức Chúa Trời có đáp ứng lời cầu nguyện của chúng ta không? Marilyn Adamson. Bản dịch của EveryVietStudent.com

(4) Nhận biết Đức Chúa Trời cách cá nhân. EveryVietStudent.com.

(5) Kinh Tăng nhất A-hàm quyển 2, phẩm Đẳng kiến.

Ngón tay chỉ mặt trăng: Thông điệp kinh Lăng-già

Phật pháp, qua mỗi thời đại, đều có những bậc long tượng xuất chúng đem trí tuệ và văn tài hộ trì Chánh pháp
Phật pháp, qua mỗi thời đại, đều có những bậc long tượng xuất chúng đem trí tuệ và văn tài hộ trì Chánh pháp

PGDS – Ngã tòng mỗ dạ đắc tối chính giác, nãi chí mỗ dạ nhập bát Niết-bàn, ư kỳ trung gian nãi chí bất thuyết nhất tự, diệc bất dĩ thuyết, đương thuyết. Bất thuyết thị Phật thuyết.

我 從 某 夜 得 最 正 覺 。 乃 至 某 夜 入 般 涅 槃 。 於 其 中 間 乃 至 不 說 一 字 。 亦 不 已 說 當 說 。 不 說 是 佛 說 。

“Ta từ đêm chứng được Chánh giác Tối thượng, cho đến đêm nhập Niết-bàn, ở khoảng giữa thời gian đó, thậm chí Ta không hề thuyết một chữ, cũng chẳng phải đã thuyết hay đang thuyết. Không thuyết mới là Phật thuyết”. (Kinh Lăng-già)

Đoạn kinh văn trên có thể được xem là thông điệp xuyên suốt kinh Lăng-già, và là hành trang cần thiết để chúng ta đi vào cõi “thánh trí tự chứng” của kinh Lăng-già, hay nói rộng ra là kho tàng pháp bảo của kinh điển Đại thừa.

Kinh Lăng-già ý nghĩa sâu xa u áo, văn tự súc tích mà cổ kính. Người đọc khó lòng chấm câu cho đúng, còn nói gì đến chuyện bỏ văn để được nghĩa, quên nghĩa để ngộ tâm ư?Kinh Lăng-già nổi tiếng là cực kỳ khó đọc, không chỉ bởi tư tưởng phức tạp mà còn bởi ngôn ngữ cô đọng. Những lời kinh văn thâm áo và quá đỗi hàm súc của kinh Lăng-già tự xưa đến nay vẫn luôn là một ngọn cao phong chót vót làm nản lòng những ai muốn vượt qua nó để đi vào cõi “Nhất thiết Phật ngữ tâm”. Đến cả bậc túc học uyên bác như Tô Đông Pha, trong lời tựa cho bản dịch kinh Lăng-già của Cầu Na Bạt Ðà La, còn phải than:

(楞 伽 義 輒 幽 眇 。 文 字 簡 古 。 讀 者 或 不 能 句 。 而 況 遺 文 以 得 義 。 忘 義 以 了 心 者 乎 。

Lăng-già nghĩa triếp u miểu. Văn tự giản cổ. Độc giả hoặc bất năng cú. Nhi huống di văn dĩ đắc nghĩa. Vong nghĩa dĩ liễu tâm giả hồ).

Ngần ấy cũng đủ để ta thấy kinh Lăng-già khó đọc, khó hiểu đến cỡ nào. Nhưng chính điều đó cũng giúp ta khi mở trang kinh thì phải đọc kinh bằng cái tâm cực kỳ cẩn trọng.

Tác phẩm Studies in Laṅkāvatāra Sutra của Đại sư Suzuki ra đời, dù đã rất lâu, quả đã đáp ứng được sự mong đợi của những người khao khát cái học Tâm tông, giúp chúng ta trút bỏ được phần nào những nỗi nhọc nhằn khi phải dò dẫm tìm hiểu từng câu, từng chữ trong mỗi trang kinh.

Phật pháp, qua mỗi thời đại, đều có những bậc long tượng xuất chúng đem trí tuệ và văn tài hộ trì Chánh pháp. Ngày trước, Pháp Tạng giảng Hoa nghiêmLăng-già, La Thập dịch kinh Phật, Tăng Triệu bàn Trung luận v.v…, các vị đó đều là những bậc long tượng đem cái trí xuất thế đi vào cõi ngôn ngữ để hoằng dương Chánh pháp, cho nên mỗi chữ đều là cam lồ, mỗi câu đều là pháp bảo, giúp thánh giáo được hoằng dương, mật nghĩa được khai thị, khiến cho những kẻ sơ cơ biết chỗ quy thú mà tìm về, bậc thượng căn nhân đó mà liễu ngộ. Những bậc long tượng đó đều có đầy đủ trí tuệ lẫn văn tài. Có trí tuệ mà không có văn tài thì việc hoằng pháp cũng khó đi vào lòng người, có văn tài mà không có trí tuệ thì văn chương chỉ là lời hoa mỹ. Có trí tuệ lẫn văn tài thì ngôn ngữ hoằng pháp mới thành ngôn ngữ thù thắng, mới là loại ngôn ngữ “chung thân ngôn, vị thường ngôn, chung thân bất ngôn, vị thường bất ngôn.” (Suốt đời nói mà chưa từng nói, suốt đời không nói mà chưa từng không nói) của Trang Tử. Loại ngôn ngữ đó, nói như Thoreau, sẽ “vạch ra một thông lộ đi vào sự huyền ẩn của vạn hữu” (rifts its way into the secret of things. – Walden, Holt, Rinhart & Winston, Inc., 1961, p.76).

