Thứ Hai, Tháng Chín 20, 2021

Kiến thức-Nghiên cứu

Giáo sư Trịnh Xuân Thuận nói về Khoa học và Phật giáo

Với tư cách là nhà vật lý thiên văn nghiên cứu sự hình thành và tiến hóa của các thiên hà, công việc khiến tôi thường xuyên phải tự vấn về các khái niệm như thực tại, vật chất, thời gian và không gian…

Là một người Việt Nam lớn lên trong truyền thống Phật giáo, tôi không thể không tự hỏi rằng Phật giáo nhìn nhận các khái niệm này như thế nào. Nhưng tôi không chắc rằng một phương pháp nhằm đối chiếu khoa học và Phật giáo có thể có một ý nghĩa nào đó.

Tôi biết, trước hết, khía cạnh thực tiễn của Phật giáo là giúp người ta hiểu được được chính mình, tấn tới về tinh thần, trở thành một người tốt hơn. Đối với tôi, Phật giáo trước hết là một con đường dẫn đến Giác ngộ, một hoạt động chiêm nghiệm với cái nhìn chủ yếu hướng nội. Hơn nữa, khoa học và Phật giáo sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực tại một cách hoàn toàn khác nhau.

Trong khoa học, trí tuệ và lý trí đóng vai trò chính. Bằng cách phân chia, phân loại, phân tích, so sánh và đo đạc, nhà khoa học biểu diễn các quy luật của tự nhiên bằng thứ ngôn ngữ hoàn thiện là toán học. Trực giác chắc chắn không vắng bóng trong khoa học, nhưng nó chỉ có ích nếu nó có thể hòa chảy vào một phát biểu toán học chặt chẽ.

Tôi biết, trước hết, khía cạnh thực tiễn của Phật giáo là giúp người ta hiểu được được chính mình, tấn tới về tinh thần, trở thành một người tốt hơn.
Tôi biết, trước hết, khía cạnh thực tiễn của Phật giáo là giúp người ta hiểu được được chính mình, tấn tới về tinh thần, trở thành một người tốt hơn.

Ngược lại, trực giác – trải nghiệm bên trong – lại đóng vai trò hàng đầu trong phương pháp chiêm nghiệm. Nó không cố gắng phân đoạn thực tại, mà tìm cách lĩnh hội thực tại trong tổng thể của nó. Phật giáo không sử dụng các dụng cụ đo đạc cũng như các quan sát tinh vi vốn cung cấp cơ sở thực nghiệm cho khoa học.

Các phát biểu của Phật giáo có bản chất định tính hơn là định lượng. Tôi đồ rằng Phật giáo chỉ có rất ít thứ để nói về bản chất của thế giới hiện tượng, vì đó không phải là mối bận tâm chính của Phật giáo, trong khi đó nó lại là mối quan tâm cơ bản của khoa học.

Nhiều thí nghiệm vật lý đã chỉ cho chúng ta thấy tính tổng thể của thực tại này. Trong thế giới nguyên tử và dưới nguyên tử, các thí nghiệp kiểu EPR (xem mục từ này) nói với chúng ta rằng thực tại là “bất khả tách”, rằng hai hạt ánh sáng đã tương tác với nhau vẫn sẽ tiếp tục là bộ phận của một và chỉ một thực tại: dù khoảng cách giữa chúng có là bao nhiêu chăng nữa, thì hành trạng của chúng cũng tương liên tức thì mà không cần bất kỳ một sự truyền thông tin nào. Còn về thế giới vĩ mô, tính tổng thể của nó đã được chứng minh bằng con lắc Foucault (xem mục từ này) có hành trạng không phải phù hợp với môi trường địa phương, mà là với toàn vũ trụ. Cái được tổ chức trên Trái đất chúng ta đã được quyết định trong mênh mông bao la của vũ trụ.

Khái niệm sự phụ thuộc lẫn nhau nói rằng các sự vật hiện tượng không thể được định nghĩa một cách tuyệt đối, mà chỉ tương đối so với các sự vật hiện tượng khác. Về bản chất, chính ý tưởng này cũng là định nghĩa của nguyên lý tương đối về chuyển động trong vật lý, được Galileo phát hiện, và sau đó được Einstein lấy lại và phát triển lên tột đỉnh.

“Chuyển động như không”, Galileo từng nói. Ý ông muốn nói ở đây là chuyển động của một vật không thể được xác định một cách tuyệt đối, mà chỉ là so với chuyển động của một vật khác. Không một thí nghiệm hay phép đo nào được thực hiện bởi một hành khách trên một toa tầu chạy không có tiếng động với vận tốc không đổi và tất cả các rèm cửa sổ đều được buông xuống khiến anh ta không thể biết được toa tầu của mình đang đứng im hay chuyển động.

Chỉ bằng cách kéo rèm lên và nhìn khung cảnh trôi qua thì hành khách đó mới nhận ra. Chừng nào còn chưa có một sự quy chiếu với bên ngoài, thì chừng ấy chuyển động là tương đương với không chuyển động. Phật giáo nói: các sự vật không có tồn tại tự thân, mà chỉ có so với các sự kiện khác. Còn nguyên lý tương đối nói: chuyển động chỉ có thực tại so với khung cảnh trôi qua.

Thời gian và không gian cũng đã mất đi tính tuyệt đối mà Newton đã trao cho chúng (xem: Không-thời gian). Einstein nói với chúng ta rằng chúng chỉ có thể được định nghĩa một cách tương đối, tức là đối với chuyển động của người quan sát và cường độ của trường hấp dẫn tại nơi mà anh ta đang ở.

Tại điểm kỳ dị của một lỗ đen (xem mục từ này), lực hấp dẫn mạnh tới mức ngay cả ánh sáng cũng không thể thoát ra khỏi, thì một giây có thể dài bằng cả thiên thu. Giống như Phật giáo, thuyết tương đối nói rằng sự trôi của thời gian, với một quá khứ đã qua và một tương lai còn chưa tới, chỉ là ảo giác, vì tương lai của tôi có thể là quá khứ của một người khác và là hiện tại của một người thứ ba: tất cả phụ thuộc vào chuyển động tương đối của chúng ta. Thời gian không trôi, nó đơn giản chỉ tồn tại ở đó mà thôi.

Tôi đồ rằng Phật giáo chỉ có rất ít thứ để nói về bản chất của thế giới hiện tượng, vì đó không phải là mối bận tâm chính của Phật giáo, trong khi đó nó lại là mối quan tâm cơ bản của khoa học.
Tôi đồ rằng Phật giáo chỉ có rất ít thứ để nói về bản chất của thế giới hiện tượng, vì đó không phải là mối bận tâm chính của Phật giáo, trong khi đó nó lại là mối quan tâm cơ bản của khoa học.

Bắt nguồn trực tiếp từ khái niệm phụ thuộc lẫn nhau mà có khái niệm trống rỗng. Trống rỗng không có nghĩa là hư không, mà là sự vắng bóng tồn tại riêng. Bởi vì tất cả phụ thuộc lẫn nhau, nên không gì có thể được xác định cũng như tồn tại tự thân. Khái niệm về các tính chất nội tại tồn tại tự chính chúng và bởi chính chúng cũng không còn đúng nữa.

Nhưng chú ý! Phật giáo không nói rằng các sự vật không tồn tại, bởi vì chúng ta có trải nghiệm về nó. Phật giáo không có thái độ hư vô mà người ta thường gán một cách sai lầm cho nó. Phật giáo khẳng định rằng sự tồn tại này là không tự lập, mà phụ thuộc lẫn nhau, và như vậy tránh được quan điểm duy vật về thực tại.

Phật giáo chấp nhận quan điểm trung dung, theo đó một hiện tượng không có tồn tại tự lập, nhưng không vì thế mà không tồn tại, và có thể tương tác và vận hành theo các quy luật nhân quả: đó là điều mà Phật giáo gọi là “Trung Đạo” vậy.

Một lần nữa, vật lý lượng tử cung cấp cho chúng ta một ngôn ngữ tương đồng một cách đáng ngạc nhiên. Theo Bohr và Heisenberg, chúng ta không thể nói về các nguyên tử hay electron như các thực thể thực có các tính chất rất xác định, như vận tốc hay vị trí nữa.

Chúng ta phải xem chúng như tạo thành một thế giới không có các vật và các sự kiện nữa, mà chỉ có các tiềm năng. Chính bản chất của vật chất và của ánh sáng cũng trở thành một trò chơi của các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau: nó không còn có tính chất nội tại nữa, mà có thể thay đổi bởi tương giác giữa người quan sát và vật được quan sát. Bản chất này không còn duy nhất nữa, mà là lưỡng tính và bổ sung cho nhau.

Hiện tượng mà chúng ta gọi là “hạt” lại có dạng sóng khi người ta không quan sát nó. Nhưng ngay khi có phép đo hay quan sát, là nó lập tức khoác trở lại tấm áo hạt. Nói về một hiện thực nội tại đối với một hạt, một hiện thực tồn tại mà ta không quan sát nó, là không có nghĩa, vì người ta không bao giờ có thể lĩnh hội được nó.

Tán đồng quan niệm của Phật giáo về samskara (nghĩa là “sự kiện”), cơ học lượng tử tương đối hóa một cách triệt để khái niệm vật bằng cách bắt nó phụ thuộc vào khái niệm đó, nghĩa là khái niệm sự kiện.

Hơn nữa, sự nhòe mờ lượng tử áp đặt một giới hạn cơ bản cho sự chính xác của phép đo hiện thực này: sẽ luôn tồn tại một sự bất định nào đó hoặc là trong vị trí, hoặc là trong vận tốc của một hạt. Vậy là vật chất đã mất đi thực thể (substance) của nó.

