Thứ Ba, Tháng Chín 21, 2021

Phật pháp ứng dụng

Ứng dụng văn hoá Phật giáo trong cuộc sống

Mỗi chúng ta nên áp dụng giáo lý đạo Phật trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 hiện nay để cùng vượt qua cơn nan khó này… Đó là chia sẻ của Thượng toạ Thích Thọ Lạc – Trưởng ban Văn hoá TƯ GHPGVN với tập thể lãnh đạo, cán bộ nhân viên và các đối tác, doanh nhân của Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp.

Phật giáo du nhập vào Việt Nam hơn 2000 năm lịch sử và văn hoá Phật giáo đã thích ứng và thấm sâu vào văn hoá dân tộc như bóng với hình. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, Phật giáo vẫn tiếp tục xu hướng nhập thế, ngày càng quan tâm và tham gia nhiều hơn vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.

Thực tế cho thấy, cuộc chiến giữa con người với đại dịch COVID-19 chưa bao giờ mạnh mẽ, khẩn trương như lúc này. Trong bối cảnh đại dịch đang lan rộng, chúng ta không thể dự báo hết những tác động đến đời sống, song rõ ràng chúng ta đã và đang cảm nhận tác động của nó. Phật giáo với hệ thống giáo lý, tư tưởng, triết lý riêng đã và đang đem lại cho những người người theo đạo Phật thái độ, năng lượng sống tích cực. Bởi, càng ngày con người càng nhận ra là giữa đời sống vật chất (sức khỏe và thể chất) có mối liên hệ mật thiết với đời sống tinh thần (tư tưởng và cảm xúc) của con người. Những lời dạy của Đức Phật cũng giúp ta thấy được các kết quả hay khía cạnh tích cực đối với các hoàn cảnh nguy hiểm.

Thượng toạ Thích Thọ Lạc - Trưởng ban Văn hoá TƯ GHPGVN.
Thượng toạ Thích Thọ Lạc – Trưởng ban Văn hoá TƯ GHPGVN.

Chia sẻ một cách tổng quát về văn hoá Phật giáo, Thượng toạ cho biết văn hoá Phật giáo được cấu thành bởi văn hoá vật thể (chùa chiền, tượng pháp, kinh điển, pháp khí + Tăng đoàn, Phật tử) và văn hoá phi vật thể với hệ tư tưởng, đạo đức và lối sống của Phật giáo.

Về tư tưởng, Phật giáo với tinh thần tự giác giác tha, tự lợi lợi tha (mình vì mọi người, mọi người vì mình); vô ngã vị tha (quên mình vì người). Về đạo đức, với 5 giới cấm, 10 điều thiện, đạo luật nhân quả, nghiệp báo, luân hồi. Tất cả đều hướng con người tới nhân cách tốt đẹp, đạo đức hiền lương, hiểu về thuyết nghiệp báo và luân hồi sẽ giúp con người sẽ xa lánh điều ác và hướng làm điều thiện nhiều hơn.

Thời Lý Trần, nước ta chưa thiết lập hệ thống pháp luật, nhưng do tiếp thu tinh thần của Phật giáo nên đã áp dụng 10 điều thiện của Phật giáo làm quy phạm (pháp luật) trong cuộc sống. Chính điều đó đã khiến cho xã hội thời kỳ này trở thành thời kỳ vàng son trong lịch sử Việt Nam.

Lối sống thiểu dục tri túc (biết vừa đủ) của Phật giáo sẽ giúp cho con người ta bớt tham vọng, giảm âu lo, nhằm khiến cho nội tâm thực sự được thanh thản và hạnh phúc trong những giây phút mình đang sống.

Phương pháp thiền định, niệm Phật, tụng kinh, bái sám… của Phật giáo cũng hướng con người ta thiện hơn, giảm được áp lực trong cuộc sống, khiến cho nội tâm được thanh thản và an vui hơn. Thiền định là phương pháp an trú chính niệm trong hiện tại, hay chính niệm tỉnh giác; Khi thực hiện trạng thái tĩnh lặng tỉnh giác trong ba trạng thái thân, hơi thở và tâm gọi là toạ thiền. Còn tĩnh lặng tỉnh giác trong mọi lúc mọi nơi, như khi ăn uống, khi làm việc, khi nói năng và suy nghĩ…gọi là thiền trong sinh hoạt; Phương pháp thiền trong sinh hoạt này rất phù hợp với mọi người đang sống xã hội bận rộn này.

Mỗi chúng ta nên áp dụng giáo lý đạo Phật trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 hiện nay để cùng vượt qua cơn nan khó này...

Mỗi chúng ta nên áp dụng giáo lý đạo Phật trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 hiện nay để cùng vượt qua cơn nan khó này…

Trong xã hội hiện đại, con người phải làm việc rất áp lực, bộ não phải suy nghĩ rất nhiều làm đầu óc mệt mỏi, cho nên phải để đầu óc ngưng nghỉ (tĩnh lặng) để tái tạo lại năng lượng. Ngoài Thiền, thì niệm Phật, Tụng kinh, Bái sám cũng là những cách làm giúp cho giảm những bất an, lo lắng, tìm lại sự thanh thản, bình an và tĩnh lặng trong giây phút đang sống.

Thượng toạ thông tin rằng, mục đích những lời dạy của Đức Phật trong hệ thống giáo lý là Lìa khổ được vui và mong muốn chúng sinh đều xa lìa được sự đau khổ và được an vui hạnh phúc. Điều này đã được đức Phật dạy rất rõ trong Kinh Chuyển Pháp Luân với nội dung chủ đạo của Tứ Diệu đế, Trung đạo, Bát chính đạo.

Trong đó, Tứ diệu đế (Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế) đã trở thành giáo lý căn bản, xuyên suốt trong toàn bộ kinh điển Phật giáo. Với Khổ đế là Đức Phật chỉ ra rằng, con người ta sống ở trên đời ai cũng phải gặp những điều đau khổ. Ngài đã khái quát cái khổ của con người thành 8 loại khổ (bát khổ): Sinh – Lão – Bệnh – Tử; Ái biệt ly khổ, Oán tăng hội khổ, Cầu bất đắc khổ; Ngũ ấm xí thịnh khổ.

Đức Phật nói Khổ đế không phải để làm cho con người buồn chán, bi quan mà trái lại, làm cho mọi người nhìn rõ về quy luật và thực tế của cuộc sống, khi gặp cảnh khổ cũng không hoảng loạn mà điềm tĩnh đón nhận, không bị hoàn cảnh chi phối, tìm phương án giải quyết. Trong bối cảnh đại dịch như hiện nay thì thấu hiểu điều này là vô cùng quan trọng.

Nguyên nhân tạo thành những nỗi khổ hiện hữu ở đời, Đức Phật gọi là Tập đế. Đó là: tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ. 10 điều này đều có thể ở chính ngay trong con người và gây nên đau khổ.

Hai điều trên nói về sự khổ và nguyên nhân của khổ, Đức Phật chỉ ra kết quả an vui, hạnh phúc đạt được khi con người diệt trừ hết những nỗi khổ, muốn diệt khổ phải diệt tận gốc, đó là diệt cái nguyên nhân gây ra đau khổ. Đạo đế là những phương pháp Đức Phật hướng dẫn để chúng sinh thực hành diệt khổ, được vui.

Bát chính đạo là 8 con đường chân chính hợp với chân lý Tứ đế để tiến tới đạo Niết bàn, thoát khỏi khổ đau, đó là: Chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tiến, chính niệm và chính định. Giá trị của Bát chính đạo là giúp người ta tu dưỡng thân tâm, cải thiện hoàn cảnh, thoát khỏi khổ đau, phiền não, bước lên con đường giải thoát, an vui, tự tại.

Đó chính là tư tưởng, mục đích chính của Đạo Phật.

Đối với những người làm báo, thì năng lượng tích cực đó còn góp phần tạo động lực và truyền cảm hứng tới những người xung quanh qua những bài viết, những tương tác xã hội. Từ đó, giúp “đồng lòng” chống dịch và vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay.
Đối với những người làm báo, thì năng lượng tích cực đó còn góp phần tạo động lực và truyền cảm hứng tới những người xung quanh qua những bài viết, những tương tác xã hội. Từ đó, giúp “đồng lòng” chống dịch và vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay.

Chia sẻ tại buổi nói chuyện, Thượng toạ cũng đã giới thiệu về các khái niệm căn bản của Đạo Phật như Vô thường, Luân hồi, Nhân quả, Tri túc, Nhân duyên, Hoà Bình, Từ Bi. Phật giáo khuyên con người làm điều lành, tu nhân tích đức hướng tới chuẩn mực đạo đức xã hội như hiếu thảo cha mẹ, trung thực, nhân ái, hướng tới cái thiện, tránh xa điều ác…

“An lạc chúng sinh là mục đích cứu cánh của đạo Phật. Tất cả những lời Phật dạy đều mong muốn con người hướng tới Chân – Thiện – Mỹ. Muốn an vui trước hết phải giải thoát, muốn giải thoát thì phải không vướng bận phiền não, những dục vọng, những thói hư tật xấu” – Thượng toạ Thích Thọ Lạc so sánh tinh thần giải thoát – an lạc của đức Phật với tư tưởng  “Không có gì quý hơn độc lập – tự do – hạnh phúc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hạnh phúc cho nhân dân là tiêu chí của cụ Hồ và an lạc cho chúng sinh là mục tiêu của đức Phật, mà muốn có được điều đó phải độc lập (làm chủ được mình) và tự do (giải thoát phiền não). Tuy nhiên, Bác Hồ đặt nặng vai trò của trị nước, còn Đạo Phật là trị tâm.

Theo đó, cần phải hiểu rõ và ứng dụng (thân, khẩu, ý thiện) trong nếp sống hàng ngày, để hình thành nhân cách cho mỗi cá nhân và cộng đồng xã hội, đất nước và nhân loại. Trước bối cảnh dịch bệnh COVID thì tinh thần vô ngã, vô thường của Phật giáo giúp cho con người cảm thấy mạnh mẽ hơn khi đối diện, tinh thần duyên sinh cộng sinh để cùng nhau tương trợ lẫn nhau, phải nhập thế dấn thân, chia sẻ chung tay góp sức cùng xã hội.

Buổi nói chuyện đã giúp cho tập thể cán bộ nhân viên, đối tác của Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp hiểu được tổng thể về văn hoá Phật giáo một cách khái quát nhất. Thấu hiểu giáo lý của Đức Phật chắc chắn sẽ giúp chúng ta chấp nhận sự việc, hoàn cảnh một cách tích cực hơn, buông bỏ những muộn phiền, áp lực cuộc sống một cách tự nhiên hơn. Từ đó, có cái nhìn tích cực, lạc quan, đa chiều với mọi vật mọi việc trong cuộc sống. Đối với những người làm báo, thì năng lượng tích cực đó còn góp phần tạo động lực và truyền cảm hứng tới những người xung quanh qua những bài viết, những tương tác xã hội. Từ đó, giúp “đồng lòng” chống dịch và vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay.

Ban Văn hóa TƯ Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Nguồn:phatgiao.org.vn

PHẬT PHÁP TRỊ TẬN GỐC TÂM BỆNH

Lần này cũng như các lần trước, đoàn bác sĩ lên thăm bệnh cho Tăng Ni của Thiền viện, sau đó có xin tôi một thời pháp ngắn, năm nay cũng như vậy. Kỳ trước tôi nói phương thuốc trị từng tâm bệnh của con người, kỳ này tôi nói phương thuốc trị tận gốc rễ của tâm bệnh.

Như trước tôi đã nói, nếu người tham tiền của thì dùng thuốc bố thí trị; tham sắc đẹp thì dùng thuốc quán bất tịnh trị v. v… Hôm nay trị tận gốc rễ của tâm bệnh mà chỉ dùng một thang thuốc thôi. Như vậy thang thuốc này hơi khó, vì từng thứ thuốc trị từng thứ bệnh thì chúng ta dễ nhận, dễ hiểu, dễ ứng dụng. Còn chỉ một phương thuốc mà trị tất cả bệnh nên khó sử dụng. Phương thuốc này như thế nào?

 Quý vị nghe châm ngôn của Thiền tông:

Bất lập văn tự,
Giáo ngoại biệt truyền,
Trực chỉ nhân tâm,
Kiến tánh thành Phật.

Châm ngôn đó nó ảnh hưởng tới phương thuốc này rất sâu đậm. Trước khi nói đến thuốc, tôi chỉ cho quý vị thấy gốc bệnh phát sinh từ đâu. Như tham sân si thì có thuốc trị tham sân si. Nhưng tham sân si phát nguồn từ đâu? Tham sân si từ tâm niệm dấy khởi.

Thí dụ như thấy một đóa hoa, nếu ta chỉ thấy đóa hoa không thôi, thì có tham không? Không. Đằng này thấy đóa hoa rồi khởi niệm “Hoa này đẹp hay xấu. ” Nếu đẹp thì chúng ta muốn hái về chưng, hoặc bẻ cầm tay chơi. Muốn hái về chưng hoặc bẻ cầm tay chơi, mà ai ngăn không cho thì giận. Do thấy đẹp dấy lòng tham. Dấy lòng tham không được thì nổi sân. Như vậy tham, sân phát nguồn từ phân biệt đẹp xấu. Nên ý thức phân biệt đẹp xấu là nhân đưa tới bệnh tham, sân.

Như vậy muốn trị tất cả tham sân si, phải trị từ đâu? Từ tâm phân biệt. Thấy hoa chỉ thấy hoa, đừng khởi phân biệt đẹp xấu. Không phân biệt đẹp xấu thì không có tham, sân. Không tham, sân là không tạo nghiệp. Vì tham, sân là nghiệp sanh tử, nếu hết tham, sân thì nghiệp sanh tử không còn. Đó là nói một thí dụ nhỏ. Ngoài ra tất cả các thứ khác cũng vậy.

Cho nên trị bệnh tham, sân là trị ngọn chứ không phải gốc. Khởi tâm phân biệt mới là gốc đưa tới tham, sân. Bây giờ muốn trị gốc bệnh đó, chúng ta phải trị bằng cách nào? Đó là chỗ lâu nay tất cả người tu chúng ta ít lưu tâm. Chỉ thấy tham khổ, sân khổ nên lo dẹp tham, sân v. v… mà chưa phăng tìm tại sao có tham, sân.

Lâu nay chúng ta có một lầm lẫn lớn, cho cái phân biệt so sánh là tâm mình. Nếu người không khởi phân biệt so sánh thì bảo người đó ngu dốt. Nhưng sự thật không phải vậy. Bởi vì phân biệt, so sánh mang tính cách đối chiếu. Thí dụ chúng ta phân biệt người này đẹp thì tất nhiên phải lôi hình ảnh của người xấu ra đối chiếu. Phân biệt hoa này xấu thì phải lôi hình ảnh hoa kia đẹp để đối chiếu. Chúng ta sống với tâm phân biệt trong hiện tại, lại còn đeo mang những hình bóng của quá khứ để đối chiếu, và ước mơ trông đợi vào vị lai. Gìn giữ bóng dáng quá khứ đem đối chiếu với hiện tại, rồi mơ ước vị lai.

Như vậy tâm mình đang sống trong ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Nhưng ba thời đó có thật không? Quá khứ đã qua mất rồi, vị lai thì chưa đến, hiện tại thì luôn trôi chảy không dừng. Cho nên cả ba thời đều không có thật. Tâm ôm ấp những hình ảnh đối chiếu theo ba thời không thật thì tâm đó có thật không? Hình ảnh nó chứa đã không thật vì đó chỉ là bóng, rồi thời gian đối chiếu cũng không thật, thì bản chất của tâm đó làm sao được.

Đã không thật mà mình suy nghĩ nói việc này phải, ai đó nói quấy, mình nổi sân liền. Bởi chấp suy nghĩ là mình, cho nên khi bị phản đối chúng ta có phản ứng ngay. Điều này chúng ta cần phải xét nét thật kỹ, để có một phương pháp biết bệnh, rồi mới nghiên cứu tới thuốc. Biết thuốc biết bệnh thì trị mới lành.

Như chúng ta đã biết bệnh tham, sân, si từ niệm phân biệt, so sánh mà ra. Bây giờ muốn dứt tận gốc tham, sân, si thì phải dứt các niệm phân biệt so sánh. Chúng ta ngồi thiền để làm gì? Để dừng niệm phân biệt so sánh đó. Bởi vì niệm phân biệt suy nghĩ không phải là mình. Nếu suy nghĩ là thật mình thì mình là trăm thứ ngàn thứ sao? Tâm niệm suy nghĩ thay đổi như chong chóng, chợt có chợt mất. Có những người trước kia mình không ưa, nhưng sau này họ thay đổi, mình thấy dễ thương. Hoặc những người hồi xưa mình quý, nhưng bây giờ họ thay đổi, mình thấy dễ ghét. Như vậy thương, ghét có thật là chưa? Nếu thật thì trước sau như một. Đằng này nó đổi thay luôn thì làm sao thật mình được? Quý vị thấy, có khi trong một ngày, lát thì mình giận, lát thì mình thương, đổi thay bất thường. Trong những cái đổi thay đó, cái nào là mình? Thương là mình hay ghét là mình? Giận là mình hay vui là mình? Không có cái thật mình, bởi vì tất cả đều là bóng dáng đổi thay tùy duyên, tùy cảnh.