Đại sư Suzuki cũng là bậc long tượng hiếm hoi của Phật pháp ngày nay. Bạn đọc ở Việt Nam đã quá quen thuộc với ông qua hai tác phẩm nổi tiếng là Thiền luận và Cốt tủy của đạo Phật, qua bản dịch tài tình của HT.Tuệ Sỹ và dịch giả Trúc Thiên. Ông đã dày công đem cái trí tuệ uyên bác và văn tài xuất chúng để khảo cứu kinh Lăng-già, mở ra cho chúng ta một thông lộ đi vào kho tàng tư tưởng thâm áo của kinh điển Đại thừa. Giữa rừng sách vở chú giải kinh điển hiện nay, ngoại trừ một vài tác phẩm quá đỗi hiếm hoi của những vị bậc cao tăng túc học, đạo hạnh cao thâm, còn lại thì nội dung cuốn nào cũng na ná như nhau vì chỉ toàn lặp lại kinh điển một cách hời hợt, tác phẩm Studies in Laṅkāvatāra Sutra của Đại sư Suzuki sừng sững như ngọn hải đăng soi chiếu, giúp ta xác định được phương hướng giữa biển ngôn ngữ mênh mông vô biên tế của kinh Lăng-già.

Dù muốn dù không, hơn một thế kỷ qua, chúng ta đã quen với phương thức suy tư phương Tây, quen với những thuật ngữ triết học Âu-Mỹ, nên khi tìm về cõi đạo phương Đông, ta không khỏi có ít nhiều bỡ ngỡ. Những trang cổ lục phương Đông không còn dễ dàng mở ra cho ta những chân trời tư tưởng bao la, như nó đã mở ra cho những bậc tôn túc cách đây hàng vài thế kỷ. Do vì cách thể hội ngôn ngữ và phương thức tư duy chúng ta đã có nhiều khác biệt với người xưa. Đại sư Suzuki là nhà tư tưởng trác việt phương Đông, nhưng tác phẩm này nhắm vào đối tượng là những độc giả phương Tây, nên ông giải thích kinh Lăng-già toàn bằng những khái niệm triết học phương Tây, chính nhờ thế mà ta có thể nương theo để lần về nguồn cội, và có điều kiện tìm hiểu thêm về mối tương quan giữa các khái niệm đó với Phật pháp. Tác phẩm này cũng góp phần khai mở một thông lộ cho một cuộc hội thoại giữa Đông Tây, một cuộc hội thoại mà theo triết gia Heidegger là tất yếu.

Thử xét các bản dịch kinh Lăng-già được thực hiện trực tiếp từ Phạn ngữ2, ta thấy tất cả gần như đều gặp rất nhiều trở ngại trong việc bóc lớp vỏ ngôn ngữ để giúp ta thấy hé lộ phần cốt tủy bên trong, vì có nhiều điểm mà các bản dịch đều không nhất quán. Ngay cả Đại sư Suzuki khi dịch lại kinh Lăng-già sang Anh ngữ, vẫn có nhiều đoạn kinh văn ông dịch khác rất nhiều so với bản dịch trước đó trong tác phẩm Studies in Laṅkāvatāra Sutra. Điều đó cho thấy ngôn ngữ kinh Lăng-già trong nguyên tác Phạn ngữ vốn rất uyển chuyển linh động, “duy biến sở thích” như Kinh Dịch, khiến người đọc có thể hiểu theo nhiều cách.

Kinh Lăng-già kêu gọi đến cảnh giới thánh trí tự chứng, tức kinh nghiệm thâm huyền vi diệu của nội tâm, siêu quá mọi cảnh giới của Thanh văn, Duyên giác và ngoại đạo. Do đó, nó bất khả tư nghì và siêu việt ngôn ngữ. Trong cảnh giới nội chứng, ngôn ngữ không phải là phương tiện duy nhất để giao tiếp. Kinh Lăng-già cho thấy không nhất thiết phải sử dụng ngôn ngữ mới có thể truyền đạt được tư tưởng và cảm xúc, bởi vì ở một vài cõi Phật, chư Phật chỉ cần giáo hóa hoặc truyền thông điệp bằng cách nhìn, chau mặt, nhướng mày, hoặc mỉm cười, tằng hắng hoặc bằng các cử động khác. Kinh chép rằng trong non nước của Phổ Hiền Bồ-tát (Samantabhadra), chỉ cần nhìn suông là đủ để một người chứng được Vô sinh pháp nhẫn (Anutpattika-dharmakshānti). Thậm chí ở cõi Non Nước Chúng Hương trong kinh Duy Ma, các Bồ-tát chỉ cần nghe mùi hương cũng có thể đắc nhập luật hạnh. Hoặc tại Quang Âm cung hay Cực Quang Tịnh thiên – là cõi trời thuộc vô sắc giới – nơi đó không có âm thanh, khi những cư dân nơi cõi trời đó muốn nói với nhau thì có ánh sáng phát ra miệng thay cho ngôn ngữ. Sự tiếp thông chân lý ở cảnh giới đó không còn cần đến ngôn ngữ nữa. Tại Linh Sơn pháp hội, chỉ cần một cành hoa đưa lên là thông điệp giác ngộ được tiếp nhận bằng một nụ cười. Niêm hoa vi tiếu!