Quan niệm của Phật giáo về sự phụ thuộc lẫn nhau là đồng nghĩa với trống rỗng, đến lượt nó, trống rỗng lại đồng nghĩa với vô thường. Thế giới như một luồng khổng lồ các sự kiện và các dòng chảy động, tất cả đều kết nối với nhau và tương tác liên tục với nhau.

Quan niệm về sự thay đổi liên tục và hiện diện khắp nơi này giống với những điều mà vũ trụ học hiện đại nói. Tính bất biến của trời theo Aristotle và vũ trụ tĩnh của Newton không còn nữa. Tất cả đều chuyển động, tất cả đều thay đổi, và tất cả đều là vô thường, từ nguyên tử nhỏ nhất cho tới các thiên hà, các ngôi sao, con người và toàn vũ trụ.

Được đẩy bởi một vụ nổ khởi thủy, vũ trụ loãng dần đi. Bản chất động này được mô tả trong các phương trình của thuyết tương đối. Với lý thuyết Big Bang, vũ trụ có một lịch sử. Nó có một khởi đầu, một quá khứ, một hiện tại và một tương lai. Một ngày nào đó nó sẽ chết trong một lò lửa địa ngục cháy rừng rực hoặc trong sự lạnh lẽo băng giá.

Tất cả các cấu trúc của vũ trụ – các hành tinh, sao, thiên hà hay đám thiên hà – cũng đều chuyển động liên tục và tham gia vào một vũ điệu vũ trụ khổng lồ (xem mục từ này): chuyển động quay quanh mình nó, quay quanh các thiên thể khác, rời xa hay sáp lại gần nhau. Chúng cũng có một lịch sử: chúng sinh ra, tiến hóa và chết. Các sao tuân theo các chu kỳ sinh tử đo bằng hàng triệu, thậm chí hàng tỉ năm

Thế giới nguyên tử và dưới nguyên tử cũng không là ngoại lệ. Cả ở đó cũng vậy, tất cả đều vô thường. Các hạt có thể thay đổi bản chất: một quark (viên gạch cơ bản của vật chất) có thể thay đổi họ hoặc “vị”, một proton có thể trở thành một nơtron kèm theo sự phát ra một positon (phản hạt của electron) và một nơtrino (xem mục từ này), vật chất có thể biến thành năng lượng thuần túy.

Chuyển động của một hạt có thể biến thành hạt, hoặc ngược lại. Nói cách khác, tính chất của một vật có thể biến thành vật. Nhờ sự mờ nhòe lượng tử của năng lượng, không gian bao quanh chúng ta có một số lượng lớn không thể tưởng tượng nổi các hạt gọi là “ảo”, tồn tại hư ảo và ngắn ngủi. Xuất hiện và biến mất trong các chu kỳ sinh tử vô cùng ngắn, chúng là những bằng chứng rõ ràng nhất của sự vô thường.

Khi trình bày các quan niệm tương đồng này về thực tại, ở đây tôi không hề có ý định gán cho khoa học các dấu ấn thần bí cũng như không hề bênh vực Phật giáo bằng các phát minh của khoa học. Khoa học vận hành một cách hoàn hảo và đạt được mục địch mà nó đã đề ra (hiểu được các hiện tượng) mà không hề cần một giá đỡ triết học nào của Phật giáo hay của một tôn giáo nào khác.

Phật giáo, bản thân nó, là một khoa học về Giác ngộ, và dù Trái đất có quay quanh Mặt trời hay ngược lại cũng chẳng làm thay đổi gì. Nhưng bởi vì khoa học và Phật giáo đều đại diện cho một cách tìm kiếm chân lý mà các tiêu chí của chúng đều là: xác thực, chặt chẽ và logic, cách nhìn nhận thực tại tương ứng của chúng chắc không dẫn đến sự đối lập không thể giải quyết được mà, ngược lại, sẽ bổ sung cho nhau một cách hài hòa. Tôi chỉ có thể tán đồng với nhà vật lý Werner Heisenberg khi ông viết: “Tôi cho rằng tham vọng vượt qua các mặt đối lập, bằng cách đưa vào sự tổng hợp thâu tóm cả sự hiểu biết lý tính và trải nghiệm thần bí về sự thống nhất, là mythos, là sự tìm kiếm, được nói ra hay không nói ra, của thời đại chúng ta”.

Sau các tranh luận với Matthieu Ricard, tôi càng khâm phục cách Phật giáo phân tích thế giới các hiện tượng. Phật giáo thực hiện điều đó một cách sâu sắc và độc đáo. Nhưng không được quên rằng mục đích tối hậu của khoa học và của Phật giáo là không giống nhau. Khoa học dừng lại ở nghiên cứu và giải thích các hiện tượng, trong khi đối với Phật giáo mục đích là chữa trị.

Tôi đồ rằng Phật giáo chỉ có rất ít thứ để nói về bản chất của thế giới hiện tượng, vì đó không phải là mối bận tâm chính của Phật giáo, trong khi đó nó lại là mối quan tâm cơ bản của khoa học.
Tôi đồ rằng Phật giáo chỉ có rất ít thứ để nói về bản chất của thế giới hiện tượng, vì đó không phải là mối bận tâm chính của Phật giáo, trong khi đó nó lại là mối quan tâm cơ bản của khoa học.

Bằng cách lĩnh hội bản chất thực của thế giới vật lý, chúng ta có thể giải phóng mình khỏi những đau khổ sinh ra từ sự chấp trước của chúng ta với thực tại biểu kiến của thế giới bên ngoài và tiến lên con đường Giác ngộ.

Khoa học, bản thân nó là trung tính: nó không quan tâm đến đạo đức hay luân lý; những ứng dụng kỹ thuật của nó có thể là thiện hoặc ác đối với chúng ta. Ngược lại, sự chiêm nghiệm có mục đích là tạo những biến đổi bên trong chúng ta và phát triển trong chúng ta lòng trắc ẩn, để chúng ta có khả năng giúp đỡ người khác.

Khoa học sử dụng các công cụ ngày càng hoàn thiện hơn, nhưng trong chiêm nghiệm, tinh thần là công cụ duy nhất. Chiêm nghiệm xem xét sự vận hành của các tư tưởng và tìm cách hiểu các tư tưởng này xâu chuỗi với nhau như thế nào để cuối cùng gắn kết với nó. Nó quan sát các cơ chế của hạnh phúc và đau khổ, và cố gắng nhận diện các quá trình tinh thần mang lại sự bình yên bên trong và sự thỏa mãn, để phát triển chúng và những quá trình, ngược lại, phá hủy sự bình yên đó, để loại trừ chúng.

Khoa học mang lại cho chúng ta thông tin, nhưng không có liên quan gì với sự tiến bộ về tính thần cũng như sự thay đổi bên trong của chúng ta. Ngược lại, cách tiếp cận chiêm nghiệm phải gây ra trong chúng ta một sự thay đổi cá nhân sâu sắc trong cách tri giác thế giới và tác động lên thế giới. Phật tử, khi ý thức được rằng các vật không tồn tại một cách tự lập, đã giảm bớt sự chấp trước của mình với chúng, và như vậy sẽ làm cho người đó bớt đau khổ hơn. Trước cùng một nhận định, nhà khoa học bằng lòng với việc coi nó như một tiến bộ trí tuệ mà không đặt vấn đề xem xét lại thế giới quan sâu sắc cũng như cách sống của mình.

Mặc dù bận rộn nghiên cứu và giảng dạy khoa học, nhưng ông Einstein vẫn dành thời gian nhất định để nghiên cứu triết học và tôn giáo, đặc biệt trong đó có Đạo Phật. Với nhiều trích dẫn lời phát biểu nổi tiếng của ông về Đạo Phật.

Mặc dù bận rộn nghiên cứu và giảng dạy khoa học, nhưng ông Einstein vẫn dành thời gian nhất định để nghiên cứu triết học và tôn giáo, đặc biệt trong đó có Đạo Phật. Với nhiều trích dẫn lời phát biểu nổi tiếng của ông về Đạo Phật.

Trước các vấn đề đạo đức hay luân lý cấp thiết – chẳng hạn như trong lĩnh vực di truyền – nhà khoa học phải cần đến tâm linh để giúp anh ta không quên nhân tính của mình. Einstein đã thể hiện điều đó hết sức đáng khâm phục: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ. Nó sẽ phải vượt lên trên ý tưởng về một Thiên Chúa nhân hóa, và thoát khỏi các giáo điều và thần học. Bao trùm cả cái tự nhiên lẫn cái tinh thần, nó sẽ phải dựa trên một ý nghĩa tôn giáo sinh ra từ sự trải nghiệm tất cả các sự vật, tự nhiên cũng như tinh thần, coi như một tổng thể có ý nghĩa… Phật giáo đáp ứng được mô tả này… Nếu tồn tại một tôn giáo có thể phù hợp với các đòi hỏi cấp bách của khoa học hiện đại, thì đó chính là Phật giáo”.

Giáo sư Trịnh Xuân Thuận là một trong những nhà vật lý thiên văn nổi tiếng trên thế giới, ông sinh ra tại Hà Nội, lớn lên ở TP.HCM. Năm 19 tuổi, Trịnh Xuân Thuận sang Thụy Sĩ, rồi nhận học bổng tại Mỹ.