Cho nên lâu nay chúng ta sống trong sự lầm lẫn hết sức lớn lao. Sự lầm lẫn lớn lao đó chính là vô minh. Từ vô minh sanh ra tham, sân, si đủ thứ hết. Đó là do chấp tâm phân biệt suy nghĩ là mình nên thành bệnh. Muốn trị bệnh này phải dùng thuốc nào? Thay vì nói thuốc, ở đây tôi dẫn câu chuyện ngài Thần Quang đến học với Tổ Đạt Ma.

Khi Tổ đã nhận ngài Thần Quang làm đồ đệ, cho theo học đạo, một hôm ngài Thần Quang bạch Tổ: “Bạch Hòa thượng, tâm con không an, xin Hòa thượng dạy cho pháp an tâm”. Tâm không an là tâm nào? Là tâm nghĩ tốt, nghĩ xấu, nghĩ phải, nghĩ quấy… tất cả các thứ lăng xăng tạp loạn. Bởi nhớ nghĩ lăng xăng nên khi ngồi lại thấy không an. Vì nó dẫn mình chạy đủ nơi đủ chốn. Chạy như vậy gọi là bất an. Nên ngài Thần Quang nghĩ phải có một pháp gì chận đứng cho nó an lại.

Tổ Đạt Ma bảo: “Đem tâm ra ta an cho! ” Tâm ở đâu mà đem? Khi nghe hỏi câu nói đó, ngài Thần Quang soi lại, tìm xem tâm mình ở đâu. Tìm một hồi thấy mất tăm mất dạng. Ngài thưa: “Con tìm tâm không được”. Tổ Đạt Ma bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi”. Ngay đó ngài Thần Quang đại ngộ, biết được pháp tu.

Pháp đó là pháp gì? Điểm kỳ đặc chính là không có một pháp. Thí dụ tôi nói bệnh tham dùng pháp bố thí để trị. bệnh sân dùng pháp nhẫn nhục để trị v. v… Còn tâm bất an này, dùng pháp gì? Chỉ quay lại tìm xem cái bất an đó ra sao, nó ở đâu? Tìm lại thì nó mất. Rõ ràng nó hư dối. Mình tưởng tâm mình thật, nhưng khi quay lại tìm thì nó mất tiêu. Nếu thật thì tìm lại phải thấy. Nhưng khi tìm lại mất tăm mất dạng, thì làm sao nói nó thật được.

Nên biết chấp tâm là hư dối, là vọng tưởng. Đã là vọng tưởng thì không phải thật. Lâu nay chúng ta ngỡ nó thật. Từ ngỡ nó thật nên chấp thành ra có tham, sân, si. Bây giờ biết nó không thật, thì nó tự tan biến. Ngày xưa nó không thật mình ngỡ nó thật, đó là si mê. Bây giờ nó không thật biết nó không thật thì đâu còn si mê nữa.

Phản quan nhìn lại tâm không thật đó, thấy rõ nó hư dối, đó là chúng ta tỉnh, chúng ta giác. Tỉnh giác mà không cần dùng một pháp nào cả, nên nói không có pháp đối trị. Chỉ cần nhìn lại tâm lăng xăng đó, biết nó là vọng tưởng không thật, không theo nó, thì nó đâu có dẫn mình tạo nghiệp tham, sân, si được. Tất cả bệnh đều do tâm không thật đó mà ra.

Cho nên khi tu cần phải biết rõ gốc của sự tu. Nếu không, chúng ta sẽ thắc mắc tại sao thầy dạy cái gì cũng bỏ, đừng vọng tưởng. Chỉ vậy thôi, đơn giản quá thì làm sao trị hết bệnh. Không ngờ, chính cái nhận biết tâm dấy động lăng xăng là hư dối, là vọng tưởng lại là gốc của sự tu. Bởi vì cái nhận biết đó là trí tuệ.

Các pháp giả dối, chúng ta lầm theo nó là si mê. Còn giả dối mà biết giả dối là trí tuệ. Như quý vị ra tiệm bán đồ nữ trang, thấy người ta bày hàng trong tủ kiếng. Hàng nào giả, hàng nào thật, quý vị không phân biệt được thì đó là quê dốt. Ngược lại, hàng giả hàng thật quý vị đều nhận biết được hết, thì đó là khôn ngoan.

Cũng vậy, tâm vọng tưởng hư dối mà lâu nay mình cho nó thật, đó là si mê. Bây giờ biết vọng tưởng hư dối, không thật, đó là trí tuệ. Nhìn lại từng tâm niệm dấy khởi, chúng ta biết nó là vọng tưởng hư dối, đó là dùng trí tuệ để dẹp si mê. Khi biết nó là vọng tưởng, mình không theo thì nó còn hay lặng mất? Nó lặng mất. Tuy lặng mất nhưng gặp duyên nó sẽ nổi lên nữa. Hoặc lặng mất cái này, cái khác nổi lên. Chúng ta cứ tiếp tục tỉnh giác, không theo nó, dần dần sẽ điều phục hết vọng tưởng.

Nhiều Phật tử ngồi thiền thấy vọng tưởng hoài, không yên nên cho rằng ngồi thiền có kết quả gì đâu. Không phải vậy. Lục Tổ bảo nếu vọng tưởng dấy khởi, mình biết nó. Biết tức là giác, theo nó tức là mê. Mê theo vọng tưởng là chúng sanh. Giác được vọng tưởng là Phật. Cho nên một trăm chú chúng sinh thì có một trăm ông Phật chận đón, thua thiệt gì đâu.

Quý vị thấy ở Thiền viện, Tăng Ni ngồi thiền hơi gục gục là bị ăn gậy liền. Sao tàn nhẫn vậy, người ta ngồi tu mà đánh người ta? Bởi vì thà ngồi thiền vọng tưởng mà thấy được, mình tranh đấu để đánh thắng nó. Còn ngủ gục thì đâu còn thấy gì nữa mà xung trận. Lúc đó hoàn toàn mù mịt tối tăm. Cho nên nhà thiền gọi ngủ gục là đi vào hang quỷ, tối mò không thấy gì hết.

Tâm dấy niệm mình biết không theo, thì thấy có sự tranh đấu hơi nhọc nhằn, nhưng có Phật có chúng sanh. Chứ còn gục xuống rồi thì thôi, thua luôn. Vì vậy thiện tri thức phải đánh cho mình tỉnh, đừng để ma ngủ dẫn đi trong hang quỷ. Đó là ý nghĩa của người giám thiền, giúp cho hành giả ngồi thiền được tỉnh. Dù có vọng tưởng cũng đừng sợ, chỉ sợ mình chạy theo nó thôi. Nếu mình biết rõ nó là vọng tưởng, thì nó tự lặng. Cái khác nhú lên, chúng ta cũng nhận ra vọng tưởng, nó lại lặng. Cứ như vậy thì có thiệt thòi gì đâu.

Cho nên Lục Tổ nói: “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”. Nghĩa là vọng tưởng khởi lên, dẫn mình đi lâu lơ lâu lắc, mình mới biết “đó là vọng”. Như vậy là giác chậm. Nếu vọng tưởng vừa dấy lên, chúng ta chận ngay lúc ấy thì nó không có tác dụng gì hết, mình làm chủ được nó.

Tu thiền theo lối dạy của Tổ Đạt Ma y cứ vào pháp nào? Hỏi “Tâm con không an, xin Hòa thượng dạy pháp an tâm”. Nếu Tổ bảo: – Tâm ngươi không an nên dùng quán nhân duyên v. v… Đó là có pháp. Có pháp tức là có giáo lý, có giáo lý tức là có văn tự. Nhưng khi nghe nói “Tâm con không an”, Tổ bảo: “Đem tâm ra ta an cho. ” Lời này không có trong kinh nào cả. Vì vậy gọi là giáo ngoại biệt truyền tức truyền ngoài giáo lý. Ngoài giáo lý nghĩa là không có trong văn tự kinh điển. Nên nói bất lập văn tự là vậy.

Thiền tông là cốt tủy của đạo Phật, nhưng lại không có trong từ ngữ của kinh điển. Bởi vì Thiền tông chỉ thẳng, nhìn thẳng. Nhìn lại mình, biết rõ vọng tưởng hư dối thì ngay đó an tâm. Như vậy phương pháp của Tổ dạy là chỉ tận gốc của tâm. Biết được tâm vọng tưởng hư dối rồi, thì dụng công phu không còn sai lầm nữa.

Một hôm, ngài Huệ Khả bạch với Tổ Đạt Ma:

– Bạch Hòa thượng, con dứt hết các duyên.

Tổ xoay lại bảo:

– Coi chừng rơi vào không.

Ngài liền nói:

– Rõ ràng thường biết, làm sao không được.

Ngay đó, Tổ bảo:

– Ông như thế. Ta như thế. Chư Phật cũng như thế.

Đó là ấn chứng. Ấn chứng tức truyền tâm pháp ấn. Ông như thế, ta như thế, chư Phật cũng như thế, nghĩa là con dấu của ông, của ta, của chư Phật cũng vậy thôi. In xuống giấy trắng thì dấu nào cũng như nhau, không sai biệt. Đó gọi là truyền tâm pháp ấn.

Khi tâm suy nghĩ lăng xăng hết, lúc đó các duyên bặt dứt, không còn dính với các cảnh bên ngoài nữa. Tổ Đạt Ma e rằng đến chỗ dứt hết các duyên, ngài Huệ Khả sẽ rơi vào cái rỗng không, nên Tổ gạn lại: “Coi chừng rơi vào không”. Ngài Huệ Khả liền nói: “Rõ ràng thường biết, làm sao không được”. Tuy chẳng duyên theo bóng dáng các trần, nhưng con rõ ràng thường biết. Biết tức là tâm, tâm đó rõ ràng như vậy làm sao rơi vào không được.

Chúng ta nghiệm từ thực tế sẽ thấy, có những lúc mình ngồi chơi, không nghĩ suy gì hết, nhưng có tiếng động mình vẫn nghe, có người đi mình vẫn thấy, gió thổi mình biết mát… tức hiện tại mình thấy biết rõ ràng. Biết rõ ràng mà không có nghĩ suy. Cái biết rõ ràng này quý vị có đuổi nó được không? Nó có sanh, có diệt không? Rõ ràng nó không sanh không diệt, mà không mất mát bao giờ.

Từ muôn đời chúng ta chấp cái nghĩ suy chợt có chợt không cho là thật. Từ chấp giả cho là thật nên tạo nghiệp luân hồi vô số kiếp. Bây giờ chúng ta biết nó giả, không theo, thì tâm chân thật hiện tiền. Tâm chân thật này ai cũng có sẵn. Nên Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Chỉ vì chúng ta quên, chạy theo vọng tưởng hư giả thành ra đánh mất ông Phật của mình. Bây giờ biết rồi, không chạy theo vọng tưởng nữa, thì cái tâm chân thật hiện tiền. Tâm chân thật tức là tâm Phật.

Như vậy tu cốt đừng lầm giả cho là thật, mà phải nhận chân cái thật sẵn nơi mình từ thuở nào, đó là giác ngộ. Vọng tưởng hư giả lẽ ra dễ bỏ, còn tâm chân thật sẵn có xưa nay không thể bỏ được. Vậy mà ta nói bỏ vọng tưởng khó là sao? Tại vì gốc mê sâu dày quá.

Khi chúng ta ngồi thiền được năm mười phút, tâm không dấy động, không có niệm chạy theo cảnh, lúc đó có mình không? Nếu không có mình thì ai biết không có niệm. Không có niệm, yên tịnh, mình biết rõ ràng thì cái biết hiện tiền. Cái biết đó không có tướng mạo nên không có sanh diệt. Những gì có tướng mạo thì sanh diệt.

Lâu nay, chúng ta bám vào cái sanh diệt cho là tâm mình. Nên Phật dạy phải định là vậy. Định thì dừng tâm sanh diệt, để cái chân thật hiện tiền. Cái chân thật hiện tiền rồi thì chúng ta lo gì chết bị nghiệp dẫn đi chỗ này chỗ nọ. Bởi vì thương, ghét, giận, hờn… là nghiệp, mà chúng không còn nữa thì cái gì dẫn mình đi trong sanh tử nữa? Như vậy mới thấy gốc của sự tu hết sức rõ ràng.

Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Trực chỉ nhân tâm tức là chỉ thẳng tâm chân thật của mình. Tâm là cái biết. Nếu chúng ta duyên theo bóng dáng trần cảnh, đó là tâm hư dối. Còn cái biết không chạy theo trần cảnh, hằng hữu ở mình, đó là tâm chân thật. Tổ chỉ thẳng nơi tâm mình, biết cái gì giả, cái gì thật. Biết được cái thật, gọi là kiến tánh. Cái chân thật ấy là nhân thành Phật, nên nói kiến tánh thành Phật.

Hiểu được bốn câu châm ngôn tối quan trọng ấy rồi, chúng ta mới nắm được yếu chỉ Thiền tông, không có một pháp. Nếu không chúng ta sẽ nói Thiền tông khó quá. Vì tu theo lối trị từng thứ bệnh thì dễ đối chiếu, dễ thấy kết quả. Còn nhìn thẳng từ nhân dấy động ban đầu, dừng nó không cho dấy khởi, thì lúc đó chưa thành bệnh. Nên chỉ một “cái biết” mà trị tất cả bệnh. Song vì nhân ban đầu này sâu thẳm bên trong, tìm hơi khó một chút, chúng ta phải khéo mới được. Đó là phăng tận gốc rễ để trị tận căn nguyên.

Tổ Huệ Năng khi được pháp ở Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn rồi, Ngài mang y bát về phương Nam. Khi đó đám người kỳ thị đuổi theo giật y bát lại. Trong nhóm đó có Thượng tọa Minh, trước khi tu làm tướng nên cỡi ngựa rất giỏi, rượt kịp. Tổ biết người ta đuổi theo giành y bát, nên Ngài để y bát trên bàn thạch, chui vô lùm cây trốn.

Thượng tọa Minh nhảy xuống ngựa, ôm y bát lên nhưng ôm không nổi. Chừng đó mới giật mình, thì ra đây là vật huyền bí, không phải vật thường. Bấy giờ, ông vừa sợ vừa hối lỗi. Tất cả niệm tranh giành ngang đó chấm dứt. Ông liền gọi: “Hành giả, hành giả! Tôi đến đây vì pháp, chứ không phải vì y bát”.

Khi ấy, Lục Tổ ở trong lùm cây chui ra nói: “Nếu ông vì pháp, thì ta sẽ nói cho ông. ” Rồi bảo: “Ông yên lặng giây lâu, ta sẽ dạy cho” Thượng tọa Minh đứng yên lặng giây lâu. Tổ nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh? ” Ngay câu đó Thượng tọa Minh liền thấy đạo.

Quý vị thấy Lục Tổ hết sức thật thà. Ngài thấy chỗ cứu kính thế nào thì Ngài nói thế ấy. Thiện, ác tức là hai bên. Thiện ác, thương ghét, phải quấy v. v… đều là hai bên. Niệm đầu vừa dấy lên thì niệm sau nối tiếp theo nhau. Buông hết hai bên thì không còn niệm, lúc ấy bản lai diện mục hiện tiền. Bản là xưa, lai là nay, diện mục là mặt mắt thật của mình. Hết sức đơn giản.

Nói vậy quý vị sẽ có thắc mắc. Người tu cấm không được nghĩ ác, làm ác, chứ tại sao bảo không nghĩ thiện, làm thiện? Không nghĩ thiện, không nghĩ ác tức là không làm lành cũng không làm ác. Như vậy làm sao tu? Quý vị nhớ trong nhà Phật dạy tu có nhiều cấp bậc. Người tu ít, người tu nhiều, người tu bình bình khác nhau. Tùy theo công phu tu mà sanh trong lục đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, a tu la, trời.

Trong lục đạo luân hồi có chia ba đường thiện, ba đường ác. Cho nên nghĩ thiện, nghĩ ác đều đi trong luân hồi. Lâu nay người ta quen cho rằng tu là làm việc thiện thôi. Nhưng sự thật tu thiện thì được sanh cõi lành. Làm người, a tu la hoặc trời là sanh trong ba cõi lành nhưng vẫn còn đi trong sanh tử. Nhà Phật gọi đó là tu pháp Nhân thừa, Thiên thừa thôi, chứ không phải pháp giải thoát. Muốn giải thoát sanh tử thì phải ra khỏi cả thiện lẫn ác.