Nhưng những điều vi diệu đó chỉ hợp với những bậc thượng căn có xuất thế trí, nên các ngài tiếp cận với “chân đế” hay “đệ nhất nghĩa đế” một cách dễ dàng. Chúng ta cũng có thể may mắn cảm thụ được phần nào điều đó trong những sát-na xuất thần trong cảm xúc nghệ thuật, qua một nét họa, một cung đàn hay một câu thơ, mà nhà thơ Hồ Dzếnh gọi là “phút linh cầu”. Còn thông thường, ta không thể phủ nhận được một điều rằng ở cõi “tục đế” thiên sai vạn biệt này, ngôn ngữ vẫn luôn là “phương tiện thiện xảo” để giúp ta thể hiện sự giao tiếp về cảm xúc lẫn tư tưởng. Muốn siêu việt được ngôn ngữ để đón nhận được diệu nghĩa kinh Lăng-già thì ta vẫn phải cần đến chính ngôn ngữ. Ngôn ngữ là phương tiện giúp ta siêu việt được chính nó, nghĩa là ta phải vượt qua cái mà chúng ta dùng chính nó để làm phương tiện vượt qua. Đó quả là điều nghịch lý. Giống như ta phải vượt qua được cái bóng của chính mình. Cho nên, kinh Lăng-già luôn nhắc nhở ta phải tiếp thu ngôn thuyết như thế nào để có thể hiểu được cái “ý tại ngôn ngoại” mà nghe ra được âm thanh ngoài dây đàn, “huyền ngoại chi âm”. Suốt kinh văn luôn vang lên những lời nhắc nhở:

Chân thực ly văn tự 真 實 離 文 字。(Cái chân thực thì xa lìa văn tự).

Như Lai bất thuyết đọa văn tự pháp. 如 來 不 說 墮 文 字 法。(Như Lai không thuyết giảng pháp sa vào văn tự).

Tông thú dữ ngôn thuyết, tự chứng cập giáo pháp, nhược năng thiện tri giác, bất tùy tha vọng giải. 宗 趣 與 言 說, 自 證 及 教 法, 若 能 善 知 覺, 不 隨 他 妄 解。(Người nào khéo hiểu được sự khác biệt giữa chứng ngộ và ngôn thuyết, giữa tự chứng với giáo pháp thời kẻ đó không còn mắc vào những kiến giải sai lầm”).3

Ẩn dụ ngón tay chỉ mặt trăng là một minh họa nổi tiếng trong kinh Lăng-già nói về mối tương quan giữa chứng ngộ và ngôn thuyết, giữa ngôn ngữ và ý nghĩa. Ta phải nương theo ngón tay để nhìn thấy mặt trăng. Muốn thấy được mặt trăng thì phải hiểu được “ý tại ngôn ngoại”, phải nghe được “huyền ngoại chi âm”. Hễ cứ chấp vào kinh văn thì ta lấy ngón-tay-chỉ-mặt-trăng làm mặt trăng. Còn như chấp vào những lời luận giải của Đại sư Suzuki về kinh văn thì ta lại lấy ngón-tay-chỉ-ngón-tay-chỉ-mặt-trăng làm mặt trăng. Như vậy sẽ càng vô minh quá lắm. Cũng chính vì lý do đó, mà tác giả đã dựa theo tinh thần kinh Lăng-già để không ngừng cảnh báo bằng những lời thống thiết.

Sự tương quan giữa ngôn ngữ và ý nghĩa, hoặc giữa văn từ (akshara) và thực tướng (tattvam hoặc tathāvam), hoặc giữa ngôn thuyết (deśana) và chân lý (siddhānta), cũng giống như sự tương quan giữa ngón tay và mặt trăng. Cần phải có một ngón tay để chỉ mặt trăng, nhưng không nên chấp ngón tay làm mặt trăng. Nếu ta chấp văn tự (aksara) hoặc ngôn ngữ (ruta) hoặc ngôn thuyết (deśana) làm chính tự thân của thực tại thì điều đó cũng gây nên các hậu quả tai hại tương tự. Những kẻ nào không thể rời mắt được khỏi đầu ngón tay sẽ không bao giờ liễu ngộ được đệ nhất nghĩa đế (paramārtha) của các pháp.4

Hoặc đầy hình ảnh:

Ta phải xem văn tự, trong mức độ tương quan với ý nghĩa, như ánh trăng trong nước. Ánh trăng vẫn có đấy, song chính vầng trăng không đi vào (apravishṭam) trong nước, nhưng cũng không được xem như trăng không có chút tương quan (nirgatam) nào với nước, bởi vì cũng có một chút gì đó trong nước phản chiếu lại vầng trăng. Chỉ cần chúng ta đừng để mình rơi vào thói quen bàn suông một cách hời hợt về thực nghĩa. Ðây là lời cảnh cáo của kinh Lăng-già: “Yathārutār-thābiniveśasanidhau na prapatata.” (“Đừng rơi vào sai lầm vi tế khi chấp vào ý nghĩa như nó được diễn tả trong ngôn ngữ”).5

Lời cảnh báo đó của kinh Lăng-già giúp ta nghe lại câu nói đạm nhiên của Heidegger:

Không bao giờ và bất kỳ trong ngôn ngữ nào, cái điều phát biểu ra lời là cái điều được nói đến. (Cái được phát ngôn, không phải là cái Sở ngôn). (Trăng Tỳ Hải, Bùi Giáng dịch. NXB.An Tiêm, Sài Gòn, 1972, tr.252).