 

Giáo sư Trịnh Xuân Thuận
Giáo Sư Trịnh Xuân Thuận

Ông là một nhà vật lý thiên văn cho ra mắt bạn đọc nhiều cuốn sách nổi tiếng như: Giai điệu bí ẩn, Và con người tạo nên vũ trụ, Hỗn độn và hài hoà, Cái vô hạn trong lòng bàn tay, Vũ trụ và hoa sen, Từ điển yêu thích bầu trời và các vì sao…

Trong đó, Số phận của vũ trụ – Big Bang và sau đó xuất bản năm 1992 được dịch ra 20 thứ tiếng trên thế giới.

GS Trịnh Xuân Thuận

Lời Phật dạy về hai hạng người chìm trong nước

“Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, ở trong Thắng Lâm vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

Ta sẽ giảng cho các ngươi nghe về bảy hạng người như ví dụ về nước. Các ngươi hãy lắng nghe, và khéo suy nghĩ.

Là người Phật tử chúng ta nên đọc, hiểu và thực hành lời Phật dạy để áp dụng vào trong cuộc sống, suy nghĩa và hành động của mình.

Là người Phật tử chúng ta nên đọc, hiểu và thực hành lời Phật dạy để áp dụng vào trong cuộc sống, suy nghĩa và hành động của mình.

Những gì là bảy?

1- Hoặc có người nằm mãi dưới nước.

2- Hoặc có một hạng người ra khỏi nước rồi chìm trở lại.

3- Hoặc có người ra khỏi nước rồi đứng.

4- Hoặc có người ra khỏi nước rồi đứng, đứng rồi nhìn quanh.

5- Hoặc có người ra khỏi nước rồi đứng, đứng rồi nhìn quanh, nhìn rồi lội qua.

6- Hoặc có người ra khỏi nước rồi đứng; đứng rồi nhìn quanh; nhìn rồi lội qua; lội qua rồi đến bờ bên kia.

7- Hoặc lại có người ra khỏi nước rồi đứng; đứng rồi nhìn quanh; nhìn rồi lội qua; lội qua rồi đến bờ bên kia; đến bờ bên kia rồi được gọi là Phạm chí đứng trên bờ.

1- Thế nào là hạng người nằm mãi? Hoặc có những người bị pháp bất thiện che lấp, bị nhiễm bởi nhiễm ô, thọ quả báo của ác pháp, tạo gốc rễ sanh tử. Đó là hạng người nằm mãi dưới nước. Cũng như người chìm lỉm, nằm luôn dưới nước.

2- Thế nào là hạng người ra khỏi nước rồi chìm lại? Đó là người đã làm trỗi lên tín tâm nơi thiện pháp, trì giới, bố thí, đa văn, trí tuệ, tu tập thiện pháp. Người ấy sau đó lại mất tín tâm, không kiên cố, mất sự trì giới, bố thí, đa văn, trí tuệ, không kiên cố. Đó là hạng người ra rồi chìm lại. Như người chìm trong nước, đã ra được rồi lại chìm”.

(Kinh Trung A-hàm, phẩm Bảy pháp, kinh Thủy dụ, số 4 [trích])

Lời bàn: Trong đoạn trích pháp thoại này, Thế Tôn đề cập đến hai hạng người chìm trong nước. Hạng thứ nhất là chìm nghỉm trong phiền não và chịu thọ báo của ác pháp. Hạng người này nghiệp chướng nặng nề, sinh ra trong khổ đau và tăm tối, lớn lên kết duyên cùng người xấu và tạo nhiều ác nghiệp, cuối cùng chịu quả báo tù tội, mất mát hoặc khổ đau. Có những mảnh đời bất hạnh và đổ nát gần như “toàn tập”, họ từ bóng tối đi dần vào trong đêm tối.

Hạng người thứ hai cũng bi kịch không kém và khá dễ dàng bắt gặp họ trong cuộc sống xung quanh ta. Hạng người này được ví như đã bước ra khỏi nước rồi bị chìm trở lại. Xuất thân từ gia đình thiện lương, biết quy y Tam bảo, họ có niềm tin nơi các việc thiện lành, tốt đẹp ở đời, sống có đạo đức, thích sự giúp đỡ, sẻ chia, siêng năng học tập đạo lý nhất là giáo lý Phật giáo, biết phân định đúng sai, điều đáng làm và không nên làm. Nhưng các hạnh lành của người này không bền, lung lay theo thời gian, đổi thay do tác động của hoàn cảnh xấu, lâu dần họ đánh mất niềm tin, bỏ rơi thiện pháp và trở thành người ác không biết tự bao giờ.

Từ trong nước bước ra khỏi nước rồi chìm trở lại, thật uổng cho hạng người này. Như bông sen mỏng manh ngoi lên khỏi nước, rồi không trụ nổi với nắng gió và gục ngã chúi đầu xuống nước. Cũng vậy, không ít người đang hướng thiện, bỗng chốc vì ngoại duyên tác động hay do tăm tối nơi chính mình mà đã dần mất niềm tin Tam bảo, thối thất các hạnh lành. Dĩ nhiên, nhân quả luôn ứng với nhau, từ bỏ ánh sáng đi vào tăm tối thì vĩnh viễn sẽ mù mịt, chìm sâu trong khổ. Hai hạng người này được xem là thiếu phước, bất hạnh lâu dài.

Pháp tu Quan Âm

Pháp tu Quan Âm chủ yếu nói về hạnh Quan Âm và chúng ta áp dụng pháp tu của Ngài trong cuộc sống của chúng ta. Nói đến hạnh Quan Âm, chúng ta biết Ngài có hạnh lóng nghe tiếng nói tâm trạng đau khổ của tất cả chúng sanh.

Vì vậy, một số người nghĩ rằng tu theo Quan Âm thì cần tập hạnh này. Thuở nhỏ, tôi cũng đã từng tập tu hạnh này, nhưng rất khó và coi chừng nguy hiểm, vì chúng ta chưa phải là Quan Âm nhưng lóng nghe tiếng đau khổ của chúng sanh thì đưa điều khổ đó vào mình sẽ không thể chịu đựng nổi. Thật vậy, nghe việc khổ của một người thân mà chúng ta đã cảm thấy nặng lòng, huống chi là nghe nhiều người thì càng khổ tâm hơn, chắc chắn tâm chúng ta không yên được. Lóng nghe tiếng khổ đau của chúng sanh là việc khó làm của Bồ-tát, không phải phàm phu làm được. Nghe hạnh Bồ-tát tốt đẹp như vậy, chúng ta thường sanh kính trọng; nhưng làm theo các Ngài thì ở một chừng mực nào đó mới an toàn.

Thực tế chúng ta thấy người thế gian phần nhiều ít nghe, nhưng thích nói, tức bắt người phải nghe mình, mà không chịu nghe người. Nếu như vậy sẽ dẫn đến tình trạng không ai nghe ai. Trong một gia đình mà không biết lóng nghe nhau thì sẽ bất hòa. Một xã hội như vậy sẽ dẫn đến sự đấu tranh, nguy hiểm. Đặc biệt là chính quyền mà không nghe quần chúng, nhưng cứ áp đặt lệnh lên quần chúng thì nước nhà khó yên được. Vì vậy, hạnh lóng nghe rất quan trọng. Người lớn lãnh đạo cần nghe ý kiến đóng góp của người dưới, hay người trưởng gia đình phải nghe sự mong muốn của các thành viên trong nhà. Riêng tôi, làm việc lâu dài được là nhờ một phần chịu nghe, trước nhất là nghe tiếng nói biểu lộ tâm trạng của Tăng Ni, Phật tử ở tất cả địa phương, thì thấy mỗi người có hoàn cảnh, nỗi khổ riêng. Và hiểu được sự bức xúc của dân chúng vùng đó, chúng ta đến chia sẻ hay làm việc gì đó để gỡ rối, chắc chắn họ rất hoan hỷ.

Quan Âm nghe tất cả tiếng khổ đau của chúng sanh, nhưng Ngài xét xem có thể làm được điều gì tốt thì Ngài mới làm.

Quan Âm nghe tất cả tiếng khổ đau của chúng sanh, nhưng Ngài xét xem có thể làm được điều gì tốt thì Ngài mới làm.

Quan Âm nghe tất cả tiếng khổ đau của chúng sanh, nhưng Ngài xét xem có thể làm được điều gì tốt thì Ngài mới làm. Vì vậy, có người kêu cứu thì Quan Âm xuất hiện, nhưng có người van xin, Ngài cũng không đến; vì Ngài có trí tuệ, biết được đến đó không thể đáp ứng yêu cầu của họ. Đức Phật cũng nói rõ rằng Ngài còn có tam bất năng là ba việc Như Lai không làm được, không phải việc nào Phật cũng giải quyết được. Phật còn không làm được, huống chi chúng ta. Việc nào làm được, chúng ta mới xuất hiện, không thể làm thì ta không xuất hiện; vì Phật nói rõ rằng tất cả chúng ta sanh trên cuộc đời này đều trôi lăn trong sáu nẻo do nghiệp của từng người tạo nên; cho nên vấn đề chính yếu là làm sao họ hiểu được và tự hóa giải nghiệp của họ. Nếu họ không làm như vậy thì Phật cũng không cứu được. Phật nói rằng Ngài không thể cứu người muốn chết. Vì vậy, ta có lòng từ bi, nhưng thiếu trí tuệ, nên không thấy được nghiệp của người, tức không hiểu được các pháp của trật tự thiên nhiên hay xã hội, thì không giải quyết được.