Nhà Phật cũng nói về hai thứ: hữu duyên từ và vô duyên từ. Hữu duyên từ là còn có sự phân biệt theo duyên thích hợp mà khởi lòng từ bi. Còn vô duyên từ thì thấy người ta khổ là mình cứu ngay, không phân biệt có duyên hay không có duyên. Thí dụ người không nghĩ thiện không nghĩ ác gì cả, thấy đứa bé té liền bế nó dậy, đó thuộc về vô duyên từ. Chúng ta đa số làm việc thiện mà nghĩ suy nhiều quá. “Việc thiện này làm kết quả không? ” “Được khen hay bị chê? ” v. v… nghĩ đủ thứ.

Đức Phật hay các vị Bồ tát luôn luôn làm lành với tâm vô duyên từ, tức là lòng từ vô duyên. Gặp cảnh thì làm chứ không có nghĩ suy, không xét duyên cớ. Chúng ta bây giờ thấy người đó nghèo đói, mà họ làm thinh, mình cũng bỏ lơ. Ngược lại, nếu họ năn nỉ “Tôi nghèo đói quá, cô bác giúp đỡ giùm” thì mới chịu giúp. Giúp như vậy là có duyên, có sự cầu khẩn, còn bình thường thì không giúp. Với Phật, với Bồ tát thì không như vậy. Thấy người ta khổ là giúp, khỏi xin xỏ, khỏi cầu khẩn. Cho nên các Ngài làm lành rồi là thôi. Còn chúng ta do đợi xin xỏ, nên giúp người rồi mà họ ngó lơ không thèm cám ơn là bực bội liền. Cho nên có duyên từ thì kèm theo có danh, đòi hỏi này nọ. Còn vô duyên từ không đòi hỏi điều kiện gì hết. Đó mới cao siêu, quý báu. Đừng cho rằng không nghĩ thiện, không nghĩ ác là xấu. Hiểu vậy như vậy mới thấy gốc của sự tu.

Ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng có đệ tử là Mã Tổ Đạo Nhất rất nổi danh ở Trung Quốc. Một hôm Mã Tổ cùng thị giả là Bá Trượng Hoài Hải ra vườn chơi. Trên đường đi, thấy bầy vịt trời bay trên hư không, Mã Tổ hỏi:

– Cái gì đó?

Hoài Hải thưa:

– Bầy vịt trời.

Hồi sau Mã Tổ hỏi:

– Bay đâu rồi.

Ngài Hoài Hải ngó lên thấy bầy vịt trời bay mất, liền trả lời:

– Bay mất rồi.

Liền bị Mã Tổ nắm lỗ mũi véo một cái thật mạnh, Ngài la thất thanh. Mã Tổ bảo:

– Sao không nói bay mất đi?

Ngay đó Bá Trượng liền đại ngộ.

Mã Tổ dạy cái gì mà ngài Bá Trượng ngộ đạo? Đó là những hình ảnh kỳ đặc của các Tổ sau này. Véo lỗ mũi người ta đau điếng đến nổi phải la thất thanh, rồi hỏi: “Sao không nói bay mất đi? “. Vậy mà đệ tử liền ngộ. Để thấy rằng ông thầy muốn chỉ cái thật cho học trò mà không dùng những ngôn từ bình thường, chỉ dùng những thủ thuật đặc biệt.

Lâu nay chúng ta có bệnh mắt thì chạy theo sắc, tai thì chạy theo tiếng… tất cả sáu căn luôn luôn đuổi theo sáu trần. Nhớ sáu trần mà quên cái gốc nơi sáu căn. Sáu căn có cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm… Có thấy, có nghe, có ngửi, có nếm… là có biết. Cái biết đó không đuổi theo sáu trần, mà luôn hiện hữu nơi mình, có vắng lúc nào đâu.

Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đưa tay lên, hỏi ngài A Nan:

– Thấy không?

– Thấy.

– Thấy cái gì?

– Thấy tay Phật đưa lên.

Phật để tay xuống rồi hỏi tiếp:

– Thấy không?

– Không thấy.

Phật quở:

– Tay đưa lên thì thấy có tay, tay để xuống thì thấy không tay, chứ cái thấy đâu có vắng. Sao lại nói lộn xộn vậy.

Phật quở vì ngài A nan lầm cho cái tay là cái thấy, đó là quên mình theo vật. Chúng ta cũng như vậy. Vì quên mình theo vật nên cho vật là mình.

Thêm một ví dụ nữa, Phật bảo ngài La Hầu La đánh một tiếng chuông nghe “boong”, hỏi A Nan:

– Ông nghe không?

– Dạ nghe.

Tiếng chuông bặt, Phật hỏi:

– Ông nghe không?

– Dạ không.

Phật quở một phen nữa:

– Tiếng chuông có thì nghe có tiếng chuông. Tiếng chuông lặng thì nghe không có tiếng chuông. Tại sao nói không nghe?

Chúng ta có lầm như vậy không? Tất cả chúng ta đều lầm như vậy cả. Nên rồi mình sống trong mê lầm mà không hay. Chính mình đang nghe có tiếng hoặc không tiếng, chứ đâu phải không có cái nghe. Thấy không có cảnh, không có vật, chứ đâu phải không có cái thấy. Rõ ràng chúng ta quên mình theo vật, cứ chạy theo sáu trần. Vì vậy bên ngoài sáu căn đuổi theo sáu trần, rồi đem bóng dáng đó vào chấp chứa, phân biệt trong tâm. Đó là sống với cái giả mà quên cái thật.

Cho nên Mã Tổ nắm lỗ mũi Bá Trượng véo một cái đau điếng, hỏi: “Sao không nói bay mất đi” Bay qua thì chim bay qua, chứ cái thấy chim bay qua có mất lúc nào đâu. Ngài Bá Trượng nhờ thế sực tỉnh, nhớ cái lỗ mũi đau đời đời không quên. Đó là một thủ thuật. Tổ Bá Trượng sau nổi tiếng là nhờ thủ thuật của ông thầy.

Chúng ta thấy hai vị trước là Tổ Đạt Ma và Tổ Huệ Năng nói rất hiền lành. Qua tới Mã Tổ thì bắt đầu kỳ đặc. Dưới Tổ Bá Trượng có ngài Hoàng Bá Hy Vận cũng có thủ thuật rất kỳ đặc. Ngài Lâm Tế trước khi gặp Tổ Hoàng Bá, là một con người rất thâm trầm, cho nên Thủ tọa Minh thấy có tương lai, nên xúi ngài Lâm Tế hỏi Tổ Hoàng Bá: “Thế nào là đại ý Phật pháp? “. Hoàng Bá nghe xong, không trả lời lấy một câu, liền lấy gậy đập cho một gậy. Ngài Lâm Tế bị đập rồi ngẩn ngơ, không biết làm sao hết. Đó là lần thứ nhất.

Ít hôm sau Thủ tọa lại bảo: “Thôi lên hỏi nữa đi”. Ngài cũng hiền, nghe xúi thì làm theo, cũng lên hỏi câu đó: “Bạch Hòa thượng! Thế nào là đại ý Phật pháp? “, liền bị đập một gậy nữa. Đau quá, Ngài không biết nói gì nữa, ôm lòng buồn tủi đi xuống.

Ít hôm sau, Thủ tọa lại xúi lên hỏi nữa. Lần thứ ba cũng bị ăn gậy, đau khổ cùng cực Ngài chỉ còn có nước khóc thôi. Xuống gặp Thủ tọa hỏi: “Bữa nay thế nào? ” Ngài trả lời: “Ba lần hỏi, ba lần đều bị ăn đòn, chắc tôi không có duyên ở đây. Thôi tôi xin đi. ” Thế là Ngài cuốn gói sửa soạn đi. Ông Thủ tọa nói nhỏ: “Trước khi đi nên đến bạch với Hòa thượng cầu chỉ dạy. ” Nghe lời, Ngài lên thưa: “Bạch Hòa thượng, con không có duyên ở đây, con xin đi. ” Tổ Hoàng Bá bảo: “Ông nên tới chỗ Cao An, hỏi Đại Ngu. Kia sẽ vì ông mà chỉ cho”.

Đại Ngu tức là núi Đại Ngu, còn tên của Ngài tôi quên mất rồi, chỉ nghe người ta kêu theo tên núi là Đại Ngu. Lâm Tế qua đó gặp ngài Đại Ngu. Đại Ngu hỏi:

– Ông từ đâu đến?

– Con từ Hoàng Bá đến.

– Hoàng Bá đã chỉ dạy gì cho ông?

– Con ba lần hỏi đại ý Phật pháp, ba lần đều bị ăn đòn, không biết con có lỗi hay không lỗi?

Ngài Đại Ngu liền chụp lấy vai Lâm Tế nói:

– Hoàng Bá đã vì ông chỉ tột, mà còn hỏi có lỗi hay không lỗi?

Ngay đó ngài Lâm Tế liền đại ngộ, nói:

– Phật pháp của Hoàng Bá rất ít.

Ngài Đại Ngu liền xô ra hỏi:

– Mới hồi nãy nói có lỗi không lỗi, bây giờ lại nói Phật pháp của Hoàng Bá rất ít. Ông thấy đạo lý gì, nói mau. “

Lâm Tế liền thôi cho Đại Ngu một thôi vô hông. Ngài Đại Ngu xô ra bảo:

– Thầy ngươi là Hoàng Bá, không phải ta.

Quý vị thấy thế nào? Ngài Hoàng Bá, mới nhìn thấy quá tàn nhẫn phải không. Nhưng dưới con mắt của Đại Ngu thì Ngài quá từ bi. Vì quá từ bi nên mới dồn đệ tử tới chỗ bí hiểm đó. Dồn rồi đưa qua cho Đại Ngu vì biết ngài Đại Ngu sẽ tháo gỡ được. Cho nên khi nghe ngài Đại Ngu nói: “Hoàng Bá đã vì ông chỉ tột, mà ông còn hỏi có lỗi không lỗi? ” thì Lâm Tế liền đại ngộ. Ngộ như thế tới chết cũng không quên! Bởi vì ba lần bị đánh đòn đau quá, quên sao nổi.

Một bên bị véo lỗ mũi, một bên bị đánh đòn. Đau quá nên cả hai đều đại ngộ! Chỗ Lục Tổ nói không nghĩ thiện, không nghĩ ác thì ngài Lâm Tế nói có lỗi không lỗi. Hai lối nói đó có khác nhau không? Khi nào không còn chỗ thấy hai bên mới là chỗ chân thật. Ngài Lâm Tế ngộ được chỗ đó rồi, sau này Ngài thường nói với Tăng Ni: “Ta sau khi ăn đòn, biết được chỗ chân thật rồi, tới nay không bao giờ quên. “

Ngày nay, Phật tử nghe quý thầy nói cũng hiểu vậy, nhưng vài bữa là quên. Tại vì chưa ăn đòn, chưa bị véo lỗ mũi, phải không? Quý thầy ngày nay dễ nên Phật tử cũng dễ quên. Còn người xưa khó như vậy nên không bao giờ quên. Đó là những thủ thuật đặc biệt của các Thiền sư Trung Hoa.

Những phương tiện ấy đều là giáo ngoại biệt truyền. Trong kinh không dạy đánh, không dạy véo lỗ mũi, nhưng quý Ngài làm những việc đó. Như vậy có trái với đạo lý không? Chẳng những không trái mà những thủ thuật ấy còn đưa hành giả tới chỗ lý đạo sâu xa hơn, không bao giờ quên.

Bởi vì lâu nay chúng ta quen nghĩ suy rồi. Bây giờ muốn chặn đứng nó lại phải có phương pháp mạnh mới chặn nổi. Nếu không thì cũng ngồi thiền, cũng ngó xuống, mà cái đầu lăng xăng không chịu yên. Cho nên thói quen đã thành đường mòn rồi, sửa khó. Muốn cho đường mòn đó được bít lại, thì phải có cách khôn ngoan, khéo léo để chặn đứng nó.

Còn nghĩ thiện, còn nghĩ ác là còn sanh tử. Nghĩ thiện thì đi đường lành, nghĩ ác thì đi đường dữ. Người tu chuyển nghiệp là đừng đi đường dữ, mà đi đường lành, đó là tu Nhân thừa và Thiên thừa. Nếu muốn dứt hết không còn sanh tử nữa thì phải làm sao? Tâm không còn dính, không còn kẹt bên nào thì mới thoát ly sanh tử. Tại sao? Bởi vì dấy niệm thiện, ác thì tạo nghiệp thiện, ác. Trong ba nghiệp, ý là chủ. Ý nghĩ thiện nghĩ ác thì thân làm thiện làm ác, miệng nói thiện nói ác. Bây giờ ý không nghĩ thiện nghĩ ác, gặp cảnh thì làm tùy duyên, tâm không khởi niệm. Việc làm đó không có gốc của thiện, ác.

Nếu tâm của chúng ta thản nhiên, tự tại, không bị một niệm nào sai khiến thì nó bao la, trùm khắp. Nên nói tâm bao la trùm khắp khó hiểu, bởi vì người ta cứ nghĩ tâm ở trong tấm thân nhỏ bé này. Nhưng sự thật, nếu chúng ta nghĩ về người, thì cái nghĩ đó duyên theo hình bóng người, nghĩ về cái chuông thì duyên theo bóng của cái chuông, nghĩ về đồng hồ thì duyên theo bóng của đồng hồ… nó có giới hạn. Nếu không nghĩ gì hết thì nó duyên theo bóng nào? Không có bóng. Không có bóng, không có hình tướng thì nó trùm khắp rồi. Vậy mà chúng ta lại bỏ cái rộng lớn bao la ấy, đi bắt lấy những cái nhỏ nhoi, tạm bợ. Cho nên Phật thương chúng sanh là thương ở chỗ mê lầm đó.

Chúng sanh bám vào những giả dối, tạm bợ mà hài lòng, còn cái chân thật lại bỏ quên. Trong khi cái chân thật đó không bao giờ mất, nó luôn ở bên mình. Nên nói rằng chúng ta xuống địa ngục thì Phật tánh cũng xuống địa ngục; nhưng Phật tánh không bị hành, không bị khổ. Rõ ràng Phật tánh không tách rời chúng ta, chỉ tại chúng ta quên thôi.

Quý vị nhìn lại chàng cùng tử trong kinh Pháp Hoa xem có giống mình không? Cha là trưởng giả giàu có, của cải vô số mà chàng cùng tử không chịu ở, bỏ đi lang thang. Tới chừng khổ quá, mới thức tỉnh trở về. Thức tỉnh trở về mà cũng không dám nhận cha của mình, của cải sự nghiệp của mình. Dần dần do người cha khéo dùng phương tiện dìu dẫn, chàng cùng tử mới quen và từ từ nhận ra được gia tài và cha mình.

Chúng ta cũng vậy, có cái chân thật, thênh thang mà không dám nhận. Chỉ nhận bóng dáng tạm bợ mấy chục năm, tâm lăng xăng lộn xộn luôn luôn thay đổi là mình, bỏ quên cái chân thật. Như vậy có đáng thương không? Chư Phật và Bồ tát, thương là thương cái mê lầm đó của chúng sanh. Cho nên toàn bộ kinh Phật đều nhằm đánh thức cho mình tỉnh, đừng mê lầm nữa. Hết mê lầm là giải thoát sanh tử.

Cho nên có trí tuệ giác ngộ rồi mới đi tới giải thoát. Nếu không có trí tuệ, không có giác ngộ thì không có giải thoát. Đó là lẽ thường. Như vậy chúng ta tu cốt để được giải thoát sanh tử thì phải đi con đường đó. Nếu chúng ta tu để đời sau sướng hơn đời này, thì đi con đường Nhân thừa hoặc Thiên thừa như đã nói ở trên. Nhưng đức Phật không thích chúng ta lên cõi trời. Tại sao? Bởi vì lên cõi trời hưởng sung sướng nhiều quá, tu không được. Đến khi hưởng hết phước rồi thì rơi xuống trở lại. Thế là uổng công bao nhiêu năm!

Chúng ta thường lầm cho nghĩ rằng ăn ngon, mặc đẹp, ở nhà lầu, đi xe hơi… là hạnh phúc. Nhưng nếu xét kỹ thân này ăn để chi? Cả ngày cứ mượn trả, mượn trả… ít chục năm nó cũng hư hoại. Mượn trả tốt, mượn trả xấu cũng là mượn trả thôi, chứ có gì hơn. Đó là nói ở cõi ta bà này chỉ có mấy chục năm thôi. Nếu ở cõi trời thì tuổi thọ gấp năm mười lần, hai ba mươi lần cõi này. Nhưng lên đó mượn trả đã rồi cũng phải trở xuống. Như vậy có nghĩa lý gì. Tốt hơn ở đây có khổ có vui, mau tỉnh. Mau tỉnh thì dễ tu. Dễ tu mới có thể ra khỏi sanh tử luân hồi sớm. Chúng ta thấy rằng đức Phật nhìn thật tường tận. Còn chúng ta thì không như thế.