Hoặc thơ mộng của Bùi Giáng:

Thưa em ngôn ngữ quặt què,

Làm sao nói hết nghiệp nghề người điên.

Trên bình diện tục đế, ngôn ngữ là phương tiện thiện xảo để diễn đạt cảm xúc và tư duy. Nhưng trên bình diện thế đế thì bản thân ngôn ngữ luôn hạn chế khi diễn đạt nội dung của kinh nghiệm do những yếu tố bất toàn của nó, bởi vì:

Vân hà vi ngữ? Vị ngôn tự vọng tưởng hòa hợp. 云 何 為 語。 謂 言 字 妄 想 和 合。(Thế nào là ngôn ngữ? Đó là nói ngôn thuyết cùng chữ viết và vọng tưởng hòa hợp mà thành).6

Bàn về Truyện Kiều, nhà thơ Bùi Giáng cho rằng phải đọc Truyện Kiều cho đến khi “… chỉ còn thấy nguyên một vùng Thiên Nhiên Thành Tượng man mắc khắp mọi nơi, hiện diện thảy thảy, đổ ra làm phong cảnh phiêu bồng, trút vào làm cảnh phong du hý, tỏa ra bốn phía làm Tam Muội Thượng Thừa thì lúc bấy giờ bất thình lình thấy ra cõi miền riêng biệt thù thắng …” (Lễ hội tháng Ba, NXB.Một Hôm Sa Mạc, Sài Gòn, 1972, tr.221).

Đọc Truyện Kiều theo cách đó cũng chính là tinh thần đọc kinh Lăng-già một cách chân chính theo thể điệu “Tam Muội Thượng Thừa.” Nghĩa là đọc kinh Lăng-già cho đến khi không còn thấy có Phật nhập nơi Niết-bàn, cũng chẳng có Niết-bàn để Phật nhập, xa lìa hai tướng hữu vô, xa lìa giác lẫn sở giác.

Nhất thiết vô Niết-bàn,

Vô hữu Phật Niết-bàn,

Nhược hữu, nhược vô hữu,

一 切 無 涅 槃,

無 有 佛 涅 槃,

若 有 若 無 有,

Vô hữu Niết-bàn Phật,

Viễn ly giác, sở giác.

Thị nhị tất câu ly.

無 有 涅 槃 佛,

遠 離 覺 所 覺。

是 二 悉 俱 離。

Đọc như thế là đặt chân vào cảnh giới mà Pháp sư Pháp Tạng gọi là:

Phù chân tâm liêu khuếch, tuyệt ngôn tượng ư thuyên đề; xung mạc hy di, vong cảnh trí ư năng sở. 夫 真 心 寥 廓, 絕 言 象 於 筌 罤; 沖 漠 希 夷, 忘 境 智 於 能 所。

(Kìa khi chân tâm rỗng rang, tĩnh tịch thì đoạn tuyệt với ngôn ngữ và biểu tượng nơi lưới, võng; lặng lẽ mênh mông thì quên cảnh, trí nơi năng sở. – Đại thừa khởi tín luận nghĩa ký 大 乘 起 信 論 義 記).

Cảnh giới thánh trí tự chứng là mặt trăng, kinh Lăng-già là ngón-tay-chỉ-mặt-trăng, tác phẩm này chỉ là ngón-tay-chỉ-ngón-tay-chỉ-mặt-trăng. Ta phải tiếp thu ngôn ngữ kinh Lăng-già như thế nào để “tuyệt ngôn tượng ư thuyên đề”, và phải lắng nghe những pháp âm kia theo thể cách nào để “vong cảnh trí ư năng sở”? Tất cả đều tùy thuộc vào cơ duyên. Đọc kinh Lăng-già hay bất kỳ cuốn kinh Phật nào cũng đều tùy thuộc cơ duyên. Tạm gọi đó là gia trì lực. Nếu gặp được cơ duyên thì khi đọc cuốn bảo kinh này, ta sẽ không còn thấy ngón-tay-chỉ hay ngón-tay-chỉ-ngón-tay-chỉ đâu, mà chỉ còn thấy mặt trăng, và khi đó thì ngón-tay-chỉ, như tấm bè phương tiện, đã bị bỏ lại ở bờ phía bên kia.

Nhưng khi “chân tâm” đã “liêu khuếch”, không còn bị vướng nơi võng lưới của ngôn ngữ nữa thì trong cõi “xung mạc hy di” đó cũng không còn năng sở. Không những không thấy ngón tay đâu, mà cả mặt trăng cũng không có nốt. Tất cả đều viên dung vô ngại trong Ánh Trăng Lăng-già Toàn Nhiên Thị Hiện giữa “một vùng Thiên Nhiên Thành Tượng man mắc khắp mọi nơi” để hiển lộ cảnh giới Cứu Cánh chưa từng có mà Phương Tiện cũng chẳng từng không.

Huỳnh Ngọc Chiến

Suy tư và nhận biết

Tư duy là hoạt động nhận thức của con người; nhờ có tư duy con người mới có tiến bộ, phát triển. Giá trị lớn lao của tư duy là điều quá rõ ràng. Tuy vậy, nỗi khổ đau của con người phần lớn cũng bắt nguồn từ tư duy, suy nghĩ.

zen-2907290_1280.jpg
Suy tư thì suy luận, ức đoán, phân biệt nhị nguyên, đánh giá phán xét… trên tính chủ quan hữu ngã – Ảnh minh họa

Trong kinh Đế Thích sở vấn (Kinh Trường bộ), Thiên chủ Sakka thỉnh vấn Đức Phật vì sao nhân loại ai cũng mong ước sống trong bình an hạnh phúc, nhưng sao luôn có chiến tranh hận thù, chống đối tàn hại lẫn nhau. Đức Phật nói rằng đấy là do tư tưởng, quan niệm, suy tư của con người mà ra.