Tu Pháp hoa, tụng phẩm Phổ môn thứ 25, thấy Quan Âm có hạnh lóng nghe, tôi cũng muốn tu theo như Ngài; nhưng nghĩ khó đạt được kết quả. Tôi mới đọc thêm kinh Hoa nghiêm, thấy Ngài có tên là Quán Tự Tại. Quán Tự Tại hay Quan Âm là một người thể hiện đầy đủ bi và trí, vì Quán Tự Tại tiêu biểu cho trí và Quan Âm tiêu biểu cho bi.

Muốn hóa độ chúng sanh phải tự cứu được mình, chưa cứu mình mà cứu người là không tưởng. Quan Âm trong kinh Pháp hoa cứu độ chúng sanh với 12 nguyện, nhưng trước khi có 12 nguyện này, Ngài phải tự tại với tất cả hoàn cảnh; nói cách khác, tâm Quan Âm như ngọc ma ni, như hoa sen không dính nước, không nhiễm bùn, trong sáng và có khả năng tác động người làm cho họ an. Ta chưa phải là ma ni, chưa phải là hoa sen thì việc cứu chúng sanh còn xa. Ta chỉ làm được một việc nhỏ là làm từ thiện thì cũng tốt rồi.

Trên bước đường tu, tôi chỉ lóng nghe vài việc đã làm tôi mất ăn mất ngủ cho đến muốn vỡ tim. Chẳng hạn tôi nghe trận động đất ở Nhật đã bàng hoàng khiến tôi luôn dao động, nên không dám nghe nữa. Phải ngồi yên, tĩnh tâm, niệm Phật và cầu nguyện. Vì vậy, đừng nghe nhiều. Nghe việc khổ làm chúng ta đau lòng là bi tâm sanh ra và chúng ta giữ bi tâm này để hướng về một vị Phật nào đó mà cầu nguyện thì tiếp nhận được ánh quang Phật rọi vào lòng chúng ta, làm cho lòng chúng ta mát dịu. Như vậy là từ trường của Phật đã đến với chúng ta và chúng ta cầu nguyện để từ trường đó cũng sẽ đến với người.

Như vậy, chúng ta phải kết nối giữa ta với Phật, với Bồ-tát để nhận được lực gia trì của các Ngài. Sức gia trì của Phật, của Bồ-tát cho chúng ta sức mạnh để hóa giải ưu phiền trong lòng chúng ta, từ đó chúng ta mới truyền Phật tâm này đến nơi, hay đến người muốn cứu độ. Có thể nói ta, hay Phật, Bồ-tát cứu độ, ai cứu độ thì không rõ ràng. Ta thấy Phật cứu, nhưng người thấy ta cứu, vì ta nhận được lực của Phật và Bồ-tát và dùng lực này truyền cho họ. Không nghĩ mình cứu, nhưng chúng sanh đến cám ơn tôi, bấy giờ, tôi mới nhận ra mình là trung gian giữa Phật và chúng sanh, có thể hiểu đó là hóa Phật, hay hóa thân Phật, vì ta không phải là Phật, nhưng đem Phật vào lòng, nên lòng chúng ta và Phật là một. Ánh quang Phật rọi lòng ta sáng thì ta trở thành hóa Phật mới có năng lực hóa giải nghiệp chúng sanh. Cầu nguyện có kết quả là vậy; nhưng cầu nguyện không kết quả vì tâm chúng ta không thanh tịnh và ánh quang Phật không rọi vào lòng chúng ta được.

Tập hạnh Quan Âm, trước tiên là tập hạnh Quán Tự Tại, tức chúng ta tự tại trước tất cả các pháp, không có gì chi phối chúng ta được, không buồn phiền.

Tập hạnh Quan Âm, trước tiên là tập hạnh Quán Tự Tại, tức chúng ta tự tại trước tất cả các pháp, không có gì chi phối chúng ta được, không buồn phiền.

Tôi thực tập pháp này, có lúc Phật hiện hữu trong lòng tôi thì tâm tôi rất thanh tịnh, khi đó hướng đến hoàn cảnh khổ của chúng sanh thì khổ của chúng sanh hiện vào lòng và Phật biến mất; nghĩa là Phật khi ẩn khi hiện trong lòng chúng ta và nghiệp chúng sanh cũng khi ẩn khi hiện trong lòng chúng ta, thật là cả một mớ lộn xộn. Khi chúng sanh hiện vào thân chúng ta thì chúng ta trở thành chúng sanh thân. Khi Phật hiện vào thân chúng ta thì chúng ta trở thành Phật thân. Phật cũng ta, mà chúng sanh cũng là ta. Vì vậy, kinh Hoa nghiêm nói rằng Phật có mười loại thân, thân cao nhất là Tỳ Lô Giá Na thân và thân thấp nhất là địa ngục thân. Lúc chúng ta nghe tiếng than cầu của chúng sanh ở địa ngục, ta tiếp nhận âm thanh này khiến lòng chúng ta đau khổ, sẽ hiện thân đau khổ; lúc đó, chúng ta mang thân địa ngục và hiện tướng đau khổ. Còn ở thiền định, cảm Phật, ánh quang Phật rọi vào lòng chúng ta sáng thì nét mặt chúng ta hân hoan. Tôi để ý người tu lúc ngồi yên thấy từng niệm tâm họ thay đổi, nên nét mặt cũng thay đổi. Thiền sư ngồi thiền, nhưng mỉm cười là biết họ đang tiếp nhận năng lượng của Phật, của Bồ-tát, hay của thiền sư nào đó gia bị, thì họ là hóa thân của thiền sư, của Phật, hay của Bồ-tát.

Có lần tôi nhìn Hòa thượng Thanh Từ, nghĩ rằng ngài là hóa thân của Phật hoàng Trần Nhân Tông, vì Hòa thượng rất tha thiết với Trúc Lâm Yên Tử và hạnh nguyện của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Chính sự tha thiết trong lòng Hòa thượng mới cảm nhận được sự gia bị của Trần Nhân Tông khiến cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được phục hồi. Nhìn gần là Hòa thượng Thanh Từ phục hồi phái này, nhưng nhìn xa thấy là Phật hoàng Trần Nhân Tông phục hồi. Phật hoàng là Hòa thượng Thanh Từ và Hòa thượng là Phật hoàng; đây là ý nghĩa hóa thân. Theo kinh nghiệm, khi tôi cảm vị Bồ-tát nào thì thấy việc của tôi hình như là của Bồ-tát này làm. Đem Phật, Bồ-tát, La-hán, Thiền tổ vào ngự trong lòng chúng ta thì lòng chúng ta an tịnh, chúng ta liền là hóa thân của các ngài. Nhưng đem hình ảnh của người buồn phiền, tham lam, ích kỷ vào lòng mình thì mình cũng liền trở thành như vậy.

Tập hạnh Quan Âm, trước tiên là tập hạnh Quán Tự Tại, tức chúng ta tự tại trước tất cả các pháp, không có gì chi phối chúng ta được, không buồn phiền. Phật hay ác ma tới, chúng ta cũng hoàn toàn tự tại, vì thấy tất cả các pháp như huyễn. Quan Âm của kinh Hoa nghiêm cứu được chúng sanh, ngài là Quán Tự Tại của Bát-nhã. Tìm Quan Âm trong Bát-nhã, Hoa nghiêm và Pháp hoa là lộ trình mà tôi đã thực tập.

Bước đầu, chúng ta tìm Quan Âm trong Bát-nhã là chúng ta quán tất cả pháp là Không, ngũ uẩn giai Không, tứ đại giai Không và quán thấy như vậy thì sẽ độ tất cả khổ ách. Như vậy, Quan Âm khởi đầu quán Không trước. Thực tập pháp này, tôi thường nói chết là cùng thì đối với tất cả mọi việc trên cuộc đời, chúng ta dễ dàng bỏ qua. Người quán thuần pháp này sẽ có thái độ đặc biệt. Điển hình như tôi thưa với Hòa thượng Pháp chủ rằng Hòa thượng Thanh Kiểm đã mất, ngài nói quý hóa. Thường mình nghe người nào mất thì buồn, nhưng ngài lại nói quý hóa. Thiết nghĩ đối với tâm thanh tịnh thì tất cả mọi việc, kể cả việc sống chết, hoặc việc Phật sự thành hay bại cũng đều quý hóa. Suốt cuộc đời tu của ngài chỉ có hai chữ “Quý hóa”. Thực tập như vậy, thấy lòng mình lúc nào cũng bình yên; còn vọng tưởng điên đảo thì cái này quý hóa, cái kia khổ quá, sẽ bị đọa, vì việc xấu luôn luôn nhiều hơn, đến khi thấy cuộc đời này toàn màu xám là bước vào địa ngục.

Kinh Bát-nhã rút gọn là Tâm kinh. Quan Âm thể hiện Tâm kinh. Đầu tiên ngài có một cánh tay là Bát-nhã hay Tâm kinh có thể diệt trừ được tất cả khổ ách của mình xong, mới chia sẻ được sự bình an cho người. Tôi nhận thấy rõ ý này. Năm 1975, sau khi đất nước giải phóng, tôi thấy quý thầy có người tìm cách thoát, có thầy nghĩ là trở về nhà, vì phần nhiều tu trốn quân dịch, còn một số cán bộ nằm vùng thì đeo băng đỏ đi làm việc. Họ tập trung đến tôi, nếu tôi tiếp thu tất cả tâm trạng của họ chắc là sẽ vỡ tim. Tôi lên chánh điện tụng kinh Pháp hoa thì hình ảnh của chư Phật từ quá khứ đến hiện tại và vị lai hiện hữu trong lòng khiến tôi cảm thấy ấm áp. Chính sự ấm lòng này mới tác động những người thấy tôi bình tĩnh tụng kinh, họ cũng bắt chước tụng kinh và lạy Phật theo. Cuối cùng đâu cũng vào đó, người làm cách mạng ở chùa thì trở về đời làm cách mạng, người tu bất đắc dĩ thì trở về nhà. Và người tin Phật thì an ổn.