Như vậy ở thế gian, người giàu quá hoặc nghèo quá, dễ tu hay khó tu? Cả hai đều khó cả. Chỉ có hạng người vừa đủ ăn, khổ vui lẫn lộn là dễ tu hơn hết. Khổ quá thì tối ngày bận bịu với cuộc sống, đâu có rảnh mà nhớ tu. Còn dư giả quá, giàu có quá thì tiệc tùng liên miên cũng không rảnh mà tu. Nên nó cả hai trường hợp này đều khó tu. Phật bảo sanh trong tam ác đạo không tu được nên phải tránh. Nhưng cõi trời cũng khó tu, chỉ cõi người là dễ tu.

Từ nay, quý vị có than phiền sanh cõi người khổ nữa không? Sanh cõi người là cơ hội tốt để cho mình dễ thức tỉnh. Nếu được lên cõi trời mình cứ hưởng không nghĩ tới tu. Sanh cõi người, chúng ta có đủ cơm ăn là tốt rồi, để thời giờ nghiên cứu, học hỏi, tu hành. Người biết đạo là người không tham cầu sung sướng, chỉ vui trong hoàn cảnh vừa đủ của mình, rồi để dành thời giờ lo tu. Những vui buồn là cơ hội tốt để mình tỉnh, chứ nếu vui hoài thì không tỉnh. Nên buồn không hẳn là tai họa, nó cũng là duyên để chúng ta thức tỉnh.

Nhớ như vậy thì sự sống của mình an lành. Còn nếu chúng ta cứ đòi hỏi bằng người này, bằng người kia là không biết sống. Vì sống mà cứ mơ ước, trông đợi trong ảo tưởng, không thực tế cho nên khổ.
Tất cả các bệnh của chúng ta đều từ tâm niệm so sánh, đối chiếu mà có. Tham, sân, si cũng từ đó. Nếu chúng ta buông liền từ gốc dấy niệm thì đâu còn gì để tham, sân, si. Như vậy uống có một thang thuốc mà lành hết tất cả bệnh. Đó là do trị tận gốc vậy. Phương thuốc thật đơn giản, nói đơn giản nhưng lại khó làm. Nếu làm được thì kết quả rất to, chứ không phải thường. Cho nên đường lối tu thiền này các Tổ sư gọi là Tối Thượng thừa, không theo thứ bậc nào cả.

Trị từng bệnh là Nhị thừa. Đến như Bồ tát cũng còn trị từng bệnh. Ở đây không trị từng bệnh, mà trị tận gốc. Gốc hết rồi thì tất cả bệnh theo đó hết. Đây gọi là đi đường thẳng. Cho nên nó đốn giáo, tức thẳng tắt chứ không có quanh co. Vì vậy Tối Thượng thừa cũng gọi là Phật thừa. Mê là chúng sanh, ngộ là Phật; chứ nó không có quanh co thứ bậc. Các thừa kia theo thứ lớp, dẹp được phiền não nào thì chứng được tầng bậc nào tương ứng. Ở đây không dẹp phiền não, mà dẹp gốc sanh phiền não. Gốc sanh phiền não nếu dẹp được thì thẳng đó thành Phật. Ngay ông Phật sẵn của mình hiện ra. Học Thiền Đốn Ngộ là chỉ thẳng gốc ấy. Nếu gốc đốn được rồi thì ngọn dễ lắm. Nếu gốc chưa đốn được thì chặt ngọn này, nó nhảy ra ngọn khác, khó lâu mới hết sạch.

Người tu không hiểu, không nắm được pháp tu là tu mù. Nếu biết rõ thì kết quả tu sẽ đúng như mình mong muốn. Đó là tu trong sáng suốt. Nên quý vị đừng mong rằng mình ngồi thiền, ngày nào đó có hào quang sáng ngời lên chẳng hạn. Những việc ấy không thể cứu được mình. Cứu mình là thấy đúng như thật. Vọng tưởng biết vọng tưởng. Đó là trí tuệ rồi. Trí tuệ này hết sức đơn giản. Chúng ta thường không chịu cái đơn giản, mà đòi có hào quang, đòi đủ thứ hết. Bởi vậy người tu thiền lạc vào tà đạo cũng tại mong muốn những thứ không thực tế.

Cho nên trong kinh, Phật nói rằng: “Ngoại đạo tu có thể chứng được ngũ thông; còn ta tu chỉ lấy đạo thông làm gốc. ” Đạo thông tức là suốt được lối đi, thấu được đạo lý chân thật. Bởi vì thần thông không cứu được mình. Hiểu như vậy trên đường tu mới khỏi lầm lẫn.

Chư sư Nguyên thủy tu theo Tứ Niệm Xứ v. v… các ngài đi biết dở chân, đứng biết dừng chân, duyên theo từng hành động. Bởi tu duyên theo từng hành động nên lối đi đứng rất nghiêm trang. Còn lối tu biết vọng, trong các oai nghi thảnh thơi, biết vọng không theo. Chỉ “chăn” cái nghĩ, mà không “chăn” hành động. Vì vậy lối tu này, hành giả sinh hoạt một cách tự nhiên, không kềm gượng.

Nhiều Phật tử thuật lại cho tôi nghe, họ ứng dụng lối tu biết vọng, lúc lái xe thì cứ lái xe, vừa nghĩ bậy liền buông. Do đó khi lái xe cũng vẫn tu được. Làm việc gì chuyên tâm vào việc đó, không cho nghĩ cái gì khác. Nhờ chuyên tâm nên việc làm rất tốt. Như vậy trường hợp nào cũng tu được hết. Sống trong thời khoa học máy móc này, nếu chúng ta lơ lỏng, ngồi đây mà lo ra, nghĩ chuyện khác thì sẽ rất nguy hiểm.

Như vậy lối tu này, tu mà không thấy mình tu gì hết. Ở ngoại quốc ứng dụng lối tu này rất hay, vì nếu tụng kinh, lễ bái nhiều hàng xóm nghe chuông, nghe mõ người ta phản đối lắm. Chúng ta ngồi thiền im lìm không có gì phiền đến người khác cả, như vậy vừa hay cho mình, vừa hay cho người. Tu ở đâu cũng được, dễ dàng không có gì trở ngại.

Tóm lại, trên đường tu chúng ta tu thế nào để cho bản thân mình, cuộc sống của mình và cuộc sống xã hội không bị trở ngại, đó là điều cần thiết. Được vậy sự truyền bá của Phật pháp mới đúng với nhịp tiến của thời đại. Nếu chúng ta tu mà không thích hợp với cuộc sống của thời đại, của xã hội mới thì không được. Quý Phật tử cần phải hiểu cho thấu đáo để ứng dụng tu có kết quả thiết thực. Hôm nay tôi đưa ra thang thuốc này, chúc quý vị được lành tất cả bệnh.

Giảng tại Thiền viện Trúc Lâm – 2000
HT. Thiền Sư Thích Thanh Từ

Nguồn:thuongchieu.net

Sáu chữ Di Đà diệt trừ ngũ dục

Niệm Phật tinh chuyên, siêng năng, đầy đủ tín, hạnh, nguyện, thì ta nhất định sẽ thấy được tự tánh Di Đà, nhất định sẽ sanh về Tây Phương, và sẽ thành Phật.

Tự tánh Di Đà là Phật nhân, sanh về Tây Phương Cực Lạc gặp Phật Di Đà, tu, nghe pháp, chứng ngộ thành Phật là Phật quả.
Tự tánh Di Đà là Phật nhân, sanh về Tây Phương Cực Lạc gặp Phật Di Đà, tu, nghe pháp, chứng ngộ thành Phật là Phật quả.

Chúng ta đang sống ở thế giới này thường hay nghe nói đến ma quỷ, ta tưởng rằng ma là có ba đầu sáu tay, thường hay gây đau khổ cho người… hoặc ma quỷ có thể ăn thịt người như trong phim ma mà ta thường thấy. Nếu ma mà có thể ăn thịt người thì chúng cũng có thể giết được một mạng sống của ta một lần mà thôi. Nhưng ở đây, Phật dạy cho ta biết đó là ma ngũ dục: tài, sắc, danh, thực và thùy; năm thứ ma độc này hại hơn gấp trăm lần của con ma có thể ăn thịt người. Vì năm thứ dục nhiễm này có thể giết chết chúng ta trăm đời ngàn kiếp trong sự luân hồi đau khổ ở nơi ba ác đạo.

Trong kinh Pháp Hoa Phật dạy: “Người mà bị con ma ngũ dục sai khiến thì không thể vì họ mà nói kinh Pháp Hoa”. Không nghe được kinh Pháp Hoa là không thể thấy được tự tánh, là đắm chìm trong phiền não, là có cơ hội đi vào địa ngục, ngã quỷ, súc sanh. Người niệm Phật mà bị ma ngũ dục lôi cuốn, thì cơ hội sanh về Tây Phương rất mỏng manh, còn cơ hội đọa lạc vào ba đường ác thì rất dễ dàng.

Niệm Phật cầu sanh Tây Phương, cũng có nghĩa là ta cùng với ma ngũ dục đang đánh nhau. Nếu ta nương tay không quyết chiến đấu một cách mãnh liệt thì đối phương sẽ tiêu diệt ta; có nghĩa là ngũ dục sẽ tăng trưởng trong thâm tâm ta ngày càng nhiều đến khi ta bị thua trận. Cho nên, liên hữu niệm Phật nhất định phải dũng mãnh chiền đấu để tiêu diệt đối phương là năm con ma: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ.

Ưu Bà Tắc Giới kinh đức Phật có dạy: “Bồ Tát có hai loại; một Bồ Tát xuất gia, hai Bồ Tát tại gia. Bồ Tát xuất gia tu hành dễ, trái lại Bồ Tát tại gia tu hành khó”. Tại sao? Chúng ta hãy nhìn xem, người xuất gia ở chùa, phần nhiều thời giờ để vào việc: học Phật, tụng kinh, ngồi thiền, niệm Phật, làm việc Phật sự, ít có thời giờ tiếp xúc với sự hơn thua ngoài xã hội. Trái lại người tại gia, trên có cha mẹ lo phụng dưỡng, dưới lo chăm sóc vợ (chồng), anh em, con, cháu, lại còn có bạn bè giao tiếp ơn nghĩa phải trái đối với xã hội, làng xóm…hầu hết thời gian lo cho cuộc sống gia đình, tâm ý tính toán suy nghĩ khó mà chu toàn không có điều khiếm khuyết. Mỗi việc mỗi việc phải nhẫn nhịn thì mới có thể trở thành một con người toàn thiện.

Chúng ta niệm Phật muốn hiểu bày tự tánh Di Đà, thì hằng ngày phải tinh chuyên
Chúng ta niệm Phật muốn hiểu bày tự tánh Di Đà, thì hằng ngày phải tinh chuyên

Trong luật thường dạy người phát tâm xuất gia học đạo giải thoát là một đại trượng phu; nhưng nếu là một sư sĩ tại gia, gia công tu tập tương tục không gián đoạn, tâm mong cầu giải thoát cũng là một bậc đại trượng phu không thua gì người xuất gia. Tại gia dư sĩ năm món ma chướng; tài, sắc, danh, thực, thùy luôn luôn bám sát bên mình, muốn để có khả năng tiêu diệt được ma ngũ dục, chỉ có sáu chữ Di Đà Thánh Hiệu mới có công năng giúp người tại gia hoàn thành sứ mạng để hiển bày tự tánh mà trực chỉ Tây Phương nhập vào dòng Thánh, chứng được bất thối vị. Thỉnh chư vị hãy tinh chuyên niệm Phật.

Hiện tượng tự tử dưới cái nhìn của tâm lý học và Phật giáo

Tất cả mọi người sống trong cõi đời này đều không dưới một lần nếm trải mùi vị của khổ đau. Và không ít người đã phải đối diện với những nỗi đau khổ cùng cực, dường như không còn lối thoát.

Trong tình cảnh đó, một số người đã tìm đến cái chết – tự tử – xem như đấy là giải pháp duy nhất mà họ có thể chọn để thoát khỏi tình cảnh đen tối trong hiện tại.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm có hơn 1.500.000 người tự tử, và tự tử đứng hàng thứ 10 trong số những nguyên nhân dẫn đến tử vong trên thế giới. Đặc biệt, đối với độ tuổi thanh thiếu niên và người lớn dưới 35 tuổi, tự tử là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong. Hiện tượng tự tử đã xảy ra từ thời xa xưa, và trong thời đại ngày nay, tỷ lệ tử vong do tự tử ngày càng tăng cao.

Tự tử là một hành động cố ý giết hại bản thân, cố ý cướp đi sinh mạng của chính mình. Mạng sống rất quan trọng. Tất cả mọi người đều muốn sống, đều mưu cầu hạnh phúc. Vậy thì tại sao lại có những người tự mình tìm đến cái chết, tự mình kết liễu sinh mạng của mình như thế? Tâm lý học và Phật giáo nhìn nhận vấn đề này như thế nào? Liệu tâm lý học và Phật giáo có thể đưa ra những giải pháp nào hay để giải quyết cho vấn nạn này?

Về nguyên nhân đưa đến tự tử, tất cả các trường hợp tự tử với tâm trạng bi quan, tiêu cực đều là do họ bị lâm vào tình cảnh khổ đau cùng cực, không còn lối thoát nào khác.
Về nguyên nhân đưa đến tự tử, tất cả các trường hợp tự tử với tâm trạng bi quan, tiêu cực đều là do họ bị lâm vào tình cảnh khổ đau cùng cực, không còn lối thoát nào khác.

Quan điểm của tâm lý học về tự tử

Trong tâm lý học có nhiều quan điểm, nhiều khái niệm khác nhau về tự tử.

Theo nhà tâm lý học người Mỹ, Edwin Shneidman, tự tử là hành động tự làm tổn thương, cố ý chấm dứt sinh mạng của bản thân. Tự tử không phải là một chứng bệnh (mặc dầu có nhiều người nghĩ thế); tự tử không phải là do sự bất bình thường về mặt sinh học; nó cũng không phải là một hành động vô đạo đức, và không phải là một hành vi phạm pháp trong hầu hết các quốc gia trên thế giới (mặc dầu đã nhiều thế kỷ, ở nhiều quốc gia, người ta cho rằng tự tử là một hành vi phạm pháp)(1).

Charles Bagg, một chuyên gia tâm lý người Anh, cho rằng, tự tử là hành động cướp đi sinh mạng của bản thân một cách có chủ tâm, và hành động này có thể là hậu quả của những chứng bệnh tâm thần và cũng có thể là hậu quả của những động cơ khác nhau; những động cơ này không nhất thiết phải liên quan đến các chứng bệnh tâm thần, nhưng chúng mạnh hơn cả bản năng sinh tồn của con người(2).

Walter Hurst, nhà tâm lý học người New Zealand, cho rằng việc đưa ra quyết định tự tử thường bị thúc đẩy bởi ý muốn chấm dứt sự sống hơn là muốn chết. Tự tử là một sự lựa chọn quả quyết khi phải đối diện với một nỗi đau khổ cùng cực, dường như vượt quá mức chịu đựng của cá nhân và tự thân không thể nào giải quyết được.

Nhà tâm lý học người Ba Lan, Tadeusz Kielanowski, cho rằng tự tử là một quyết định bi thảm của một người khi họ không thấy người nào đưa tay ra giúp đỡ họ.

Trong cuốn sách Definition of Suicide (định nghĩa về tự tử) xuất bản năm 1985, Edwin Shneidman đã định nghĩa tự tử như sau: Tự tử là một hành động tự kết liễu sự sống của bản thân một cách có ý thức. Ở đấy, người ta phải đối mặt với một tình cảnh vô cùng khó khăn, phức tạp và họ nhận thấy rằng tự tử là giải pháp tốt nhất để giải quyết khó khăn đó(3).

Nguyên nhân dẫn đến tự tử

Khi nghiên cứu về các tác nhân có nguy cơ cao đối với hành vi tự tử, các nhà tâm lý học đã nhận ra nhiều căn nguyên dẫn đến hành vi này.

Nhân tố quan trọng nhất và dẫn đến nguy cơ tự tử cao nhất là các chứng bệnh về tâm lý, những rối loạn tinh thần, chẳng hạn như bị bệnh tâm thần phân liệt, bị trầm cảm nặng, bị chứng rối loạn lưỡng cực (lúc thì vui đến phát cuồng, lúc thì buồn đến mức suy sụp tinh thần), bị sang chấn tâm lý mạnh (có thể là do mất đi người thân yêu nhất, do bị chối bỏ, bị hắt hủi,…).

Lạm dụng các chất kích thích là nguyên nhân phổ biến thứ hai của việc tự tử. Việc lạm dụng các chất kích thích trong thời gian ngắn cũng như trong thời gian dài đều làm nguy cơ tự tử tăng lên. Hơn 50% số người tự tử có dính líu đến việc sử dụng bia rượu và ma túy. Hơn 25% số người nghiện ma túy và nghiện rượu tự tử. Trong lứa tuổi vị thành niên, việc lạm dụng bia rượu và ma túy chiếm tỷ lệ 70% số trẻ vị thành niên tự tử(4).