Thật vậy, suy tư nếu không đặt trên nền tảng của sự nhận thức trong sáng thì đều dẫn đến khổ đau. Dưới tác động của vô minh, mọi suy nghĩ đều chứa mầm bất hạnh. Trong môi trường của tư duy hữu ngã, cái tôi chủ quan bao giờ cũng có mặt trong nhận thức. Suy tư vì vậy sẽ không bao giờ đưa đến cái thấy sáng tỏ khách quan toàn diện, chỉ là nắm bắt, tiếp cận một khía cạnh nào đó của sự vật, hiện tượng theo quan kiến của riêng mỗi người. Vì thế trong suy tư luôn chứa đựng sự mâu thuẫn và chống đối nhau. Các hệ tư tưởng trên thế giới từ xưa đến nay luôn cho thấy sự mâu thuẫn và xung đột như thế. Đó là bản chất bất toàn và xung đột của tư duy lý tính bị tập nhiễm bởi các khuynh hướng tham ái, ngã mạn và chấp thủ. Đức Phật thấy được điều đó nên luôn thận trọng nhắc nhở chúng ta rằng đừng nên kết luận “chỉ đây là chân lý, ngoài ra là sai lầm”.

Đức Phật không bao giờ kết luận một điều gì theo sự đánh giá, phán đoán của tư duy. Bởi nếu kết luận theo sự suy đoán của tư duy sẽ đưa đến nhận thức cực đoan. Kết luận theo kinh nghiệm chủ quan, theo Đức Phật, là một tà kiến. Ngài nói: “Này Vacchagotta, kết luận thế giới là thường trú hay vô thường; thế giới hữu biên hay vô biên; thân thể và tâm thức là một hay khác; Như Lai tồn tại hay không tồn tại sau khi chết, đều là tà kiến” (Kinh Trung bộ).

Thực tại là những gì rất sinh động luôn trôi chảy mới mẻ. Kết luận là đóng khung thực tại, nhốt thực tại vào những khái niệm; bấy giờ thực tại không còn là thực tại diễn tiến sinh động mới mẻ nữa mà là một thực tại chết. Dưới nhãn quan của Đức Phật, kết luận thế giới là thường trú hay vô thường đoạn diệt, vũ trụ hữu biên hay vô biên… chỉ là những ảo tưởng, ảo kiến, hý luận mà thôi. Những kết luận như vậy chỉ làm cho thế giới nhận thức của con người thêm phần rối ren, hỗn loạn, xung đột tranh chấp với nhau mà Ngài gọi là kiến tranh chấp, kiến hoang vu, kiến kiết phược…

Với thực tại sinh động đang diễn tiến trôi chảy, Đức Phật chỉ quan sát nhận biết chúng một cách chân thật trong sáng khách quan. Các pháp sinh khởi thì Ngài nhận biết là sinh khởi; các pháp hoại diệt thì Ngài nhận biết là hoại diệt, chỉ quán chiếu thực tại với bản chất duyên sinh duyên diệt của chúng mà không đi đến một suy tư kết luận nào cả. Ngài nói: “Này Vacchagotta, đây là điều Như Lai nhận biết: Đây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt; đây là thọ… đây là tưởng… đây là hành…đây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt. Do vậy, Ta nói rằng, với sự đoạn trừ, ly tham, đoạn diệt, xả bỏ, vứt bỏ tất cả ảo tưởng, tất cả hôn mê của tất cả ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên, mà Như Lai được giải thoát, không còn chấp thủ” (Kinh Trung bộ).

Sự khác nhau giữa suy tư và nhận biết mà người viết dụng ý ở đây là một bên mang tính tư duy chủ quan, suy biện triết học dựa trên cấu trúc danh ngôn, khái niệm; một bên là rỗng rang vô niệm, đạo học vô vi. Suy tư thì suy luận, ức đoán, phân biệt nhị nguyên, đánh giá phán xét… trên tính chủ quan hữu ngã. Nhận biết là tỉnh thức trong sáng, rỗng rang vô vi, không có cái ta chủ quan tạo tác (hữu vi) lăng xăng trong đó. Phật giáo khởi thủy là đạo học chứ không phải triết học. Sau này, Phật giáo đi vào giai đoạn bộ phái, trào lưu Abhidharma hình thành, Phật giáo mới đi vào lãnh vực triết học. Hẳn bạn đọc sẽ thắc mắc, đạo Phật khởi thủy cũng có những kết luận mang tính triết học như vô thường, vô ngã…, làm sao nói không có tính triết học?