Đầu tiên chúng ta hóa giải nghiệp mình xong, mới hóa giải được nghiệp của chúng sanh là trí Bát-nhã của Quan Âm mà chúng ta phải thực tập. Còn tâm bất an, không hóa giải được lòng mình, nên bám vào bộ kinh nào và hành trạng của vị Phật, Bồ-tát nào, nhờ ánh quang của các Ngài soi rọi cho chúng ta tìm được chỗ an trú.

Cánh tay phải của Quan Âm là Bát-nhã, nên ngài tu Bát-nhã trước. Ngài Trí Giả phán giáo rằng trong suốt hai mươi hai năm, Phật nói Bát-nhã là quét sạch phân nhơ. Quý vị có buồn phiền đau khổ khó giải quyết, cứ đem kinh Bát-nhã ra tụng. Đọc từng chữ thấm vào lòng mình, thấy toàn vũ trụ là Không, tức thế giới chơn Không hiện ra cho chúng ta, ngã Không, pháp Không, tất cánh Không. Tất cả là Không và từ Không này bắt đầu tập hợp lại tất cả Phật, Bồ-tát, chơn Tăng đều hiện ra trong chơn Không.

Bước đầu quét sạch chúng sanh, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não, bấy giờ, Phật, Bồ-tát xuất hiện trong Pháp giới là qua kinh Hoa nghiêm thì Quan Âm trở thành Quán Tự Tại đối với tất cả các pháp, thân và tâm tự tại, Quan Âm hóa giải người tự tại theo. Như tôi tụng kinh Pháp hoa, Phật gia bị tôi bình an, người tới bắt chước tụng kinh theo cũng được bình an. Đạo tràng Pháp Hoa thành lập từ nguồn gốc này. Tất cả người tu phải cảm được Phật, Bồ-tát gia bị cho chúng ta. Còn Phật tử đạo tràng mà nghĩ mình là Phổ Hiền, là Quan Âm, nhưng chẳng có gì giống các Ngài là điều nguy hiểm, bị đọa, vì Quan Âm và Phổ Hiền chưa vào lòng quý vị. Hạnh nguyện của các ngài quá lớn đòi hỏi chúng ta phải dụng công lớn may ra mới đến với các ngài được.

Ta hướng về Đức Quan Âm, ánh quang của Quan Âm rọi vào lòng chúng ta, phá tan u ám trong lòng ta

Ta hướng về Đức Quan Âm, ánh quang của Quan Âm rọi vào lòng chúng ta, phá tan u ám trong lòng ta

Và khi Pháp giới hiện thì không có gì không phải là Phật, đó là Phật của kinh Hoa nghiêm. Thế giới Bát-nhã không có gì. Thế giới Hoa nghiêm chỉ có Phật và Bồ-tát, vì ác ma, địa ngục cũng biến thành Phật. Tiếng suối reo, gió thoảng, không có gì nằm ngoài Pháp tánh không phải là Phật.

Từ kinh Bát-nhã bước sang kinh Hoa nghiêm thành Quán Tự Tại và Bồ-tát Quan Âm trong Pháp hoa tay phải có Bát-nhã, tay trái có Hoa nghiêm, nên ngài hiện ra ba mươi hai thân, tức loại hình nào Quan Âm cũng vào được mới lắng nghe được tất cả chúng sanh. Có chúng sanh nào niệm Quan Âm thì lực Quan Âm gia bị cho họ hết khổ, là họ tự cứu họ, không phải Quan Âm cứu; ví như chúng ta đi làm từ thiện, vì nghiệp của họ hết, nên họ hết khổ, chứ không phải nhờ ta cứu.

Ta hướng về Đức Quan Âm, ánh quang của Quan Âm rọi vào lòng chúng ta, phá tan u ám trong lòng ta, không còn thấy khó khổ; nói cách khác, chúng ta không còn ham muốn, kể cả ham sống, nhưng vẫn sống. Còn người ham sống, nhưng không sống được. Cuộc đời tôi nhiều lần tưởng chết, nhưng sau thấy mình vẫn còn, mới thấy nhờ Quan Âm cứu khổ ban vui. Mong rằng quý vị cảm nhận được hạnh Quan Âm và tạo được sự tương quan với Ngài để nhận được lực gia bị thì mọi việc tự tốt đẹp cho mình.

Nguồn: Đạo Tràng Pháp Hoa

Suy ngẫm về câu nói “sống chết có số”

Chúng ta vẫn thường hay nghe mọi người nói rằng “Sống chết có số”. Vậy thì sự sống chết của một con người phải là có số thật hay không?

Theo quan điểm của Phật giáo, mỗi người đều mang cho mình một nghiệp báo riêng.

Theo quan điểm của Phật giáo, mỗi người đều mang cho mình một nghiệp báo riêng.

Để hiểu được điều này chúng ta cùng đi vào bài luận sau đây:

Khi tất cả chúng ta sinh ra và có mặt trên cuộc đời này, đều bị ảnh hưởng, dẫn dắt, chi phối bởi nhân quả thiện ác của chúng sinh ấy đã từng làm trong quá khứ (tức trong nhiều tiền kiếp về trước).

Nhân quả sẽ quy định chúng ta:

Sinh ra là con của ai?

Giàu có hay nghèo khó?

Tình duyên lận đận hay thuận lợi?

Có con hay vô sinh, sự nghiệp của các con như thế nào?

Có đi tu được hay không?

Tu có đắc đạo hay không?

Có nổi tiếng hay là người tầm thường?

Và điểm đáng chú ý đó chính là sẽ chết năm bao nhiêu tuổi?

Có gặp hoạn nạn gì hay không?

Những sự quy định này hết sức là cố định, rất khó thay đổi, nói là rất khó nhưng vẫn có khả năng thay đổi, chứ không phải là hoàn toàn cố định bất biến.

Chính vì chúng rất khó thay đổi, nên nhiều người mới nói là có số phận.

Chính vì chúng vẫn có khả năng thay đổi (dù rất khó), nên mới có việc tu hành chuyển nghiệp (tức là chuyển đổi số phận).

Ví dụ: Nhân quả trong những kiếp quá khứ quy định kiếp hiện tại của một người nào đó sống tới năm 60 tuổi sẽ chết. Thế nhưng, trong kiếp hiện tại người này đã không biết tu dưỡng, ăn chơi sa đọa như dâm dục quá nhiều, hay thức đêm để đi quán bar uống rượu nhảy, rồi hút thuốc lá quá nhiều, thậm chí còn tụ tập đua xe không đội mũ bảo hiểm, lại còn hay giết gà vườn để ăn nhậu mỗi tuần,….

Chính vì ăn chơi, và tạo nghiệp như vậy, nên đã làm cho cái phúc sống thọ của người này bị giảm, đến năm 30 tuổi bị té xe chết (do uống rượu bia say, không đội mũ bảo hiểm, còn chạy xe quá tốc độ).

Thêm một ví dụ khác: Cũng có một người khác, người này sinh ra nhân quả trong tiền kiếp quy định tuổi thọ sẽ sống đến năm 40 tuổi thì chết.

Nhưng người này có duyên gặp Phật Pháp sớm, ngay từ lúc 6, 7 tuổi đã biết tu hành. Từ đó người này sống cả đời thường ăn chay, phóng sinh, đi làm từ thiện, kiêng cữ việc sát sinh, và những việc xấu ác, ăn uống biết giữ gìn, siêng năng tập thể dục….

Chính vì lối sống có ý nghĩa như vậy, nên tuổi thọ người này đã tăng lên thêm được tới năm 65 tuổi mới mất.

Điều này cũng giống như khi chúng ta mua một cái kính râm để đeo. Tuổi thọ của cái kính râm giả sử là 3 năm mới cũ (mới thay cái khác). Nhưng nếu người dùng là trẻ em, chúng hay vứt lung tung, làm cho kính dễ bị trầy bị vỡ, thế là tuổi thọ chỉ có được 1 tháng, là phải thay mới. Ngược lại cũng với cái kính râm, mà là một người lớn có tính cẩn thận dùng, luôn có hộp đựng, dùng xong thì cất vào túi vải, sau đó bỏ vào hộp, tránh sự va chạm, làm trầy, lúc mờ thì dùng vải mềm lau chùi…

Chính vì việc dùng hết sức cẩn thận và kĩ lưỡng như vậy, nên người này sử dụng tới ba năm mới cũ, thậm chí là kéo dài 4, 5 năm sau mới cũ.

Hãy tận dụng tấm thân hiện tại để tích phúc, tích tuệ, để một khi cái chết gần kề, chúng ta không còn sợ hãi, lo âu nữa.

Hãy tận dụng tấm thân hiện tại để tích phúc, tích tuệ, để một khi cái chết gần kề, chúng ta không còn sợ hãi, lo âu nữa.

Do đó rõ ràng, với một người sống biết tu dưỡng tuổi thọ sẽ khác một người sống buông lung, phóng túng không biết giữ gìn, gieo nhiều nghiệp xấu ác.

Tuy nhiên, với một người tu hành chân chính hiểu đạo thì chúng ta cũng không quá bận tâm đến vấn đề sống thọ hay chết sớm, mà điều quan trọng nhất là chúng ta hiện đang sống như thế nào, đang sống mà gieo tạo ác nghiệp nhiều hay đang sống mà gieo tạo thiện nghiệp. Kiếp sống của chúng ta vẫn chỉ là cõi tạm, dù có sống 100 năm đi nữa thì sau đó cũng phải mất thôi.