Tiếp theo là những nguyên nhân do các chứng bệnh về sinh lý, như bị mắc phải các chứng bệnh nan y, bị khuyết tật hoặc bị mất khả năng vận động do tai nạn đột ngột gây ra,… Não bộ bị thương tổn, hoạt động kém hiệu quả ở một vài chức năng nào đó cũng dễ dẫn đến việc tự tử. Những thương tổn sinh lý này gây ra thiểu năng trong quá trình nhận thức và ảnh hưởng đến các hoạt động sống, các quan hệ xã hội của người bệnh, chúng tác động ngược trở lại với xúc cảm, tình cảm, tâm trạng,… của người bệnh, khiến cho nguy cơ tự tử của người bệnh tăng cao.

Và cuối cùng là những tác nhân thuộc về môi trường xã hội. Qua các nghiên cứu và thống kê cho thấy, có những trường hợp tự tử xảy ra do những tác nhân, những sự kiện bên ngoài, những ảnh hưởng từ phía xã hội, chẳng hạn như bị người yêu chối bỏ, bị thầy cô giáo phạt, bị bạn bè trêu chọc, bị quấy rối, bị lạm dụng tình dục, bị cưỡng hiếp, bị cha mẹ trách mắng, bị mất cha hay mẹ, cha mẹ ly hôn, bị mất việc, bị sạt nghiệp, bị vỡ nợ, bị phản bội,… Đôi khi nhiều thanh thiếu niên tử tử vì một nguyên nhân rất lạ đời, như thần tượng của họ (ngôi sao ca nhạc, ngôi sao điện ảnh, người mẫu thời trang,…) bị chết hoặc tự tử, dẫn đến việc họ quyết định chết theo.

Chính vì vậy mà Đức Phật đã chế giới không sát sanh, trong đó quan trọng nhất là không được giết hại sinh mạng con người.
Chính vì vậy mà Đức Phật đã chế giới không sát sanh, trong đó quan trọng nhất là không được giết hại sinh mạng con người.

Biện pháp ngăn ngừa sự tự tử

Với những quan điểm, luận thuyết và những kết quả nghiên cứu về vấn đề tự tử như thế, các nhà tâm lý học đã đề xuất các giải pháp để ngăn ngừa sự tự tử trong xã hội, cụ thể như sau:

– Tuyển chọn và đào tạo các nhóm tình nguyện viên để phục vụ việc tư vấn các vấn đề liên quan đến tính riêng tư của cá nhân.– Nâng cao khả năng phục hồi tinh thần thông qua cách tư duy tích cực và các mối quan hệ xã hội.– Giáo dục về sự tự tử, bao gồm cả những tác nhân có nguy cơ, những dấu hiệu cảnh báo, và khả năng sẵn sàng hỗ trợ.– Nâng cao hiệu quả của các dịch vụ y tế và phúc lợi xã hội. Nâng cao chất lượng đào tạo các chuyên viên y tế và thành lập các trung tâm tư vấn cho những người bị khủng hoảng.– Hạn chế vấn đề bạo lực trong gia đình, nhà trường và xã hội. Hạn chế việc lạm dụng các chất kích thích để giảm bớt những vấn đề rắc rối về sức khỏe tinh thần.– Hạn chế khả năng tiếp cận dễ dàng đối với những phương tiện dùng để tự tử.– Can thiệp trực tiếp đến những nhóm đối tượng có nguy cơ tự tử cao.

Bên cạnh đó, đứng về phương diện chuyên môn, các chuyên gia tâm lý còn áp dụng các liệu pháp tâm lý để hỗ trợ nhằm ngăn ngừa, hạn chế tự tử. Cụ thể là sử dụng Liệu pháp tâm lý nhóm, thông qua đó các chuyên gia tâm lý giúp cho những người có ý muốn tự tử có được những kỹ năng sống cơ bản trong đời sống hàng ngày, như giúp cho người có nguy cơ tự tử nhận thức được những quyền cá nhân cơ bản của họ, hình thành cho họ những kỹ năng xoa dịu các xúc cảm, thiết lập những ranh giới trong các mối quan hệ xã hội, tham gia các hoạt động giải trí lành mạnh, và hình thành những kỹ năng giải quyết các vấn đề khó khăn của cuộc sống.

Quan điểm của Phật giáo về tự tử

Theo Phật giáo, để đánh giá tính chất của một hành động, không chỉ dựa vào những biểu hiện bên ngoài, mà còn phải căn cứ vào động cơ, yếu tố tâm lý bên trong. Đức Phật dạy rằng: “Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nói năng và hành động với tâm thanh tịnh thì sự an lạc sẽ theo ta như bóng không rời hình. Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nói năng và hành động với tâm ô nhiễm thì sự khổ sẽ theo ta như bánh xe lăn theo chân con vật kéo.” (Kinh Pháp Cú, kệ 01 – 02). Do vậy, đánh giá tính chất của hành động tự tử cũng dựa theo nguyên tắc này.

Nếu như người nào chịu hy sinh thân mạng của mình để đem lại an vui, hạnh phúc cho số đông, cho tập thể, và họ chết trong tâm trạng an nhiên, tự tại, không hề bị khổ đau bức ngặt, không hề lo sợ, thì đấy là một sự hy sinh vĩ đại, được mọi người ca tụng. Điển hình cho trường hợp này là hình ảnh các vị tu sĩ Phật giáo Việt Nam đã tự thiêu trong năm 1963 nhằm đòi lại sự công bằng, tự do và bình đẳng cho tín đồ Phật giáo nói riêng và cho nhân dân Việt Nam nói chung. Họ hy sinh để cho đất nước được yên bình, cho mọi người được ấm no, hạnh phúc. Hành động của họ được ví như hành động của bậc Bồ tát, xả thân vì tương lai của đạo pháp, vì lợi ích của mọi người. Hoặc như trong kinh điển đề cập đến một vị Tỳ kheo trẻ tuổi đã tự tử để giữ gìn phạm hạnh của mình khi bị một người nữ cưỡng ép quan hệ chăn gối với cô ta. Vị này biết rõ rằng nếu mình chịu quan hệ thì sẽ vi phạm giới luật; nhưng nếu không chịu quan hệ thì cô ta sẽ vu khống rằng mình đã có những hành vi tồi bại. Vì thế, để giải quyết tình cảnh bế tắc này mà không phạm giới, vị ấy quyết định tự kết liễu đời mình. Suy nghĩ như thế rồi, vị ấy giả vờ đồng ý và bảo cô đợi một chút. Vị Tỳ kheo vào phòng trong, đóng cửa và tự đâm vào cổ họng mà chết. Trước khi tắt thở, vị ấy kính lễ mười phương Tam bảo rồi dùng máu của mình viết lên vách mấy chữ như sau: “Vì tôn kính Tam bảo và gìn giữ giới hạnh mà con quyết định từ bỏ thân này”. Đây cũng là một sự hy sinh cao cả, chấp nhận hy sinh để bảo tồn uy danh cho ba ngôi Tam bảo, để giữ gìn giới thân huệ mạng của mình.

Tuy nhiên, những trường hợp hy sinh như thế là rất hiếm. Vấn đề cần bàn là đối với những trường hợp tự tử với tâm tiêu cực. Hầu hết những người tự tử đều mang tâm trạng khổ đau cùng cực, đều hoang mang, lo sợ. Họ tự tử không phải vì muốn chết mà là muốn trốn chạy khổ đau trong hiện tại. Tự tử đối với họ xem như là một lối thoát, một giải pháp cho tình cảnh bế tắc của bản thân. Hành động này hoàn toàn đi ngược lại với tinh thần của đạo Phật. Đức Phật dạy rằng: “Thân người khó được”. Được làm thân người là một diễm phúc vô cùng lớn, một khi bị mất đi thì không biết đời nào mới được sinh làm người trở lại. Dẫu biết rằng tấm thân năm uẩn này là giả tạm, nhưng cần phải nương vào thân này, dùng thân này làm phương tiện để tu thân hành thiện, để tịnh hóa thân tâm và tu tạo các công đức. Nếu hủy diệt thân này thì biết lấy gì để làm phương tiện tu tập. Chính vì vậy mà Đức Phật đã chế giới không sát sanh, trong đó quan trọng nhất là không được giết hại sinh mạng con người. Nếu ai phạm vào giới này thì xem như là người bỏ đi, vì họ không còn chút từ tâm, không có lòng trắc ẩn, không còn có cơ may chuyển hóa. Liên quan đến giới không sát sanh, trong Luật tứ phần có đề cập đến trường hợp các vị Tỳ kheo sau khi nghe Đức Phật dạy phép quán thân bất tịnh, do hiểu chưa thấu đáo chủ ý của Đức Phật về phép quán này, nên họ sinh tâm nhàm tởm thân mạng rồi có vị thì tự sát, có vị thì nhờ người khác đoạn thân mạng mình. Đức Phật dạy phép quán bất tịnh là để đoạn trừ lòng tham ái, nhất là luyến ái thân thể của mình hoặc của người khác. Biết được sự việc này, Đức Phật đã nhóm họp chúng Tỳ kheo và dạy rằng: “Việc làm của các vị ấy là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp của Sa môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, là việc không nên làm. Làm sao các Tỳ kheo ấy lại ngu si mà dứt mạng lẫn nhau? Các Tỳ kheo ấy là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này”. Nhân đấy mà Đức Thế Tôn chế giới không được sát sanh: “Tỳ kheo nào cố ý tự tay dứt sinh mạng người, cầm dao đưa người, khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết, nói: ‘Này nam tử, ích gì cuộc sống xấu ác này, thà chết còn hơn sống!’ Với tâm tư duy như vậy, dùng mọi phương tiện khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết; Tỳ kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung”(5). Qua đây, chúng ta thấy rõ lập trường, quan điểm của Đức Phật về vấn đề giết hại sinh mạng, dù là sinh mạng của chính mình hay của người khác, dù cho tự mình giết, hỗ trợ người khác giết, khen ngợi việc giết hại, khuyến khích người khác tìm đến cái chết đều phạm tội ba-la-di, một trong bốn trọng tội của một vị tu sĩ.

Lối sống “ít ham muốn, biết vừa đủ” cũng là một phương pháp tích cực để ngăn ngừa các tác nhân dẫn đến nguy cơ tự tử.
Lối sống “ít ham muốn, biết vừa đủ” cũng là một phương pháp tích cực để ngăn ngừa các tác nhân dẫn đến nguy cơ tự tử.

Hơn nữa, giải quyết vấn đề khó khăn bằng cách chạy trốn, bằng cách tự tử không phải là một giải pháp hay. Đức Phật khuyên mọi người nên đối diện với hiện thực cuộc sống, đối diện với những khó khăn, những khổ đau của mình để tìm ra giải pháp giải quyết một cách triệt để chứ không nên trốn chạy. Tự tử không giải quyết được vấn đề. Nếu sự khổ đau ấy là do nghiệp nhân chúng ta đã tạo trong quá khứ, bây giờ phải trả quả thì trốn chạy không phải là cách tốt, vì chỉ có thể trốn chạy một lần chứ không thể trốn chạy mãi được, chi bằng chúng ta đối diện với quả khổ ấy để rồi tìm cách chuyển hóa, như thế mới có cơ may chuyển được nghiệp khổ. Đấy là chưa kể khi tự tử, do cận tử nghiệp không tốt nên khiến cho người tự tử rất dễ bị đọa lạc vào những chốn khổ đau, u tối.

Về nguyên nhân đưa đến tự tử, tất cả các trường hợp tự tử với tâm trạng bi quan, tiêu cực đều là do họ bị lâm vào tình cảnh khổ đau cùng cực, không còn lối thoát nào khác. Khổ đau ấy có thể do mong cầu mà không được toại ý; do không làm chủ được cảm xúc, suy nghĩ thiếu chín chắn nên đã dẫn đến hành động nông nổi; do tự ái cá nhân quá cao nên khi bị người khác xem thường, khinh bỉ, khước từ hoặc làm nhục thì bị hụt hẫng, bị sốc cho nên tìm đến cái chết; hay là do lối sống trụy lạc, dẫn đến bị nghiện ngập; cũng có thể là do các chứng bệnh nan y giày vò thể xác lẫn tinh thần; hoặc bị các chứng bệnh tâm lý như là: bị stress nặng, bị trầm cảm nghiêm trọng, bị sang chấn tâm lý… Như vậy, đứng về góc độ Phật giáo, có thể kết luận nguyên nhân của tự tử là do nhiều lòng tham ái, do chấp ngã, sống thiếu chánh niệm, hoặc sâu xa hơn là do các nghiệp nhân bất thiện đã tạo ra trong quá khứ.

Đóng góp của Phật giáo cho việc giải quyết vấn nạn tự tử

Trước hết, chúng ta dễ dàng nhận thấy năm giới căn bản của Phật giáo (không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối trá, không dùng các chất kích thích) góp phần quan trọng trong việc ngăn ngừa và hạn chế nguy cơ dẫn đến tự tử. Trong đó, trực tiếp nhất là giới không sát sanh và không dùng các chất kích thích. Như trên chúng ta đã thấy, lạm dụng các chất kích thích là nguyên nhân xếp hàng thứ hai trong số những nguyên nhân chính dẫn đến tự tử. Nếu một người biết tuân thủ giới không sử dụng các chất kích thích mà Đức Phật đã chế định thì sẽ giảm đi rất nhiều các nguy cơ dẫn đến tự tử. Đối với giới không sát sanh cũng thế, nếu mọi người đều tuân thủ giới không sát sanh thì sẽ không xảy ra tự tử, vì ai cũng biết trân quý thân mạng, không nỡ hại người, hại mình. Còn vấn đề trộm cắp, quan hệ tình dục bất chính, nói những lời dối trá, thêu dệt, xuyên tạc sự thật cũng có thể xem là những tác nhân gián tiếp dẫn đến tự tử. Nếu như tuân thủ giới không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối trá thì có nghĩa là chúng ta đã hạn chế được các tác nhân gián tiếp ấy.

Lối sống “ít ham muốn, biết vừa đủ” cũng là một phương pháp tích cực để ngăn ngừa các tác nhân dẫn đến nguy cơ tự tử. Một khi con người biết áp dụng lối sống ít ham muốn, biết vừa đủ thì sẽ ít mong cầu, không chạy theo những thú vui trần tục, không bị những khoái cảm của các giác quan sai khiến, nhờ vậy mà cuộc sống được thăng bằng hơn, ít đau khổ hơn. Càng nhiều ham muốn thì càng đau khổ nhiều, ít ham muốn thì sẽ ít khổ đau.

Lạm dụng các chất kích thích là nguyên nhân xếp hàng thứ hai trong số những nguyên nhân chính dẫn đến tự tử. Ảnh minh họa.
Lạm dụng các chất kích thích là nguyên nhân xếp hàng thứ hai trong số những nguyên nhân chính dẫn đến tự tử. Ảnh minh họa.

Khiêm hạ là một phẩm chất đạo đức tốt, người nào biết thực tập đức khiêm hạ thì người ấy sẽ hạn chế rất nhiều các nguy cơ dẫn đến tự tử. Tại vì, khi mình biết khiêm hạ thì tâm mình ít bị dao động khi bị người khác chê bai hay ruồng bỏ; khi biết khiêm hạ thì dù có được người khác tâng bốc, lòng mình vẫn bình thản, cho nên không dễ dàng bị người khác lợi dụng, không dễ dàng bị người khác dẫn dắt để làm những việc tổn hại đến thanh danh, đạo đức của mình, tổn hại đến người khác. Do vậy mà mình sẽ ít phạm lỗi lầm hơn, ít khi phải sống trong tâm trạng bị lương tâm cắn rứt, bị dằn vặt đau khổ. Một khi biết sống với tâm khiêm hạ thì chúng ta luôn biết nhìn lên những người hơn mình để phấn đấu vươn lên, để sống tinh tấn hơn; đồng thời biết nhìn xuống những người kém may mắn hơn mình để tự biết rằng mình vẫn còn nhiều hạnh phúc, biết cảm thông và sẻ chia với người khác. Chính vì biết nhìn lên và nhìn xuống như thế, cho nên nếu không may lâm vào tình cảnh éo le, khổ đau cùng cực, mình cũng vẫn luôn lạc quan, tin tưởng, vẫn nuôi hy vọng về một ngày mai tươi sáng, vẫn cảm thấy mình còn hạnh phúc và may mắn hơn nhiều người, và phấn đấu để vượt qua chứ không quá bi thương, tuyệt vọng. Nhờ vậy mà ý niệm quyên sinh để thoát khỏi khổ đau không hề khởi lên trong tâm thức.