Thực ra nói các pháp là vô thường hay sắc, thọ, tưởng, hành, thức là vô thường; đó không phải là một kết luận mang tính triết học, chỉ là cách nói dẫn đạo, giúp con người thoát ra khỏi tâm lý tham chấp vào mọi thứ ở đời để sống an lạc hạnh phúc mà thôi. Bởi bản chất rốt ráo của các pháp thì siêu việt thường và vô thường. Với Đức Phật, người nào tìm đến Ngài với thiết tha mong được chỉ dẫn tu tập giải thoát khổ đau thì Ngài tận tình chỉ dạy; còn với những ai tìm đến Ngài với mong muốn tìm kiếm một tri thức triết học, một kết luận mang tính trừu tượng siêu hình thì đều bị Ngài từ chối. Vacchagotta là một du sĩ năm lần bảy lượt tìm đến Ngài với mong muốn khai thác ở Ngài những tri thức triết học nhưng đều bị Ngài từ chối bằng cách giữ im lặng, không trả lời những câu hỏi của vị này. Nơi đây, tác giả Nguyễn Tường Bách có nhận định:

“Ta sẽ sớm thất vọng nếu muốn tìm nơi Đức Phật một nền triết học hoàn chỉnh về nhận thức, một vũ trụ quan hẳn hoi, một lời giải thích tường tận về thế giới hiện tượng. Lý do là, Đức Phật đến với đời không phải là để lý luận về vũ trụ và thế giới. Ngài không trình bày những nhận thức triết lý như những nhà triết học. Mục đích của Đức Phật là tuyên bố cho thế gian biết cuộc đời này là khổ, là phiền não, thế nhưng có những cách để thoát khổ, để diệt phiền não… Đức Phật không có dáng dấp của một triết gia nêu lên những nhận thức hay kết luận về vũ trụ rồi tìm cách chứng minh và bào chữa cho chúng”.

Có thể nói mọi khổ đau của tất cả chúng ta đều bắt nguồn từ nhận thức sai lầm về thực tại, không thấy đúng bản chất như thực của thực tại. Thử nhìn vào thái độ yêu ghét của bạn. Bạn nghĩ rằng thực sự có một thực tại đáng yêu đáng ghét bên ngoài phản ánh lên tâm thức bạn như thế. Nhưng quả thật không phải vậy, thái độ yêu ghét của bạn là do chính bạn phản ứng với cái ta tham ái trong tự tâm bạn tạo ra. Thực tại bên ngoài mà bạn thấy đáng yêu đáng ghét đó là hình chiếu của cái ta tham ái chấp thủ của tâm thức bạn, chứ không phải là thực tại tự nó. Thực tại tự nó thì không có thuộc tính đáng yêu đáng ghét. Đó là sự nhầm lẫn của tất cả chúng ta. Và đó chính là nguyên nhân của mọi khổ đau.

Thực tại là sợi dây mà bạn không nhận ra là sợi dây. Bạn thấy nó là con rắn nên bạn mãi sống trong sự sợ hãi khổ đau. Con rắn là ảo tưởng, ảo kiến, là những suy tư tưởng tượng theo cái ta vẽ vời của bạn, là sự nhận thức sai lầm về thực tại của bạn.

Trong kinh Tiểu bộ, Đức Phật có dạy một bài pháp vắn tắt giúp cho Bahiya chứng ngộ ngay Niết-bàn. Bài pháp giản đơn mà súc tích, ngắn gọn mà sâu xa, trực tiếp đi vào nhận thức thực tại chân thực: “Này Bahiya, ông nên tu tập thế này, trong cái thấy sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri sẽ chỉ là cái thức tri”. Thấy mà không có người thấy, nghe mà không có người nghe, thọ tưởng mà không có người thọ tưởng, nhận biết mà không có người nhận biết, thì thực tại hiện ra rất chân thực, rất sáng rõ. Mọi thấy nghe, cảm thọ, nhận biết mà không có cái ta tạo tác đằng sau thì thực tại hiện lên với tính chất chân thực của nó. Trong sự nhận biết là thuần túy nhận biết ấy, bấy giờ thực tại không còn là thực tại đáng yêu hay đáng ghét nữa mà chỉ thuần một tính chất bình yên nguyên thủy của nó. Thực tại ấy chính là Niết-bàn. Thảo nào mà Bahiya sau khi nghe những lời dạy vắn tắt cô đọng ấy của Đức Phật liền giác ngộ, thể nhập vào thực tại Niết-bàn.

Nhận biết rỗng rang vô ngã chính là cái nhìn tánh Không, cái nhìn rỗng không về cái ta suy tư đánh giá, phán xét, kết luận theo kinh nghiệm. Tánh Không là một trải nghiệm nhận thức rất sâu sắc, thâm huyền mà ở đó không có cái ta tạo tác xen vào. “Tánh Không là một kiểu nhận thức, một cách nhìn vào kinh nghiệm. Nó không thêm gì vào và không lấy gì đi” (Thanissaro Bhikku). Nhận thức rỗng không như thế, tức không có cái ta yêu ghét thêm bớt gì vào, sẽ đưa bạn vào an trú trong tánh Không, an trú trong Niết-bàn.
Suy tư tất nhiên là có giá trị nhưng đối với vấn đề thể nhập thực tại tối hậu hay Niết-bàn, suy tư chỉ là một gã khờ loay hoay trước cửa mà thôi. Muốn bước vào cánh cửa Niết-bàn, mọi suy tư cần phải rũ bỏ, chỉ còn lại sự nhận biết trong sáng rỗng lặng. Nói như ngài Dharmakirti: “Niết-bàn hoặc thực tại là cái gì giải thoát khỏi tất cả những gì do tư duy cấu thành”.

Hoàng Nguyên/ Báo Giác Ngộ

Vai trò của từ bi đối với việc chăm sóc sức khỏe

Đức Dalai Lama nói về vai trò của từ bi trong việc chăm sóc sức khỏe
Đức Dalai Lama nói về vai trò của từ bi trong việc chăm sóc sức khỏe
GNO – Thông thường, khi tâm ta bị xáo trộn, lo lắng hay bất an thì những ảnh hưởng tiêu cực đó cũng sẽ tác động lên sức khỏe thể chất của chúng ta.