Vì thế điều giá trị nhất không nằm ở sống lâu hay sống ngắn, mà là khi sống người ấy có tạo ra được nhiều thiện nghiệp hay ít thiện nghiệp, sống có ý nghĩa hay không có ý nghĩa mà thôi.

Kết thúc bài viết, tôi xin gửi tặng quý vị một bài kệ trong Kinh Pháp Cú:

“Ai sống một trăm năm

Ác giới không thiền định

Không bằng sống một ngày

Trì giới tu thiền định”.

Đạo Phật dưới góc nhìn của các triết gia nổi tiếng thế giới

Triết lý siêu việt của đạo Phật đã trở thành một trong những đỉnh cao tư tưởng của lịch sử triết học Đông phương cũng như Tây phương. Phật giáo đã vượt ra khỏi một tôn giáo và là một tư tưởng triết học.

Chúng tôi xin giới thiệu các phát biểu, suy nghĩ của của một số triết gia nổi tiếng về Phật giáo và Đức Phật.

James Allen (1864-1912)

Nhà triết học James Allen

Nhà triết học James Allen

James Allen là tác giả trong lĩnh vực triết học người Anh, được biết đến bởi các cuốn sách và thơ truyền cảm hứng, cũng như một nhà tiên phong trong phong trào tự giúp bản thân. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, Khi con người suy nghĩ (As a Man Thinketh) đã được tái bản rất nhiều lần kể từ khi lần đầu tiên xuất bản vào năm 1903.

Thể hiện quan điểm của mình về Đức Phật, nhà triết học James Allen cho rằng:

“Đức Phật được cho là có cái nhìn về thế giới tâm linh thuần khiết, rực rỡ và hòa bình hoàn hảo, và Ngài đã thể nhập vào trong ấy.”

(Khi con người tư duy)

“Buddha beheld the vision of a spiritual world of stainless, beauty and perfect peace, and he entered into it.”

(As a man thinketh)

Karl Jaspers (1883-1969)

Chân dung triết gia Karl Jaspers

Chân dung triết gia Karl Jaspers

Karl Theodor Jaspers là một nhà tâm lý học và triết gia người Đức. Ông đã có một ảnh hưởng mạnh mẽ lên thần học, tâm thần học và triết học hiện đại. Sau khi được đào tạo và thực hành tâm thần học, Jaspers quay sang theo đuổi tư tưởng triết học và cố gắng tìm kiếm một hệ thống triết lý sáng tạo.

Đạo Phật và Đức Phật dưới góc nhìn của Karl Theodor Jaspers:

“Trong Đức Phật và Đạo Phật tuôn chảy một cội nguồn mà những người phương Tây chúng ta chưa đề cập đến, và kết quả là có một sự giới hạn với việc thông hiểu của chúng ta. Chúng ta trước nhất phải nhận ra rằng Đạo Phật cách biệt xa chúng ta và từ bỏ tất cả những phương pháp nhanh chóng, dễ dàng của việc đến gần nó[1]. Để tham dự trong tinh túy chân lý của Đức Phật, chúng ta phải chấm dứt những gì chúng ta là.”

“Sự thật là cuộc đời của Đức Phật là khả dĩ và cuộc sống của Đạo Phật đã là một thực tiễn trong nhiều vùng ở Á châu, cho đến chúng ta ngày nay – đây là một sự kiện vĩ đại và quan trọng”.

[1]Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp

(Những triết gia vĩ đại)

“In Buddha and Buddhism there flows a source which we Westerners have not tapped, and consequently there is a limit to our understanding. We must first of all acknowledgh that Buddhism is far removed from us and renounce all quick, easy ways of coming closer to it. To participate in the essence of Buddha’s truth, we should have to cease to be what we are.”

“The fact that Buddha’s life was possible and that Buddhist life has been a reality in various parts of Asia down to our own day — this is a great and important fact.”

“It points to the questionable essence of man.”

(THE GREAT PHILOSOPHERS)

Friedrich Nietzsche (1844-1900)

Chân dung nhà triết gia Friedrich Nietzsche.

Chân dung nhà triết gia Friedrich Nietzsche.

Friedrich Wilhelm Nietzsche (1844-1900) – triết gia người Ðức, một trong những triết gia lớn nhất nửa sau thế kỷ 19.

Ông bắt đầu sự nghiệp như là một nhà ngữ văn học và viết nhiều bài phê bình về tôn giáo, đạo đức, các vấn đề văn hóa đương thời, và triết học. Các tác phẩm của Nietzsche nổi bật với phong cách viết của ông, thường mang tính ẩn dụ (aphorism) và nhiều nghịch lý hơn là mức độ thông thường của các bài luận triết học. Nietzsche không được đánh giá cao bởi những người đương thời trong suốt cuộc đời của ông, nhưng đầu thế kỉ 20, ông đã được giới trí thức ở Đức, Pháp và Anh công nhận.

Quan điểm của Friedrich Wilhelm Nietzsche về đạo Phật được thể hiện:

“Đạo Phật thực tiễn một trăm lần hơn Ki Tô Giáo. Đạo Phật là tôn giáo tích cực chân thành duy nhất chạm trán trong lịch sử.”

“Buddhism is a hundred times as realistic as Christianity. Buddhism is the only genuinely positive religion to be encountered in history.”

(THE ANTICHRIST)

Vì sao Nhật Bản là quốc gia sùng kính đạo Phật?

Phật giáo đã du nhập vào nhiều quốc gia trong đó có Nhật Bản. Ở Nhật Bản, Phật giáo là tôn giáo có truyền thống gắn bó với dân tộc, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần, ăn sâu vào đạo đức, lối sống của người Nhật.

Phật giáo du nhập vào Nhật Bản như thế nào?

Ra đời ở Ấn Độ, trải qua nhiều thế kỷ tồn tại và phát triển cùng với dân tộc, Phật giáo đã dần trở thành một trong những tôn giáo lớn trên thế giới và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống tư tưởng, tinh thần của con người.

Từ thế kỷ I TCN., Phật giáo đã vượt qua khỏi biên giới Ấn Độ và mở rộng phạm vi ảnh hưởng sang nhiều nước ở châu Á, trong đó có Nhật Bản. Vào khoảng đầu thế kỷ thứ V, Nhật Bản bắt đầu tiến hành các cuộc xâm lược, cướp bóc của cải và bắt các thợ lành nghề từ Triều Tiên, Trung Quốc về Nhật Bản. Trong số những người bị bắt đó, không chỉ có nhiều người mang kỹ thuật mới về cho người Nhật, mà cùng với họ là những người mang những sắc thái khác nhau của nền văn minh từ lục địa đến quần đảo Nhật Bản. Một trong số những người thuộc nhóm thứ hai là các nhà truyền bá tư tưởng Phật giáo.

Đạo Phật chính thức được đón nhận ở Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI mà theo nhiều tài liệu là vào năm 538. Từ đó trở đi, Phật giáo đã góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng nền văn hóa xã hội Nhật Bản. Tuy nhiên, đạo Phật ở Nhật Bản không phải là bản sao trực tiếp từ Ấn Độ, mà trước khi vào Nhật Bản, đạo Phật đã phát triển ở Trung Quốc và ở một mức độ nhất định, bị biến đổi ở Triều Tiên. Khi du nhập vào Nhật Bản, đạo Phật, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đã được bản địa hóa cho phù hợp với trình độ nhận thức và để có thể kết hợp với một số tín ngưỡng bản địa nhằm thâm nhập một cách thuận lợi vào quần chúng nhân dân. Và, do sự tác động qua lại giữa đạo Phật và các giá trị truyền thống Nhật Bản mà tôn giáo ngoại nhập này đã trở thành một yếu tố kích thích các giá trị truyền thống phát triển và ngược lại, các giá trị truyền thống Nhật Bản đã làm cho Phật giáo mang sắc thái riêng của Thiền Nhật Bản (Zen).

Chư tăng Phật giáo Nhật Bản

Chư tăng Phật giáo Nhật Bản

Trong quá trình truyền bá của đạo phật sang bất cứ một khu vực nào trên thế giới, đạo phật đều phải đối phó với sự cạnh tranh gay gắt và sự chèn ép quyết liệt của các tôn giáo khác ở bản địa. Phật giáo thời kỳ đầu đến Nhật Bản cũng phải chịu chung số phận như vậy. Nhưng trong quá trình hội nhập và phát triển, đạo phật ở Nhật Bản đã có mối quan hệ tốt đẹp với các tôn giáo khác, người dân đã dần chấp nhận và tín ngưỡng đạo Phật.

Sự phát triển của Phật giáo tại Nhật Bản hiện nay

Ngày nay, trong xã hội Nhật Bản hiện đại đã có 9 trường tiểu học, 51 trường trung học, 131 trường cao đẳng và 14 trường đại học chuyên phục vụ cho việc đào tạo nhân tài trong lĩnh vực Phật học. Kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, các cơ sở này đã đào tạo được 179 tiến sĩ và thạc sĩ, học sĩ. Trong số đó có rất nhiều học giả nổi danh với những công trình chuyên luận về Phật giáo, thu hút sự quan tâm đặc biệt của học giả trong và ngoài giới, trong và ngoài nước. Đó là chưa kể đến các tác phẩm thông thường với số lượng thống kê không thể hết được.

Chùa Vàng - một trong những thắng cảnh của Phật giáo Nhật Bản.

Chùa Vàng – một trong những thắng cảnh của Phật giáo Nhật Bản.