Các phương pháp thiền định và lối sống chánh niệm là một trong những phương pháp quan trọng của Phật giáo góp phần tích cực vào việc ngăn ngừa và hạn chế các nguy cơ tự tử, đồng thời góp phần điều hòa và chữa trị những tổn thương tinh thần do hành động tự tử gây ra cho chính nạn nhân cũng như cho người thân của họ. Trước hết, việc thực tập thiền định và sống chánh niệm sẽ giúp cho con người có được sự cân bằng tâm trí, nhận thức và đánh giá vấn đề đúng đắn, phù hợp hơn, đủ tỉnh táo và nhanh nhạy để đưa ra những giải pháp hiệu quả cho việc giải quyết những vướng mắc trong cuộc sống. Bên cạnh đó, thực tập thiền định và sống chánh niệm còn giúp cho hành giả làm chủ được xúc cảm của bản thân, nhờ vậy mà rất hiếm khi xảy ra những hành động bột phát, thiếu suy nghĩ. Không những thế, thiền định còn là một liệu pháp thư giãn rất hiệu quả, giúp giải tỏa những căng thẳng trong cuộc sống, không để cho những căng thẳng, những cảm xúc tiêu cực tích tụ trong thân tâm ngày này qua ngày khác để rồi dẫn đến những hệ lụy đáng tiếc.

Thêm vào đó, nếp sống hiền thiện mà Đức Phật dạy còn là một phương pháp vô cùng hiệu quả trong việc ngăn ngừa và hạn chế tự tử. Nguyên nhân chính dẫn con người đến quyết định tự tử là do khổ đau cùng cực, không còn lối thoát. Nếu biết sống hiền thiện, gieo các nhân lành thì chắc chắn sẽ gặt hái được quả lành, cuộc sống sẽ không bị đẩy vào những tình cảnh bi đát, tuyệt vọng. Hoặc giả nếu có bị lâm vào tình cảnh khốn khó thì cũng sẽ gặp được những con đường thoát hiểm, hoặc là được người khác cứu giúp, không đến nổi phải tìm đến cái chết. Hơn nữa, nếu chúng ta sống một cuộc sống hiền lương, đối xử thân thiện, có tình có nghĩa với mọi người thì sẽ được mọi người quý mến và đối xử tốt với mình, do vậy mà mình không có kết oán, gây thù với ai. Không có oán thù với ai thì đâu đến nỗi phải lâm vào cảnh bi đát, tuyệt vọng, đâu phải ôm hận trong lòng. Đã không bị lâm vào cảnh khốn cùng, không đến nỗi hoàn toàn tuyệt vọng thì không có ai muốn kết liễu sinh mạng của mình cả.

Ngày nay, thế giới hiện đại đang dần dần khám phá ra những giá trị vô cùng quý báu của đạo Phật để giải quyết những vấn nạn của xã hội, nhất là các nhà tâm lý học, họ đã phát hiện được khả năng trị liệu các chứng bệnh tâm lý, những rối loạn tinh thần rất hiệu quả từ trong kho tàng giáo lý của đạo Phật. Mong sao kho tàng giáo pháp quý báu của đạo Phật ngày càng được nhiều người biết đến và chuyên cần áp dụng vào trong đời sống của bản thân để chuyển hóa khổ đau, để sống hạnh phúc, an lành.

MC Hạnh Phúc vượt qua căn bệnh ung thư nhờ Phật pháp

Giữa lúc tưởng chừng như đen tối và bế tắc nhất, MC Hạnh Phúc tìm đến đạo Phật như một sự “cứu rỗi”. Ánh sáng của Phật pháp đã giúp Hạnh Phúc vượt qua biến cố và thay đổi cách sống.

MC Hạnh Phúc từng được chuẩn đoán mắc ung thư máu

MC Hạnh Phúc sinh năm 1986 và hiện là người dẫn chương trình của “Chuyển động 24h – Đài truyền hình Việt Nam”.

Trong một cuộc phỏng vấn, MC Hạnh Phúc từng chia sẻ về cái tên đặc biệt: “Mẹ từng sảy thai nhiều lần. Nên khi mẹ sinh được Phúc đầy đủ tháng, to khỏe, tôi trở thành niềm hạnh phúc của cả gia đình. Và cho đến giờ, tôi vẫn tự hứa với bản thân phải cố gắng để bố mẹ luôn tự hào và hạnh phúc vì có mình. Cái tên cũng khiến tôi trăn trở và tự nhắc nhở rằng mình cần phải biết san sẻ hạnh phúc đến với những người bất hạnh xung quanh”.

Với nét duyên tự nhiên và chất giọng ấm áp trời phú, Hạnh Phúc là MC nam được rất đông khán giả hâm mộ. Ảnh: Internet

Với nét duyên tự nhiên và chất giọng ấm áp trời phú, Hạnh Phúc là MC nam được rất đông khán giả hâm mộ. Ảnh: Internet

Năm 2012, Trong một lần đi xét nghiệm vì phát hiện có hạch ở cổ, anh vô cùng hoang mang khi được bác sĩ thông báo rằng mình đã bị ung thư máu. Đang ở vào những ngày tháng đẹp nhất của tuổi trẻ với rất nhiều hoài bão còn chưa thực hiện được, Hạnh Phúc như phải nhận lấy giấy báo tử. Sốc và hoang mang, anh phải bỏ dở công việc và mọi dự định ở TP HCM để trở về Hà Nội.

Trong suốt hơn một tháng, anh sống trong nỗi lo lắng, tuyệt vọng trước căn bệnh quái ác. Không chỉ thương bố mẹ đã có tuổi sau này sẽ không còn ai chăm sóc mà anh còn cảm thấy có lỗi khi đã không quan tâm được nhiều đến đấng sinh thành.

Ánh sáng của Phật pháp đã giúp Hạnh Phúc thoát khỏi bệnh ung thư

Giữa lúc tưởng chừng như đen tối và bế tắc nhất, Hạnh Phúc tìm đến đạo Phật như một sự “cứu rỗi”. Anh tập ăn chay, mỗi ngày dành ra 4-5 tiếng ngồi thiền và tụng kinh.

Một tháng sau đó, Hạnh Phúc đi xét nghiệm lại và kết quả cho thấy anh không bị ung thư. “Có lẽ chính sức mạnh tâm linh đã giúp tôi vượt qua khoảng thời gian khó khăn đó”, Hạnh Phúc tâm sự.

Căn bệnh ung thư sau một tháng đó đã chuyển sang bệnh dị ứng. Điều ngạc nhiên là đến thời điểm hiện tại, Hạnh Phúc cũng đã khỏi hẳn bệnh dị ứng. Anh chia sẻ “Bệnh tật hay sức khỏe yếu hay nghèo đói cũng chỉ là một dạng nghiệp. Đấy chính là nghiệp ác, nghiệp xấu. Nếu chúng ta làm những điều tốt, phước báu,…thì sẽ giúp giảm đi nghiệp ác,…

Cú sốc khi đứng giữa ranh giới sinh tử và lòng hiếu thuận đã tạo động lực để MC Hạnh Phúc quyết định trở thành người ăn chay trường. Ảnh: Internet

Cú sốc khi đứng giữa ranh giới sinh tử và lòng hiếu thuận đã tạo động lực để MC Hạnh Phúc quyết định trở thành người ăn chay trường. Ảnh: Internet

Sau một tháng đó, Hạnh Phúc bắt đầu tìm hiểu về Đạo Phật, hiểu về các triết lý của Đạo Phật,… từ đó anh đã áp dụng vào trong cuộc sống, tham gia vào nhiều hoạt động từ thiện,….

Đặc biệt, cú sốc khi đứng giữa ranh giới sinh tử và lòng hiếu thuận đã tạo động lực để MC Hạnh Phúc quyết định trở thành người ăn chay trường.

Những ngày tháng sau, Hạnh Phúc vẫn duy trì thói quen ăn chay theo ngày, khoảng 7- 8 ngày/tháng. Cho đến khi một biến cố khác xảy đến khiến anh thay đổi.

Từ chỗ ăn chay theo ngày, Hạnh Phúc trở thành người ăn chay trường từ đận ấy. Ban đầu là 1 bữa chay/ ngày, sau tăng dần lên 3 bữa.

“Tôi ăn chay một vài ngày thấy cơ thể mình không có phản ứng gì xấu và thế là quyết định chuyển hẳn sang ăn chay luôn”, Hạnh Phúc chia sẻ.

“Thời gian đầu cũng thấy thèm khi ngửi mùi thịt, nhưng dần dần thì không còn thấy mùi thịt thơm nữa. Mình cũng ý thức ăn thịt tức là sát sinh động vật nên cố gạt điều đó ra khỏi đầu. Đến hiện tại thì cảm thấy vô cùng thoải mái, không còn cảm giác gò ép gì cả”, MC Hạnh Phúc cho hay.

Chứng kiến Hạnh Phúc ăn chay trường, nhiều bạn bè thân thiết của anh ban đầu cũng tỏ ý ngạc nhiên. Nhưng rồi tất cả đều thông cảm và tạo điều kiện cho anh trong những cuộc ăn chung.

“Tôi không bao giờ vì ăn chay mà tách mình khỏi mọi người. Những cuộc hội họp, ăn uống nếu có thời gian tôi đều tham gia. Giải pháp một là tự chuẩn bị đồ ăn mang đến, hai là nói nhà hàng làm riêng một vài món chay thanh đạm. May mắn là bạn bè, đồng nghiệp và đối tác đều thông cảm, biết tôi ăn chay thì đều gọi phần ăn riêng cho tôi”, Hạnh Phúc tâm sự.

Lòng thành tâm hướng thiện của Hạnh Phúc đã được chứng giám. Bố mẹ anh khỏi bệnh và khỏe mạnh đến bây giờ. Nghĩ về chuyện này, Hạnh Phúc cười: “Nghe có vẻ không khoa học, nhưng từ lúc ăn chay tôi thấy sức khỏe bố mẹ tốt hẳn lên”.

Chàng trai yêu nghề, yêu người, và yêu đời, sống đẹp như chính cái tên của anh. Ảnh: Internet

Chàng trai yêu nghề, yêu người, và yêu đời, sống đẹp như chính cái tên của anh. Ảnh: Internet

Anh kể bố anh là bộ đội nghỉ hưu, trầm tính nhưng cũng rất nghiêm khắc. Ngày nhỏ nhiều lần Hạnh Phúc bị đánh đòn khi mắc lỗi. Anh cho rằng, nhờ sự kỉ luật ấy anh mới có thể trở thành con người như bây giờ.

Còn mẹ anh thì lại yêu thương con theo cách khác. “Mẹ tôi rất tình cảm và chăm lo chu toàn cho gia đình. Đến giờ, mẹ vẫn luôn là người dậy sớm chuẩn bị đồ ăn cho cả gia đình. Tôi ăn chay trường nên mẹ luôn chuẩn bị phần ăn riêng”.

“Tôi biết thời gian mình dành cho gia đình không được nhiều vì đặc trưng của nghề làm truyền hình thường xuyên phải đi công tác xa. Bố mẹ tôi chưa từng trách móc khiến tôi rất cảm động và biết ơn. Chưa thể làm được gì nhiều cho bố mẹ, tôi tự ý thích phải trở thành một người thật tốt, xứng đáng với công dưỡng dục của bố mẹ”, Hạnh Phúc chia sẻ.

MC Hạnh Phúc cũng tâm sự, bản thân anh ý thức được điều kỳ diệu của việc ăn chay. Không chỉ dừng lại ở ý nghĩa tâm linh, ăn chay còn giúp tâm hồn con người trong sạch hơn, hướng đến việc thiện.

Mới đây, chương trình “Hoa mặt trời” đã trò chuyện cùng MC Hạnh Phúc về hành trình vượt qua “án tử” ung thư của anh. Mời quý Phật tử cùng đón xem:

Thanh Tâm

Bố thí với tâm thành thì một hạt gạo cũng nặng như núi Tu Di

Chuyện kể rằng có một cặp vợ chồng nghèo sống trong hầm lò, bốn bức vách tiêu điều xơ xác, thậm chí hai vợ chồng chỉ có mộ bộ áo khố, chồng mặc đi ra ngoài thì vợ chỉ quanh quẩn trong nhà, khi vợ đi ra ngoài thì chồng mặc áo không đủ che thân, chỉ ngồi chờ trong động.

Một hôm, nghe có đức Phật dẫn đệ tử ôm bình bát đi khất thực gần quanh động, hai vợ chồng bàn định:

“Quá khứ của chúng ta không biết bố thí gieo phước điền, nên ngày nay mới rơi vào tình cảnh nghèo khó như thế này, hiện nay cũng không dễ mong được đức Phật đến đây giáo hóa, vậy làm sao chúng ta có thể để mất cơ hội bố thí này được?”.

Bàn qua bàn lại, người vợ mới thở dài, nói: “Trong nhà hầu như không có lấy một thứ gì cả, chúng ta đem cái gì đi bố thí đây?”.

Người chồng suy nghĩ rồi quả quyết: “Chúng ta thà chết đói chứ không thể bỏ lỡ cơ hội này. Hiện chúng ta chỉ còn một thứ tương đối hoàn chỉnh duy nhất là bộ áo khố này, chúng ta sẽ đem cúng dường đức Phật!”.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Hai vợ chồng vui vẻ cầm bộ áo khố đi bố thí, điều này khiến cho các đệ tử của đức Phật cảm thấy khó xử. Mọi người chuyển qua đẩy về cái khố ấy, ai nấy đều bưng mũi tránh đi, cuối cùng tôn giả A Nan cầm chiếc khố ấy đến chỗ đức Phật xin chỉ giáo:

“Bạch Phật, cái khố này đúng ra không thể mặc, hay là nên vứt đi?”.

Đức Phật nhân từ giảng dạy:

“Các đệ tử không được nghĩ như vậy, của bố thí của người nghèo là vô cùng đáng quý, hãy đem đến đây cho ta mặc!”.

A Nan cảm thấy xấu hổ, cầm cái khố cùng với Mục Kiền Liên đến bờ sông giặt sạch, đột nhiên cái khố vừa ngâm xuống sông thì cả con sông lập tức tuôn trào dậy sóng, lên thật cao xuống thật sâu. Mục Kiền Liên gấp rút vận sức thần thông chuyển núi Tu Di đến để trấn áp, nhưng không thể dẹp yên sóng cả, hai người chỉ còn cách chạy về bẩm báo với đức Phật.

Lúc ấy, đức Phật đang thọ trai, ngài bèn nhè nhẹ nhón lên một hạt cơm rồi nói với hai người:

“Nước sông dậy sóng bởi vì Long vương cảm khái tâm nguyện tận lực bố thí của người nghèo khó, hai người hãy cầm hạt cơm này đến bờ sông sẽ dẹp yên được sóng cả”.

A Nan cảm thấy kỳ lạ, bèn hỏi:

“Bạch Phật, to lớn như núi Tu Di mà không thể đè bẹp nổi sóng cả, hạt cơm nhỏ bé này làm so có thể trấn áp nổi cơn sóng cao ngút trời ấy?”.

Đức Phật cười, nói: “Hai người cứ cầm đi làm thử rồi hẵng hay!”.

A Nan và Mục Kiền Liên nửa tin nửa ngờ cầm hạt cơm đến ném xuống dòng sông, dòng sông liền hết dậy sóng, bình lặng như thường.

Hai người sâu sắc nhận ra rằng đây là điều kỳ diệu: Lẽ nào sức mạnh của núi Tu Di lại không bằng hạt cơm ư?

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Sau đó, họ trở về thỉnh giáo đức Phật. Đức Phật nói:

“Tính của vô nhị (không hai) tức là thực tính. Một hạt lúa gieo xuống đất từ ban đầu đã được tưới tiêu, bón phân, thu gặt, chế biến, bán ra… tức là chất chứa rất nhiều công sức và gian khổ mới có thể có được một hạt gạo, công đức đó nó bao hàm là vô lượng, cũng giống như bộ áo khố kia là tài vật và gia sản duy nhất của hai vợ chồng nghèo khó, tâm lượng mà nó bao hàm cũng là vô hạn!

Long vương bốn bể hiểu được công đức của hạt gạo và công đức của bộ áo khố cũng lớn lao như nhau, đều do nhất niệm lòng thành đưa dẫn, cho nên liền nhượng bộ rút lui.

Do đó, có thể thấy chỉ cần nhất niệm lòng thành thì sức mạnh của một hạt gạo bé tí, của một bộ áo khố tầm thường cũng có thể ngang bằng với hàng ngàn hàng vạn ngọn núi Tu Di”.

Cho nên, bố thí với “một niệm hoan hỷ” thì công đức thật là lớn lao.

Bất kể so sánh lớn nhỏ núi Tu Di với hạt gạo, hay là so sánh lớn nhỏ với công đức bố thí, nhỏ lớn lớn nhỏ, hoàn toàn không chấp nê theo hình tướng, theo ngoại tướng, mà là theo sự lý viên dung, pháp thân huệ mệnh trong ngoài như một để thể hội và chứng nghiệm, vì vậy nên có điều gọi là “gộp tất cả lời nói vào một câu, gom đại thiên thế giới vào một hạt bụi”.

Nghệ thuật sống hạnh phúc và xử lý khổ đau

Nghệ thuật sống hạnh phúc là nghệ thuật tạo dựng và duy trì hạnh phúc. Trong đời sống hàng ngày chúng ta có những cảm thọ, những cảm thọ dễ chịu hay những liên hệ trực tiếp với những cảm thọ dễ chịu ấy.