Mọi người đều quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe, nhưng chúng ta cũng cần phải thừa nhận những hệ quả tích cực mà tâm bình an mang đến cho sức khỏe thể chất của chúng ta. Thiền tập về tâm từ bi và tính bất hại có thể góp phần trau dồi và phát triển tâm bình an một cách vững chãi. Đó cũng chính là lý do tại sao tôi thường giới thiệu những phương pháp này đến tất cả mọi người và lồng ghép chúng vào nền giáo dục hiện đại.

Ngoài ra, để tâm được an, chúng ta cũng nên hiểu rõ nguyên tắc hoạt động của tâm trí và toàn bộ hệ thống cảm xúc. Phật giáo chỉ ra 51 tâm sở, được chia thành 6 nhóm: 5 tâm sở biến hành, 5 tâm sở biệt cảnh, 11 món thiện, 6 món căn bản phiền não, 20 món tùy phiền não và 4 món bất định. Dựa trên sự hiểu biết về những điều này, chúng ta có thể nhận diện và thực tập ứng phó với những cảm xúc tiêu cực hay các loại phiền não khi chúng phát sinh. Ngay cả khi đối mặt với các hoàn cảnh khó khăn và chướng ngại thì việc kiến tạo bình an vẫn nằm trong khả năng của chúng ta.

Từ bi có vai trò quan trọng không những đối với sức khỏe bản thân mà còn đối với việc chăm sóc sức khỏe của người khác. Các bác sĩ và y tá nên nghĩ rằng việc điều trị, chăm sóc và giúp đỡ bệnh nhân là một nghĩa cử thiêng liêng, cao đẹp và chẳng khác gì chuyện phục vụ tâm linh đối với người khác. Sự ân cần, niềm nở và vui vẻ từ những bác sĩ khám chữa bệnh sẽ khiến chúng ta cảm thấy thoải mái và nhẹ nhàng. Ngược lại, đối diện với vẻ mặt lạnh lùng, thờ ơ sẽ khiến chúng ta cảm thấy bất an và lo lắng.

Vai trò của từ bi đối với việc chăm sóc sức khỏe ảnh 1
Vòng tay an toàn của các bác sĩ bảo vệ bệnh nhân

Ngay cả khi biết chắc rằng bệnh nhân ấy sẽ không thể qua khỏi, nhưng các bác sĩ và y tá vẫn nên đối xử với họ bằng sự tử tế và lòng từ bi, khiến họ cảm nhận được sự thoải mái và bình an. Tôi tin rằng cuộc sống của chúng ta kéo dài từ đời này sang đời khác và quan trọng hơn hết là lúc chết, chúng ta có thể bình an, thanh thản, không sân giận hay sợ hãi. Khi bắt đầu cuộc sống này, chúng ta nhận được tình yêu thương bao la từ người mẹ, và đến lúc lìa đời, chúng ta cũng cần lòng trắc ẩn từ một ai đó.

Trong thời đại mà dịch vụ y tế trở thành một công việc kinh doanh như hiện nay, thì sự cảm thông và lòng trắc ẩn của các bác sĩ, y tá đối với bệnh nhân càng quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết. Hãy thêm tình thương vào mỗi hành động để biến thế giới này trở thành một nơi đáng sống. Ngày nay, nhân loại gồm 7 tỷ người đang sinh sống cùng nhau, vì vậy, ý thức về mối liên hệ mật thiết và sự hòa hợp giữa người với người thực sự rất quan trọng. Khi được thúc đẩy bởi tình thương thì sự chân thật và tận tâm tự nhiên sẽ xuất hiện.

Ngoài ra, để tránh những sai lầm trong chẩn đoán và điều trị cho các ca bệnh nghiêm trọng, các bác sĩ nên thảo luận theo nhóm để bổ sung kỹ năng và kiến thức cho nhau. Điều quan trọng là khiến cho bệnh nhân thấy rằng bệnh viện và đội ngũ nhân viên y tế ở đó đang hết lòng giúp đỡ và điều trị cho họ. Đồng thời, các bác sĩ và y tá cũng nên tự hào về công việc mà họ đang làm, bởi vì đó là sự phục vụ chân chính và thiết thực đối với tha nhân.

Thậm chí nếu chẳng may các nhân viên y tế hy sinh trong khi chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân thì gia đình và bạn bè của họ cũng nên cảm thấy tự hào về họ và cầu nguyện mọi phước lành sẽ đến với những người đã hy sinh đó. Tôi luôn hướng tâm cầu nguyện cho những y bác sĩ đã hy sinh trong quá trình làm việc.

Trong bối cảnh đại dịch như hiện nay, chúng ta có nhiều cơ hội để giúp đỡ những những người xung quanh trên tinh thần tương thân tương ái. Đồng thời, mọi người cũng nên học hỏi cách thể hiện tình thương và lòng vị tha từ các y bác sĩ. Họ đang phục vụ, chăm sóc những người không nơi nương tựa mà không màng đến sự an nguy của bản thân mình. Họ chính là những người đang thực hành lòng vị tha một cách đúng nghĩa bằng cách giúp đỡ và quan tâm đến những người khác.