Mục tiêu chủ đạo của Phật giáo là “Cứu nhân độ thế”. Để phục vụ cho mục tiêu này, ở Nhật Bản, người ta đã xây dựng một hệ thống gồm 116 viện dưỡng lão Phật giáo, 26 viện cứu hộ, 3 viện tàn phế,… Ngoài ra, còn có 220 cơ sở phúc lợi nhi đồng, 38 thư viện, 49 viện bảo tàng và những hoạt động khác của các cá nhân về công tác xã hội, như giáo dục phạm nhân trong các nhà tù, bảo vệ nhân quyền, ủy viên điều đình,…

Hiện nay, ở Nhật Bản đã có trên 160 giáo phái, 14908 ngôi đền và chùa với số người theo đạo Phật là 98033 triệu người, chiếm khoảng 40,4% dân số Nhật Bản.

Do số lượng chùa và các tăng lữ đông như vậy, nên không ai, không tổ chức xã hội nào có thể cáng đáng được, và do vậy, các tín đồ phải tự làm việc để đảm bảo cuộc sống của mình. Nhưng, cũng từ đó mà hoạt động của các tín đồ đạo Phật đã vượt ra khỏi phạm vi chùa chiền và đi vào đời sống bình thường của nhân dân, tạo điều kiện cho Phật giáo có cơ hội thâm nhập vào đời sống nhân dân và dễ dàng thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thời đại.

Theo Phatgiao.org

Ý nghĩa bờ bên kia

Bờ bên kia dịch từ chữ Hán là đáo bỉ ngạn, tức đến bờ bên kia. Có người dùng từ hồi đầu thị ngạn nghĩa là quay đầu là bờ, từ này cũng khó hiểu, ít có người hiểu đúng. Bờ bên kia ở đâu và hồi đầu là gì?

Trước nhất chúng ta phân ra hai bên, một bên là thử ngạn, tức bên này và bỉ ngạn là bên kia. Chúng ta đứng bên bờ này là bên bờ của sanh tử, cho nên đối với sanh tử, chúng ta có bờ bên kia là Niết bàn. Người tu Thiền còn gợi thêm một ý nữa là “Sanh tử Niết bàn đẳng không hoa”, tức sanh tử thuộc ảo, nhưng Niết bàn cũng ảo; đó là đỉnh cao của Bát Nhã. Đức Phật dạy rằng vì chúng ta đứng ở sanh tử, nên hướng về Niết bàn; nhưng đạt được Niết bàn thì Niết bàn đó cũng là ảo. Ý này mở ra cho chúng ta nhận biết được có một thế giới vượt trên Niết bàn.

Trước nhất, chúng ta đang đứng ở bờ sanh tử, hay sống trong sanh tử, tức có sanh thì phải có chấm dứt cuộc sống. Tuy nhiên, ý nghĩa mà chúng ta muốn nói đến là bờ bên kia, tức sau khi chết, chúng ta về đâu. Thông thường chúng ta nghĩ rằng sau khi chết, chúng ta về thế giới Phật, về Niết bàn, về thiên đường, hoặc tái sanh lại cõi người. Như vậy, cứu cánh Niết bàn là điểm tối hậu, còn phía bên kia có nhiều thứ, không nhất thiết có một. Khi chúng ta đến thế giới Ta bà này, mỗi người đều mang theo mình nghiệp riêng từ quá khứ. Có thể nói chúng ta hiện hữu ở thế giới này là thể hiện nghiệp quá khứ và hành vi tạo tác của chúng ta trong kiếp này là hạt nhân để tạo thành cuộc sống của kiếp sau. Vì vậy, chúng ta sống như thế nào trong hiện tại thì sau khi chết, sẽ có đời sau thể hiện cuộc sống hiện tại của chúng ta.

Thật vậy, sinh hoạt hàng ngày của chúng ta được đưa vào và lưu giữ lại trong tiềm thức, Duy thức học gọi là A lại da thức. Và tất cả những gì xảy ra  trong cuộc sống hiện tại đều được gom vào đầy đủ trong kho tiềm thức và chúng thường hiện ra trong giấc mơ khi chúng ta chìm vào giấc ngủ. Tiềm thức hay tâm thức của chúng ta đã nói lên được cuộc sống của chúng ta sau khi chết. Những người tham lam, hung dữ, độc ác, hơn thua tranh giành trong cuộc sống hàng ngày, những việc này phát xuất từ tâm tham vọng, nên tâm thức đó đã chất chứa hạt giống ác. Chính vì vậy mà khi còn sống, tâm trạng họ đã bất an và trong giấc ngủ, họ cũng mộng mị bất an, cho đến giấc ngủ dài là sau khi chết, tâm họ chắc chắn cũng rơi vào thế giới bên kia bất an là địa ngục. Những người sống trong trạng thái tâm như vậy, thì đối với họ “Dương gian là cảnh, âm phủ là quê, sống ở thác về”. Thác về là về địa ngục, nghĩa là họ phải trải qua từ tầng địa ngục thứ nhất cho đến tầng địa ngục thứ mười. Qua mười chặng đường của thế giới âm, đến chặng cuối cùng để giải quyết những việc mà con người đã làm trên trần gian và trước khi tái sanh lại cuộc đời, họ đến nhà bà lão do Ngọc hoàng gởi xuống. Bà lão này cho ăn bát cháo lú thì tái sanh trên cuộc đời, họ quên tất cả quá khứ và trở lại con người bình thường trần tục mà sống, để rồi kết cuộc chấm dứt cuộc sống cũng lại đi một vòng giống y như vậy, lại đi qua mười cửa ngục, rồi tái sanh… Đó là cuộc sống hẹp, lẩn quẩn trong địa ngục luân hồi, nhưng nếu mở rộng là lục đạo luân hồi, tức có sáu con đường luôn mở rộng là mở rộng tâm thức, không phải chỉ đi vào địa ngục; tùy theo suy nghĩ và hành động mà mỗi người có kết quả khác nhau sau khi chết.

Tiến xa hơn nữa trên bước đường tu, hành giả Pháp Hoa nhận ra rằng đi vào cửa Phật tuy bằng pháp phương tiện, nhưng đi qua được bờ bên kia, mới thấy được thiên bá ức hóa thân Phật hiện vào tâm thức chúng ta và điều quan trọng là tất cả những hóa thân Phật lại hiện thành thiện tri thức của chúng ta trên cuộc đời này.

Tiến xa hơn nữa trên bước đường tu, hành giả Pháp Hoa nhận ra rằng đi vào cửa Phật tuy bằng pháp phương tiện, nhưng đi qua được bờ bên kia, mới thấy được thiên bá ức hóa thân Phật hiện vào tâm thức chúng ta và điều quan trọng là tất cả những hóa thân Phật lại hiện thành thiện tri thức của chúng ta trên cuộc đời này.

Đương nhiên tạo ác thì vào địa ngục, còn người tạo phước nhưng nhiều sân hận, họ có thể sanh lại thế giới A tu la. Hoặc người sống lương thiện không thể vào mười địa ngục, họ có hạt nhân làm người thì tái sanh làm người và nếu có phước cao, đã sống trọn mười điều lành, họ sẽ sanh lên cõi Trời dục, tức Tứ thiên, Đao lợi thiên, Dạ ma thiên, hay Hóa lạc thiên. Như vậy, đối với những người vừa nói, bờ bên kia được giới hạn trong phạm vi luân hồi tái sanh từ địa ngục cho đến cõi người, cõi trời. Những người không tu chưa hiểu đạo, chưa thực tập Thiền quán, chưa hạ thủ công phu thì chỉ đi vào lục đạo luân hồi này.

Còn bờ bên kia mà Đức Phật dạy xa hơn cho người có hạ thủ công phu thì như thế nào. Trước tiên, Phật dạy hàng Thanh văn thực tập 37 trợ đạo phẩm, bờ bên kia của họ hoàn toàn khác, vì họ tu hành sống cuộc đời khác với phàm phu,  họ không huân tập tâm xấu ác, không làm việc tội lỗi, kể cả tâm tốt, việc thiện cũng không huân tập. Họ chỉ muốn làm cho tâm thanh tịnh mà thôi. Khởi đầu tu, Phật dạy Thanh văn tu Tứ niệm xứ quán: quán thân bất tịnh, quán tâm vô thường, quán thọ thì khổ, quán pháp vô ngã; cuối cùng đến bờ bên kia là Không. Và thế giới Không này theo tinh thần Bát Nhã mà Đức Quan Âm đã “Hành thâm Bát Nhã ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhứt thiết khổ ách…”. Mở đầu Tâm kinh, Đức Phật giới thiệu Bồ tát Quan Âm nhờ thực tập Bát Nhã đến mức đào sâu ngũ uẩn, thấy tất cả đều là không, thì không có nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, cũng không có cứu cánh Niết bàn; từ đó, tâm hoàn toàn trống không, đạt đạo giải thoát.

Vì vậy, bước đầu tu hành của chúng ta là cứu cánh Niết bàn, giải thoát. Các Phật tử tu học Phật pháp cố gắng thực tập cho được giai đoạn một, phải nhận thấy rõ tất cả mọi người cuối cùng đều phải rời bỏ thân tứ đại, huống chi là vật sở hữu làm sao giữ được, mang theo được sau khi chết. Ý thức sâu sắc như vậy sẽ bỏ được tâm chấp trước, chúng ta liền có cuộc sống an lạc.