Chúng ta có thể hình dung hạnh phúc là những bông hoa trong khu vườn mà người làm vườn có thể chế tác được. Nếu người làm vườn có thể chế tác được những bông hoa thì người hành giả cũng có thể chế tác được hạnh phúc.

Trong một khu vườn, chúng ta thấy có hoa và có rác. Người làm vườn biết chế tác những bông hoa nhưng cũng biết xử lý những cọng rác. Giữa hoa và rác có sự liên hệ. Trong khi chế tác bông hoa, người làm vườn có thể sử dụng rác để làm phân nuôi dưỡng hoa. Nghệ thuật xây dựng và duy trì hạnh phúc có liên hệ đến nghệ thuật xử lý khổ đau. Nếu không có khả năng xử lý khổ đau thì ta cũng không có khả năng tạo dựng hạnh phúc. Hai công việc đó có liên hệ với nhau. Chủ đề Nghệ thuật tạo dựng hạnh phúc có liên hệ mật thiết với chủ đề Nghệ thuật xử lý và chuyển hóa khổ đau, chúng đan xen vào nhau. Khi biết tạo dựng hạnh phúc thì đồng thời ta biết xử lý và chuyển hóa khổ đau. Khi biết xử lý và chuyển hóa khổ đau thì đồng thời ta cũng biết tạo dựng hạnh phúc. Tuy là hai công việc nhưng kỳ thực chỉ là một. Nghệ thuật xử lý khổ đau là nghệ thuật tạo dựng hạnh phúc tại vì, hạnh phúc là sự vắng mặt của khổ đau và khổ đau là sự vắng mặt của hạnh phúc.

Để biết rằng mình đang là người hạnh phúc

Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
Nếu quán chiếu kỹ thì ta thấy, hạnh phúc tùy thuộc vào tâm của mình hơn là tùy thuộc vào hoàn cảnh. Những gì xảy ra cho mình tùy thuộc vào cách mình nhìn sự việc đó, tùy theo cách mình nhìn mà nó trở thành niềm vui hay nỗi khổ. Ví dụ buổi sáng thức dậy sớm để đi ngồi thiền đó là niềm vui hay nỗi khổ? Mình mở cửa, đi ra, bước từng bước chân tới thiền đường. Khi ấy mình có hạnh phúc hay không có hạnh phúc không phải tại vì có cái cửa, có thiền đường, có con đường từ cửa tới thiền đường, có hai chân và có giây phút đi ra thiền đường, mà nó tùy vào cách mình nhìn vào sự kiện đó. Nếu có chánh niệm, có ý thức thì mình có thể có hạnh phúc trong khi mở cửa, được tiếp xúc với không khí trong lành mát lạnh của bên ngoài, đó là một niềm vui. Bước chân đi cũng có thể trở thành một niềm vui. Bằng không thì đang ngủ ngon mà phải thức dậy là đau khổ, bước ra ngoài tiếp xúc với cái lạnh là đau khổ, phải bước chân tới thiền đường cũng là đau khổ. Nhưng nếu nhớ lại hai tuần trước mình lên cơn sốt phải nằm trên giường không đi đâu được, môi khô miệng đắng, đầu đau như búa bổ, lúc ấy mình ao ước được đi ra ngoài. Bây giờ hãy đưa ký ức đó trở về, đem bối cảnh của quá khứ trở về với giây phút hiện tại thì mình sẽ thấy được mở cửa bước ra ngoài là một niềm hạnh phúc. Do đó hạnh phúc hay khổ đau là do tâm chứ không phải do cảnh.

Quý vị đã từng thấy một xác chết chưa? Một người thân chết nằm trên giường hay một con thú, một con chim đã chết. Dù là một em bé năm, sáu tuổi cũng đã có cơ hội thấy một cái chết. Con chim chết nằm cứng đơ không bay được nữa, một người già hay một em bé chết cũng nằm cứng đơ không cử động được. Dù có làm cách nào đi nữa thì con chim kia cũng không bay được, cái xác kia cũng không ngồi dậy, bước đi hay chạy nhảy được.

Trong thời gian Tăng thân ở San Diego, một số các thầy, các sư cô được xem một cuộc triển lãm gọi là Body World, trong đó người ta trưng bày toàn là xác chết, xác chết của người thật, đó là những người đang còn rất trẻ, còn khỏe mạnh nhưng bị bệnh gì đó mà chết. Có những thân hình rất đẹp của những người thanh niên vạm vỡ. Triển lãm trưng bày hàng trăm xác chết đứng trong những tư thế khác nhau. Có người đang đứng trong tư thế trượt tuyết, có người đang đứng trong tư thế chơi bóng rổ, … Người ta dùng thủ thuật ướp xác để giữ cho xác chết được nguyên vẹn. Chúng ta có thể nhìn được những bắp thịt, thỉnh thoảng người ta xẻ một miếng trên thân thể xác chết để mình thấy được phía trong. Thăm triển lãm này mình được tiếp xúc trực tiếp với những hình hài thật của con người. Có những người còn trẻ lắm nhưng đã chết. Đi xem một cuộc triển lãm như thế trong vòng một hai giờ, cũng giống như ta được thiền quán về cái chết suốt một hai giờ đồng hồ. Đến khi đi ra khỏi triển lãm thì những hình ảnh đó sẽ đi theo mình, mình biết thế nào mai mốt mình cũng sẽ chết, không chết vì bệnh thì cũng chết vì già. Tất cả mọi người sinh ra đều phải chết. Khi bước đi một bước mà mình nhớ lại hình ảnh của những xác chết kia thì mình thấy rất rõ là mình đang còn sống, đang cử động, đang bước được những bước chân thì đó là những gì rất mầu nhiệm. Tự nhiên mình trân quý những bước chân và mình thấy hạnh phúc.

Thở vào, mình để ý tới hơi thở vào, đem tâm trở về với thân, thật sự có mặt trong giây phút hiện tại, bước một bước, mình tiếp xúc được với sự thật là mình chưa chết, mình vẫn còn sống. Mình bước một bước và nói: “Tôi bước cho anh đây. Anh cứng đơ không bước được”. Bước được một bước tại vì mình còn là một cơ thể đang sống, mình thấy đây là một sự thật rất là mầu nhiệm.

Trong khóa tu tại Mỹ, lúc ấy tôi đang ở tu viện Bích Nham thì nghe tin Sư thúc (*) nhập diệt. Tôi đã đi thiền hành cho Sư thúc. Sư thúc đã nhập tháp không còn đi được nữa và tôi đã đi cho Sư thúc, Sư thúc đã bước đi bằng đôi chân của tôi, những bước chân như vậy rất mầu nhiệm và tôi trân quý những bước chân mà mình đang bước. Bước một bước là thấy được tất cả sự mầu nhiệm của một cơ thể còn sống, đó là một niềm vui, một lạc thọ. Nhưng trong lạc thọ ấy mình tiếp xúc được cùng một vị với khổ thọ. Chính cái thấy về cái chết đã làm nổi bật lên cái thấy về cái sống. Nhìn kỹ một bông sen mình tiếp xúc được với bùn. Trong lạc thọ mình đang có, có chất đắng của khổ thọ ở trong, nhờ vậy mà lạc thọ càng rõ ràng hơn.

Cả tháng nay mỗi khi tôi thực tập mười động tác chánh niệm, tôi đều làm cho tất cả những xác chết trong phòng triển lãm ấy. Mỗi khi tôi đưa tay lên tôi quán tưởng tất cả những xác chết ấy cùng đưa tay lên một lượt với tôi. Tôi tiếp xúc với từng cảm thọ xảy ra trong từng bắp thịt. Quý vị thử đi! Thử đưa tay lên giùm họ đi, đưa tay dài thẳng lên, rồi từ từ buông xuống, hết sức là mầu nhiệm. Tôi đã quán chiếu như vậy suốt mười mấy phút tập thể dục của  mình. Cũng như khi tôi đi thiền hành cho Sư thúc, trong vị ngọt của lạc thọ có chứa đựng vị đắng của khổ thọ, trong sen có bùn. Bây giờ hình hài của Sư thúc nằm trong tháp, Sư thúc không đi thiền hành với mình nữa thì mình đi cho Sư thúc. Tôi nhớ lúc Sư thúc qua Làng Mai lần đầu, tôi đã đưa Sư thúc đi thiền hành khắp nơi, xóm Hạ, xóm Mới, xóm Thượng, Sơn Hạ. Sư thúc nói: “Đất chùa bên này lớn hơn cả cái xã Thủy Xuân bên chùa Tổ”. Sư thúc đã nếm được pháp môn thiền hành, đã thấy được pháp lạc khi đi từng bước chân. Có hình chụp Sư thúc đang nắm tay tôi đi thiền hành, rất đẹp. Sư thúc còn có cơ hội qua làng lần thứ hai và cũng đi thiền hành trên những con đường đó, rất mầu nhiệm. Bây giờ mình đi cho Sư thúc. Đi cho Sư thúc thì bước chân thiền hành của mình có phẩm chất hơn. Mình đi cho bất kỳ ai cũng được.

Mình cũng có thể đi cho mình, tại vì một ngày nào đó nếu không vào tháp thì mình cũng vào một chỗ khác thôi. Trong giai đoạn này mình đi cho mình ở những giai đoạn kia. Quý vị làm được không? Tôi đã làm rồi, rất là hay! Mình đừng đợi người khác đi cho mình, bây giờ mình đi cho mình đi! Quý vị có hiểu tôi muốn nói gì không? Đừng đợi sau khi mất, nằm xuống đó rồi sẽ có người đi cho mình. Bây giờ mình phải tự đi cho mình đi. Như vậy mỗi bước chân sẽ đem lại an lạc và hạnh phúc, rất là mầu nhiệm. Qua đó chúng ta khám phá ra một điều: trong vị ngọt của hạnh phúc luôn luôn có vị đắng của khổ đau.

Người hành giả phải có khả năng quản lý khổ đau của mình, nếu biết quản lý khổ đau thì sẽ có khả năng chế tác hạnh phúc. Khổ đau và hạnh phúc dính liền với nhau.
Người hành giả phải có khả năng quản lý khổ đau của mình, nếu biết quản lý khổ đau thì sẽ có khả năng chế tác hạnh phúc. Khổ đau và hạnh phúc dính liền với nhau.

Sống biết đủ trong mùa đại dịch là hạnh phúc nhất .Trong khi chơi đá bóng mà muốn có hạnh phúc thì mình phải nghĩ tới thời gian mình đau liệt giường liệt chiếu, không cựa quậy được. Mình nhảy lên, tung quả bóng lên rất hạnh phúc tại vì chính trên bối cảnh của khổ đau mà hạnh phúc được nhận diện rõ ràng.

Khi đã trải qua chiến tranh giặc giã rồi thì kinh nghiệm về chiến tranh là những hình ảnh của khổ đau. Được sống trong hoàn cảnh không có súng đạn, không có giết chóc mình đem cái hòa bình đó đặt trước bối cảnh của chiến tranh thì hòa bình hiện lên rõ ràng như một cái gì rất đáng quý. Nếu không thì chúng ta không biết trân quý hòa bình. Mình trân quý hòa bình từng giờ từng phút. Trong thời chiến tranh, lâu lâu người ta chấp nhận đình chiến trong vòng 24 giờ đồng hồ. Trong 24 tiếng đó nhiều người trong và ngoài nước thở được. Mình tưởng tượng cây cối cũng không có sợ hãi, dám vươn lên, mọc thêm, chứ đừng nói gì đến chim chóc và con người. 24 giờ hòa bình đó rất là nhiều, rất là hạnh phúc. Nếu ai đã đi ngang qua chiến tranh như chiến tranh Việt Nam ngày trước hay chiến tranh Iraq thì mình biết một ngày đình chiến vô cùng quý giá. Mình ước mong tại sao người ta không đình chiến thêm 24 giờ đồng hồ nữa?

Quý vị sinh ra vào thời bình, quý vị không thấy được sự quý giá của 24 giờ đình chiến. Tôi nhớ hồi đó, tôi bôn ba đi tranh đấu cho hòa bình, mỗi khi có 24 giờ đình chiến tôi thấy khỏe nhẹ vô cùng. Tôi biết trong giờ phút đó đồng bào ở nhà không có ai chết, súng đạn im hơi được 24 giờ. Mình hỏi tại sao loài người lại dại dột như vậy? Tại sao không kéo dài đình chiến trong vài ngày nữa? Có những thanh niên chưa biết chiến tranh là gì, chưa biết khổ đau của chiến tranh là gì nên họ không có khả năng thưởng thức và thấy được giá trị của hòa bình.

Trong Kinh Niệm Xứ, phần quán niệm về tâm trong tâm, chúng ta đọc: “Mỗi khi có tâm hành giận phát hiện thì hành giả biết có tâm hành giận đang hiện hữu. Mỗi khi có tâm hành tham dục phát hiện thì hành giả biết tâm hành tham dục đang có mặt”. Cố nhiên khi có tâm hành giận dữ hoặc đam mê phát hiện thì chúng ta phải nhận diện để ôm ấp và chuyển hóa chúng. Nhưng kinh cũng có nói: Mỗi khi không có tâm hành giận dữ thì mình phải  ý thức rằng, không có tâm hành giận dữ trong mình. Mỗi khi không có tâm hành tham đắm thì hành giả nói, không có tâm hành tham đắm trong tôi. Nếu không đọc kinh với tính cách của một hành giả thì chúng ta hỏi, tại sao lại phải nói dư ra như vậy: Khi có tham đắm thì biết là có tham đắm, khi không có tham đắm thì biết là không có tham đắm. Khi có giận dữ thì biết là có giận dữ, khi không có giận dữ thì biết là không có giận dữ. Trong kinh cứ lặp đi lặp lại như vậy, mình có cảm tưởng viết như vậy là dư thừa, nhưng kỳ thực không dư thừa chút nào. Khi quý vị không có tâm hành giận dữ thì nghĩa là quý vị có hạnh phúc, nhưng quí vị không biết đó là hạnh phúc, đến khi có tâm hành giận dữ phát hiện rồi thì mình mới biết rằng không có giận dữ là hạnh phúc. Trước đây mình tưởng không có giận dữ là bình thường, là không phải hạnh phúc. Hạnh phúc vốn là sự vắng mặt của khổ đau, cũng như hòa bình là sự vắng mặt của chiến tranh. Khi có đam mê thì mình khổ và khi không có đam mê là hạnh phúc nhưng mình không biết trân quý điều đó. Trong kinh nói: “Mỗi khi không có đam mê thì hành giả phải biết rằng, trong mình không có đam mê”. Mình phải nhớ, có đam mê thì khổ lắm. Câu “trong tôi không có đam mê” có nghĩa “có đam mê thì khổ lắm”.

Ở Làng Mai chúng ta hay nói tới chuyện đau răng. Nửa đêm lúc một, hai giờ khuya tự nhiên mình đau răng quá. Mình biết ông nha sĩ không mở cửa trước chín giờ sáng và mình phải chịu khổ từ bây giờ cho đến chín giờ sáng. Lúc đó mình giác ngộ ra sự thật: không đau răng là mầu nhiệm, không đau răng là hạnh phúc.  Theo nguyên tắc của kinh thì chúng ta thực tập như thế này: Khi đau răng thì tôi biết là tôi có đau răng, khi tôi không đau răng thì tôi phải biết là tôi không đau răng. Khi biết không đau răng thì tự nhiên mình có hạnh phúc. Cái không đau răng chỉ được nhận diện trên bối cảnh của cái đau răng cũng như hòa bình được nhận diện trên bối cảnh của chiến tranh mà thôi. Khổ đau và hạnh phúc dính liền nhau rất mật thiết, không khổ đau thì không nhận diện được hạnh phúc. Vì thế có kinh nghiệm, có ký ức về khổ đau rất quan trọng. Nếu quý vị đã từng khổ đau, đã từng đi qua khổ đau thì cái đó rất quý tại vì nhờ đó mà mình nhận diện được những giây phút hạnh phúc có thể có được. Vì vậy người hành giả phải có khả năng chế tác ra hạnh phúc, mình chỉ cần nhớ tới khổ đau của quá khứ là có thể tiếp xúc được với hạnh phúc trong hiện tại rồi. Mỗi giây phút của đời sống hàng ngày có thể là một giây phút hạnh phúc nếu mình đặt giây phút đó trên bối cảnh của khổ đau quá khứ và khổ đau hiện tại trong mình và xung quanh mình. Khi có nỗi khổ niềm đau mà mình biết cách xử lý và ôm ấp thì, tuy khổ đau còn đó nhưng mình đã hết khổ tại vì mình thấy rõ là mình có thể làm gì đó để xử lý khổ đau.

Có những người khổ đau mà cứ ngồi như vậy để chịu chết, để cho khổ đau tràn ngập, chế ngự, nghiến nát mình. Là hành giả, mình phải biết làm cái gì đó, mình có thể nói: Đây là bùn là cái mình rất cần để nhận diện và chế tác ra hoa sen. Chỉ cần thấy như vậy thì tình trạng thay đổi liền lập tức. Người hành giả phải có khả năng quản lý khổ đau của mình, nếu biết quản lý khổ đau thì sẽ có khả năng chế tác hạnh phúc. Khổ đau và hạnh phúc dính liền với nhau.