Đại dịch là một cơ hội tốt để mọi người có thể thương yêu nhau hơn. Khi đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng thì lối suy nghĩ thông thường về “tôi” và “của tôi” sẽ giảm xuống dần dần. Ví dụ, nếu xuất hiện một trận động đất hay một đợt lũ lụt thì mọi người sẽ không còn phân biệt những người xung quanh mình theo tôn giáo nào hay thuộc chủng tộc nào mà ngược lại, họ sẽ bắt tay nhau và giải quyết các vấn đề cùng nhau. Vì vậy, đôi khi thảm họa hay khó khăn lại là một cách để phát triển lòng vị tha một cách hiệu quả.

Dưới sự ảnh hưởng tàn khốc của đại dịch, chết chóc và những sự mất mát khác là điều không thể tránh khỏi. Bản thân là một người theo Phật giáo, tôi cho rằng thân này bị bệnh tật là điều tất nhiên, nhưng nếu có thể duy trì được sự bình an trong tâm hồn thì mọi thứ sẽ khác đi. Lo lắng và bất an chỉ làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn.

Kinh Khúc Gỗ Trôi Sông

Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Tỷ-kheo, có người thọ tà giới, theo ác pháp, bất tịnh, có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che đậy, không phải Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không phải Phạm hạnh nhưng hiện tướng Phạm hạnh, nội tâm bị hủ bại, đầy dục vọng, là một đống rác bẩn. Đây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị mục nát bên trong.

Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, trên bờ sông Gangà. Thế Tôn thấy một khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước sông Hằng, Ngài liền gọi các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, các ông có thấy khúc gỗ to lớn này đang trôi theo dòng nước sông Hằng không?

– Thưa có, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo, nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này, không tấp vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên cồn đất nổi, không bị loài người nhặt lấy, không bị phi nhân vớt lên, không bị cuốn vào dòng nước xoáy, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, sẽ xuôi theo biển, sẽ trôi nhập vào biển.

– Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, dòng sông Hằng hướng về biển, xuôi theo biển, hướng trôi về biển. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu các ông không đâm vào bờ bên này, không tấp vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên cồn đất nổi, không bị loài người nhặt lấy, không bị phi nhân vớt lên, không bị cuốn vào dòng nước xoáy, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỷ-kheo, các ông sẽ hướng về Niết-bàn, sẽ xuôi theo Niết-bàn, sẽ hội nhập vào Niết-bàn. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi theo Niết-bàn, hướng nhập vào Niết-bàn.

Khi được nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì? Bờ bên kia là gì? Thế nào là chìm giữa dòng? Thế nào là mắc cạn trên cồn đất nổi? Thế nào là bị loài người nhặt lấy? Thế nào là bị phi nhân vớt lên? Thế nào là bị cuốn vào dòng nước xoáy? Thế nào là bị mục nát bên trong?

– Bờ bên này, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ.

– Bờ bên kia, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ.

– Bị chìm giữa dòng, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa vui với sự tham.

– Bị mắc cạn trên cồn đất nổi, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với ngã mạn.

– Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây, Tỷ-kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, chung vui, chung buồn, an lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ bị đau khổ, tự trói buộc mình trong các công việc phải làm được khởi lên của họ. Đây gọi là Tỷ-kheo bị loài người nhặt lấy.

– Và thế nào, này Tỷ-kheo, là bị phi nhân vớt lên? Ở đây, Tỷ-kheo sống Phạm hạnh với ước nguyện được sanh cộng trú với một hạng chư Thiên: “Mong rằng với giới luật này, với cấm giới này, với khổ hạnh này, với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên nhân hay một loài chư Thiên!”. Đây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị phi nhân vớt lên.

– Bị cuốn vào dòng nước xoáy, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm dục tham đắm. Tức bị xoáy vào sắc, thanh, hương, vị, và xúc.

– Và này Tỷ-kheo, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Tỷ-kheo, có người thọ tà giới, theo ác pháp, bất tịnh, có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che đậy, không phải Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không phải Phạm hạnh nhưng hiện tướng Phạm hạnh, nội tâm bị hủ bại, đầy dục vọng, là một đống rác bẩn. Đây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị mục nát bên trong.

Nghe Đức Thế Tôn dạy như vậy, ai cũng muốn đời tu hành của mình như khúc gỗ, không đâm vào bờ bên này, không tấp vào bờ bên kia, không bị chìm giữa dòng, không bị mắc cạn trên cồn đất nổi, không bị loài người nhặt lấy, không bị phi nhân vớt lên, không bị cuốn vào dòng nước xoáy, không bị mục nát bên trong./.

-Phẩm Rắn Độc – Tương ưng sáu xứ – Thiên sáu xứ – Kinh Tương ưng Bộ-

Đọc nhiều

Cần điều tra clip và xử lý cán bộ đòi chôn sống nhà sư.

Giữa lúc cơn khủng hoảng truyền thông Phật giáo đang leo thang vì những bài báo lá cải tiếp tục bồi bút sau khi...

Sự thật về người quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao...

Ngày 13/3/2021, ngay sau khi báo Thanh Niên Online đưa tin: ”Quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao cấu trẻ em:...

Cần Lên Án Báo Tuổi Trẻ Khi Đem Phật Giáo Ra Biếm Họa

Ngày 15/1/2020, Tuổi Trẻ Online đã có sự can thiệp chỉnh sửa lại thông tin đăng tải, buộc lòng phải lên tiếng xin lỗi...

Khai tôn giáo trong căn cước công dân, phải có “giấy chứng nhận xuất...

 Đây là một thắc mắc lớn mà người viết đã nhiều lần đặt ra trong khi trực tiếp thực hiện các thủ tục liên...