Tùy duyên – một triết lý sống của đạo Phật

Chưa hẳn thuận duyên sẽ đem lại giá trị hạnh phúc hay nghịch duyên sẽ mang tới khổ đau, bởi có khi nghịch duyên đưa tới sự trưởng thành, còn thuận duyên sẽ khiến ta yếu đuối… Tất cả đều tùy thuộc vào bản lĩnh và thái độ sống của ta.

Trong đạo Phật, tùy duyên là biết chấp nhận những gì xảy ra trong hiện tại và bình thản chờ đợi nhân duyên thích hợp hội tụ.

Có câu chuyện kể rằng, ngày tam phục – mùa mà cái nóng oi bức nhất trong năm, cả vườn cỏ của thiền viện đã trở thành một thảm cỏ khô vàng.

“Phát dọn cho sạch sẽ đám cỏ này đi, thế này thì thật là khó coi quá!” Chú tiểu nói.

“Đợi trời mát đã.” Sư phụ vẫy vẫy tay, “Tùy thời”.

Trung thu, Sư phụ lại mua về một bao hạt cỏ giống, gọi chú tiểu đem bao hạt giống này đi gieo. Gió mùa thu trỗi lên và cuốn đi những hạt giống vừa gieo. “Không xong rồi! Các hạt giống bị gió thổi bay đi cả rồi”, chú tiểu kêu la.

“Thôi đi con, không sao đâu, hạt giống vẫn còn rất nhiều, gió cuốn đi cũng không mọc được.” Sư phụ nói, “Tùy tính”.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Sau khi cơn gió đã lấy đi những hạt giống, tiếp theo lại có mấy chú chim đáp xuống mổ ăn. “Chết rồi! Hạt cỏ giống lại bị chim ăn hết rồi!” chú tiểu vừa nhảy vừa la.

“Không sao! Hạt giống còn nhiều, ăn không hết đâu!” Sư phụ nói, “Tùy ngộ”.

Nữa đêm lại bị một trận mưa dữ dội. Vừa mờ sáng chú tiểu vội vã chạy vào phòng thầy: “Sư phụ, lần này thì xong thật rồi! Những hạt giống bị mưa cuốn trôi hết rồi”

“Trôi đến đâu, thì nó sẽ mọc ở đó.” Sư phụ nói, “Tùy duyên”.

Hơn nữa tháng sau, một vùng đất trơ trụi lúc trước giờ lại mọc lên những mầm cỏ non xanh biên biết, có một số ngốc ngách không hề gieo trồng nhưng vẫn mọc lên xanh rờn. Chú tiểu vỗ tay và vô cùng vui sướng.

Sư phụ gật gật đầu: “Tùy hỷ”.

Tùy ngộ, tùy duyên, tùy an, tùy hỷ là 4 trạng thái tiêu biểu cho cuộc sống con người. “Tùy ngộ mà an”, nhiều khi chính thái độ bình thản chờ đợi ấy lại là nhân duyên quan trọng để kết nối với những nhân duyên tốt đẹp khác.

Người ta thường gọi nhân duyên tốt là thuận duyên, và nhân duyên xấu là nghịch duyên. Thế nhưng đã là nhân duyên thì không có thuận nghịch, tốt xấu. Và thuận duyên chưa hẳn sẽ đem lại giá trị hạnh phúc hay nghịch duyên sẽ mang tới khổ đau, bởi có khi nghịch duyên đưa tới sự trưởng thành, còn thuận duyên sẽ khiến ta yếu đuối. Cuộc sống bất biến, bởi vậy nhiều khi thuận duyên ban đầu nhưng lại biến thành nghịch duyên sau này, có khi nghịch duyên bây giờ nhưng lại biến thành thuận duyên trong tương lai. Tất cả đều tùy thuộc vào bản lĩnh và thái độ sống của ta.

Thay vì thay đổi nhân duyên mà mình không hài lòng, bạn hay cố gắng tìm kiếm những nhân duyên mà mình mong đợi.

Thay vì thay đổi nhân duyên mà mình không hài lòng, bạn hay cố gắng tìm kiếm những nhân duyên mà mình mong đợi.

Tuỳ duyên không có nghĩa là phó mặc bởi cuộc sống luông có những mối quan hệ tác động qua lại , ảnh hưởng lẫn nhau. Vậy, trước khi tin vào tùy duyên không có nghĩa là bạn ngừng cố gắng bởi làm vậy có nghĩa là bạn đã lựa chọn từ bỏ cơ hội của mình. Khi bạn đã chấp nhận “tuỳ duyên” thì việc duyên đến, duyên đi thế nào cũng là kết quả tất yếu cho những gì bạn đã lựa chọn.

Tùy duyên là cách sống chứ không phải chỉ là lý thuyết xuông. Tùy duyên trong cuộc sống là sống mà không câu nệ và chấp trước bất cứ một sự việc nào dù đó là thuận hay nghịch trong cuộc sống. Những việc đã và đang diễn ra trong cuộc sống chúng ta đều là những bài học làm tăng thêm vốn kinh nghiệm cho bản thân dù đó là những việc tốt hay xấu, đem đến thành công hay thất bại.

Bởi vậy, thay vì thay đổi nhân duyên mà mình không hài lòng, bạn hay cố gắng tìm kiếm những nhân duyên mà mình mong đợi. Khi tìm được sức sống từ nơi chính mình rồi thì bạn sẽ không còn coi trọng những giá trị bên ngoài.

Nhân duyên nào cũng được cả bởi biết đâu được những thất bại của bạn lại là sự may mắn tuyệt vời.

Ái ngữ và lắng nghe

Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm gây ra, con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người.

Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói những điều sai với sự thật, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều con không biết chắc. Con nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Nhiều người nghĩ rằng họ chỉ có thể thực tập hạnh Thí khi nào họ đã tích tụ được một món tài sản nho nhỏ. Tôi biết những người trẻ mơ được giàu có để có thể mang hạnh phúc lại cho người khác: ‘Tôi muốn trở thành bác sĩ hay thành chủ tịch một công ty lớn để có thể làm thật nhiều tiền và giúp nhiều người.’ Họ không biết rằng thường khi đã giàu người ta lại khó thực tập hạnh Thí hơn. Nếu ta được thúc đẩy bởi từ bi thì có rất nhiều cách để mang hạnh phúc lại cho kẻ khác ngay bây giờ, bắt đầu bằng ngôn ngữ thân ái. Cách ta nói có thể mang lại cho người khác niềm vui, hạnh phúc, sự tự tin, hy vọng, lòng tin, và giác ngộ. Nói năng có chánh niệm là một thực tập sâu sắc.

Bồ Tát Quan Thế Âm là một người đã học được nghệ thuật nghe và nói một cách sâu sắc để giúp người ta buông đi những sợ hãi, khổ đau, và tuyệt vọng của mình. Ngài là mẫu mực của phép tu tập này, cánh cửa Ngài mở ra gọi là ‘Phổ Môn’, cánh cửa mở ra tất cả. Nếu chúng ta thực tập nghe và nói theo hạnh Bồ Tát Quan Thế Âm, ta cũng sẽ có thể mở được cánh cửa Phổ Môn và mang niềm vui, an lạc đến cho bao người và làm vơi đi nỗi lầm than của họ.

“Phổ Môn vọng tiếng triều dâng

Bé thơ xuất hiện giữa lòng đoá sen

Cam Lộ một giọt rưới lên

Xuân về trên khắp mọi miền núi sông”.

Nếu đang đau đớn vì mất người thân nhất định phải nghe lời Phật dạy sau đây

Câu chuyện về Đức Phật giúp người phụ nữ thoát khỏi nỗi đau mất con để lại tính nhân văn sâu sắc cho tất cả chúng sinh nhưng vì mất mát quá lớn nên không phải ai cũng hiểu ra được.

Chuyện bà mẹ mất con mong Đức Phật cứu giúp

Có lần Đức Phật đi giảng pháp, có bà mẹ ôm đứa con thơ vừa mới mất đòi gặp và cầu xin Ngài làm phép để con mình sống lại, bà nói:

– Con của con đã chết, con làm sao bây giờ, Ngài hãy giúp con. Hãy cứu nó sống dậy! Ngài là chúa tể của sự sống chết, đã vượt qua sự sống chết. Hãy cứu chúng con.

Nó là niềm vui của gia đình. Từ nhiều năm nay, chúng con không mong gì hơn là được đứa con. Bây giờ nó chết vì một thứ bệnh hiểm nghèo. Hãy mang ánh sáng lại trong mắt của nó. Hãy công bằng. Đứa con nhỏ tuổi này chết đi quá sớm.

Ngài ôn tồn nói:- Hãy nghe ta, nàng hãy đi từ nhà này qua nhà khác trong đô thị này và hãy xin một hạt cải của một nhà chưa có ai chết. Hãy mang hột cải về đây và để xem ta có thể làm gì được không?

Với niềm tin và lòng thương con vô bờ bến, bà dành cả ngày để gõ cửa từng nhà, gần như không có ngôi nhà nào bà không hỏi xin hạt cải và không quên hỏi xem nhà họ có ai qua đời không. Có người vì quá cảm động về tình mẫu tử này đã cho vài hạt cải với lời đề nghị giấu chuyện trong nhà có người chết.

Trời nhá nhem tối, bà vẫn không tìm được nhà nào thỏa mãn yêu cầu của Đức Phật, bà chợt hiểu ra rằng chẳng có hạt cải nào được cất chứa trong một ngôi nhà chưa có ai chết vì sự thật là ai cũng như bà, từng chịu cảnh đau đớn vì người thân qua đời. Vì thế, bà mới bắt đầu chấp nhận sự thật rằng mình đã mất đứa con thơ, không còn cách gì cứu nổi.

Đức Phật giúp người phụ nữ thoát khỏi nỗi đau mất con để bà hiểu rằng cuộc sống này luôn có những điều bất như ý và ta vẫn phải chấp nhận, phải tiếp tục sống, không để những mất mát khiến ta tự hủy hoại đi cuộc sống của chính mình.

Đức Phật giúp người phụ nữ thoát khỏi nỗi đau mất con

Thôi bám víu quá khứ để ta có thể bước tiếp

Nỗi đau mất người thân và đặc biệt là mất con sẽ không có gì so sánh nổi, là một trong những áp lực quá đáng sợ khiến trạng thái thần kinh căng thẳng nhất mà con người phải chịu đựng.

Hoặc có trường hợp người thân ra đi đột ngột, khi tuổi đời còn quá trẻ hoặc chết trong hoàn cảnh đau đớn, bi thảm luôn khiến người ở lại cảm thấy đau khổ, dằn vặt thậm chí là oán hận, trách móc. Nỗi đau thấu trời, xé ruột xé gan tưởng rằng lúc đó ta có thể chết theo, không thể sống nổi nữa.

Thế nhưng nên hiểu rằng ta buông xuôi tức là ta bỏ cuộc, chịu thua cuộc sống này. Trong khi đâu phải có duy nhất ta từng rơi vào tình cảnh đó, trong cuộc đời, chắc hẳn ai cũng từng trải qua nỗi đau này và họ vẫn có thể vượt qua đấy thôi. Họ làm được thì ta cũng nhất định sẽ làm được.

Hơn nữa, khi ta hiểu sâu về nhân quả, ta biết rằng, luật nhân quả là cán cân công lý, do đó không có gì là ngẫu nhiên hay xui xẻo. Tất cả là do duyên nghiệp của chính người đó đã tạo ra trong quá khứ và cả hiện tại. Do đó, thay vì thái độ đối kháng, oán hận thì nên biết chấp nhận hoàn cảnh của mình.

Ta chọn thái độ sống tỉnh thức, an trú trong hiện tại sẽ mở ra chân trời mới được khơi nguồn từ tình yêu bất tận, tự do khôn cùng, và hạnh phúc tràn ngập, không nên truy tìm quá khứ làm gì. Vì một cuộc sống không bằng chết thì quả là phí hoài cả đời người chỉ vì một việc đã qua hay người thân đã mất.

Sự thật là nếu ta có dừng lại, cuộc sống luôn tiếp diễn với những điều kỳ diệu đang và sẽ xảy ra xung quanh chúng ta. Cách duy nhất để giúp những người thân yêu đã mất của mình được thanh thản là làm các việc phước thiện để hồi hướng công đức cho họ. Việc chúng ta chìm trong đau khổ, than khóc, oán hận không giúp ích được những người đã mất mà còn làm chính mình bị tiêu hao sức khỏe, ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình và những người xung quanh.

Hiểu những điều này chúng ta sẽ giảm đi nỗi đau mất mát

Học Phật để biết buông đúng lúc
Đức Phật giúp người phụ nữ thoát khỏi nỗi đau mất con thông qua việc tìm hạt cải trong nhà của những ai chưa từng có người thân qua đời cũng đã giúp ta nhận ra rằng, cuộc sống này thật giả khó tỏ tường vì thế đừng bám chấp quá lâu với nỗi đau đang hiện hữu là do:

1. Mọi thứ đều là vô thường

Lời Phật dạy về vô thường đã chỉ cho chúng ta thấy rõ bản chất của sự vật không hề như cách chúng ta biết, mọi thứ đều liên tục thay đổi và trạng thái hình dáng ban đầu sẽ liên tục biến đổi. Ví dụ nay ta có thể đau đớn tưởng chết đi được nhưng ngày mai nỗi đau đó đã nguôi ngoai, thời gian sau thì chúng chỉ là kỷ niệm buồn đã qua.

Vì thế, đừng bị đánh lừa bởi sự cố định tạm thời, không nhìn thấy được tính vô thường của sự vật, từ đó mà bám chấp, tự gây phiền não cho chính mình.

2. Khỏe mạnh nhưng rồi cũng phải qua đời

Ai trong chúng ta cũng mong mình khỏe mạnh, cố gắng tập luyện để duy trì vóc dáng đẹp nhưng ta có khỏe, có cường tráng thế nào, cuối cùng đều có một ngày ta cũng phải vĩnh biệt cuộc sống này.

Một người được ca ngợi là sống thọ cũng không trường sinh bất lão, cuối cùng vẫn phải đối diện với cái chết.

3. Của cải chất chồng rồi cũng tan biến

Con người vì quá tham lam mà trong đầu lúc nào cũng nghĩ đến tiền, cố gắng vơ vét của cải về mình mà họ quên rằng nếu chết đi rồi họ cũng chẳng mang được theo. Dù người giàu hay kẻ nghèo đến lúc lâm chung thì cũng trắng tay như nhau mà thôi.

Có người lấy của cải thuộc về người khác tưởng rằng để sung sướng ai ngờ khuynh gia bại sản. Đó chính là sự vô minh khiến họ gieo rắc thêm tội lỗi cho mình nhưng kết cục thì chẳng được gì. Vì thế, càng tham thì càng dễ mất mà có khi khù khờ lại được Thánh nhân che chở.

Cho nên, ngay khi còn sống trên cõi đỡi này, hãy bố thí hành thiện, giúp người cứu nguy, điều bạn đạt được còn quý hơn cả tiền bạc, của cải nữa đấy.

4. Có hợp ắt có tan

Trong cuộc đời này có hợp ắt sẽ có tan, dù ta cố nắm giữ điều gì cũng không được, kể cả, cha mẹ vợ chồng, bạn bè thân hữu, hợp rồi lại tan. Vì thế, hãy thôi đau khổ vì điều đó mà nên chấp nhận nó, suy nghĩ lạc quan về nó để cuộc sống thêm nhẹ nhàng, an nhiên.

Nhất là trong chuyện tình cảm lại càng như thế, duyên đến duyên đi hãy thuận theo tự nhiên mà đối đãi, duyên đến thì đón mà duyên đi thì cũng nhẹ bước tiễn đi.

Lời Phật dạy: Càng giàu, sung sướng, hạnh phúc càng không được quên 5 nguy cơ này
Hành thiện dễ dàng hơn với 3 điều được Đức Phật lưu ý sau đây

 

Hùng Lâm

Đọc nhiều

Cần điều tra clip và xử lý cán bộ đòi chôn sống nhà sư.

Giữa lúc cơn khủng hoảng truyền thông Phật giáo đang leo thang vì những bài báo lá cải tiếp tục bồi bút sau khi...

Sự thật về người quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao...

Ngày 13/3/2021, ngay sau khi báo Thanh Niên Online đưa tin: ”Quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao cấu trẻ em:...

Cần Lên Án Báo Tuổi Trẻ Khi Đem Phật Giáo Ra Biếm Họa

Ngày 15/1/2020, Tuổi Trẻ Online đã có sự can thiệp chỉnh sửa lại thông tin đăng tải, buộc lòng phải lên tiếng xin lỗi...

Khai tôn giáo trong căn cước công dân, phải có “giấy chứng nhận xuất...

 Đây là một thắc mắc lớn mà người viết đã nhiều lần đặt ra trong khi trực tiếp thực hiện các thủ tục liên...