Đầu tiên kinh Bát Nhã mở ra cho chúng ta hiểu được ý nghĩa của đến bờ bên kia; nhưng chỗ này không phải là điểm dừng của chúng ta. Thật vậy, Bát Nhã là đỉnh cao của Tứ Thánh Đế mà Phật đã dạy. Người tu thành tựu giới, định, tuệ, mới thấy được thế giới không, không này là không chấp trước, không tham đắm. Còn chấp trước, còn tham đắm thì còn khổ. Đỉnh cao của người tu là tâm hoàn toàn thanh thản, vì không chấp trước, không tham đắm, nên tất cả mọi việc đối với chúng ta trở nên nhẹ nhàng. Nhưng chúng ta không dừng ở chỗ này, vì có thế giới không này để thoát ly bờ sanh tử mà thôi và sau cái không này còn có cái vi diệu hơn nữa. Vì vậy, khi mở được mắt trí huệ, chúng ta sẽ thấy rõ những gì bờ bên kia có, không phải KHÔNG là trống không.

Trên tinh thần này, Ngài Huệ Năng dạy rằng Bản lai vô nhất vật. Người không hiểu, chấp vào cái “vô” này, rồi thấy không là không suông, chẳng có gì cả. Phải hiểu rằng tất cả mọi sự mọi việc trên cuộc đời này đều là không, tức tất cả đều là ảo giác. Chúng ta đạt đến không là trạm dừng chân để thưởng thức được cuộc sống giải thoát so với khổ đau của phàm phu, chứ đó chưa phải là cứu cánh.

Vì vậy, đạt được “Vô nhất vật” rồi, cánh cửa sanh tử bên này đóng thì cánh cửa Niết bàn bên kia mới mở ra, bấy giờ sẽ có “Hữu hoa, hữu nguyệt, hữu lầu đài”, tức phía bên kia còn đẹp hơn gấp bội phần. Chúng ta thấy thế giới này đẹp, cho nên tham đắm; nhưng Lục tổ Huệ Năng dạy chúng ta rằng ở bờ bên kia còn đẹp hơn nhiều, không phải trống không, không phải không suông như mọi người nghĩ tưởng. Bờ bên kia có Cực lạc của Phật Di Đà, có Niết bàn của chư vị Thánh La hán, có cung Trời Đâu Suất của Đức Di Lặc, v.v…

Và khi nhận thức được bờ bên kia giải thoát còn có những điều kỳ diệu hơn, tốt đẹp hơn ở cõi này, chúng ta bắt đầu khám phá bờ bên kia để hướng tâm đến. Hành giả tu pháp môn Tịnh độ dễ nhận ra bờ bên kia. Đức Phật Di Đà xưa cũng làm vua là Vô Tránh Niệm, Ngài có tất cả những sở hữu vật chất lớn nhất trần gian, vì Ngài là Chuyển luân Thánh vương; nhưng Ngài cảm nhận được sở hữu vật chất này không tồn tại vĩnh viễn và khi hết phước báu, những sở hữu vật chất này liền trở thành trần lao nghiệp chướng cho mình. Thực tế cuộc sống cho thấy rõ khi có phước, người thân hết lòng với họ, người giúp việc cũng trung thành, thậm chí người chống đối không dám hại mà còn phải làm tốt. Nhờ phước như vậy, họ dễ dàng tạo sự nghiệp lớn lao trên cuộc đời; nhưng khi hết phước, người ủng hộ bắt đầu chống phá, thậm chí con cháu trong gia đình cũng phá hại. Đức Phật Di Đà nhận ra phước này chỉ là tạm bợ trong sanh tử, không đáng để quan tâm. Vua Trần Thái Tông cũng thể hiện ý này qua câu nói nổi tiếng “Ta xem ngai vàng như chiếc giày rách”.

Sinh hoạt hàng ngày của chúng ta được đưa vào và lưu giữ lại trong tiềm thức, Duy thức học gọi là A lại da thức.

Sinh hoạt hàng ngày của chúng ta được đưa vào và lưu giữ lại trong tiềm thức, Duy thức học gọi là A lại da thức.

Tất cả phước báu thế gian không đáng quan tâm, cho nên vua Vô Tránh Niệm mới quan tâm cái khác thì mới được Bảo Tạng Như Lai hướng dẫn tiến tu theo Phật đạo. Ngài liền từ bỏ cuộc sống tạm bợ thế gian, xuất gia làm Tỳ kheo Pháp Tạng, sống thánh thiện. Từ người có phước báu hữu lậu thế gian mà đánh đổi lấy phước báu vô lậu như vua Vô Tránh Niệm là người biết tu; không biết tu thì phước báu hữu lậu đã có tiêu xài phung phí sẽ hết.

Bảo Tạng Như Lai dạy vua Vô Tránh Niệm chuyển đổi phước báu hữu lậu thành vô lậu bằng cách nào ? Tất cả những gì nhà vua có đều chuyển thành vô lậu, ví dụ như có tiền thì dùng bố thí, cúng dường; vì bố thí sẽ được người quý trọng, cúng dường sẽ có phước và có phước mới kết duyên được với cao Tăng, Thánh hiền. Kinh nói rõ rằng Ngài thường tham học với tất cả đại thiện tri thức, hay các Đức Như Lai. Nhờ những phước báu là thông minh, có tiền, sức khỏe tốt và sử dụng phước này để tham vấn cầu học, phước của Ngài càng tăng thêm, nên mới có tên là Pháp Tạng Tỳ kheo; nghĩa là Ngài đã đem phước thế gian đổi thành kho tàng quý báu vô giá, gọi là Pháp. Tu theo Phật, phải triển khai được như vậy. Pháp Tạng Tỳ kheo có kho báu là phước đức và trí tuệ; phước đức do bố thí, cúng dường và trí tuệ nhờ học được pháp của Như Lai. Đức Phật Di Đà khởi đầu cách tu như vậy.

Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật cũng dạy người tu  cần tri thức, không có Phật nào không xả thân học đạo cầu tri thức và chính Đức Phật Thích Ca cũng   đã từng làm như vậy. Tỳ kheo Pháp Tạng có kho phước mới dễ dàng tạo thêm phước và Ngài có khả năng hiểu biết mới thâm nhập được tri kiến Như Lai. Điều này chúng ta thấy rõ trong cuộc sống, những người không có khả năng hiểu biết thì không thể học được. Có thể nói rằng muốn trí thức hóa nông dân rất khó, nhưng lao động hóa trí thức không khó. Tôi nhận thấy tuy cùng học một lớp, nhưng người thành đạt dễ dàng, người không học nổi vì không có khả năng tiếp thu.

Đức Phật Di Đà trở thành giáo chủ thế giới Tây phương Cực Lạc một cách nhẹ nhàng vì Ngài sở hữu kho tàng vô lậu và sử dụng kho báu này để phát huy lên. Thật vậy, mở đầu, Ngài khai mở một quốc gia gọi là An Dưỡng Quốc để làm nơi tập hợp những người có tri thức và khi tập hợp được nhiều thiện tri thức, Ngài sử dụng kho tàng pháp bảo này thành lập được An Dưỡng Quốc thật sự có toàn những người giỏi, tốt; vì thực tế một người giỏi đến đâu cũng không thể một mình làm được. Muốn được việc, phải tập trung được nhiều người có năng lực thật sự và có đạo đức mà kinh gọi là Đại thiện tri thức.

Vì vậy, thế giới của Phật Di Đà xây dựng đầu tiên theo tiêu chuẩn là những người được Ngài mời tới là người sạch nghiệp, trong kinh gọi là hàng Thượng thiện nhân. Nếu tu theo Nhị thừa, thì phải là La hán, Bích chi Phật; nếu tu theo Đại thừa, phải là hàng Nhứt sanh bổ xứ A Bệ Bạt Trí. Đó là quy cách của Phật Di Đà, tập hợp những người có tri thức và đức hạnh. Ngài xây dựng được như vậy vì đã học được mô hình Tịnh độ của chư Phật mười phương; nói cách khác, có học và có phước mới làm được.

Từ thế giới Không của Bát Nhã bước qua, liền gặp các thế giới của Phật Di Đà, Phật Dược Sư, Phật Hương Tích, v.v… Có rất nhiều Tịnh độ của chư Phật cho chúng ta đến là bước đầu vào bờ bên kia. Và để đến bờ bên kia, mỗi pháp môn tu có hướng riêng chỉ rõ cho chúng ta; không phải có một con đường lên Niết bàn, hay về Cực lạc, về các Tịnh độ. Ví dụ tôi chuyên tu Bổn môn Pháp Hoa tất nhiên có hướng khác, có cái nhìn khác với những vị tu pháp môn khác. Con đường Phật đạo qua bờ bên kia theo kinh Bát Nhã, hay theo Tịnh độ của Phật Di Đà, hoặc bờ bên kia theo kinh Pháp Hoa đều có cách hành trì khác nhau và đạt đến kết quả cũng khác nhau.

Riêng tôi, thường xuyên lạy Hồng danh Pháp Hoa để tạo mối giao cảm với chư Phật và Bồ tát; vì tôi không biết các Ngài ở đâu, nhưng bằng niềm tin và tâm kính trọng của tôi đối với các Ngài, nên mỗi ngày tôi lễ bái, tạo mối tương thông với các Ngài. Tôi cảm giác chung quanh mình có Phật và Bồ tát, nhưng vì mang thân ngũ ấm, nên ta không thấy được các Ngài. Tuy nhiên, tôi vẫn cảm thấy các Ngài qua niềm tin. Ý này được kinh Pháp Hoa dạy rằng Xá Lợi Phất thuộc hàng trí tuệ bậc nhất mà cũng phải dùng niềm tin vào đạo; vì thật sự chúng ta khó thấy được những gì của bờ bên kia, người nói chưa thấy mà người  nghe cũng không thấy bờ bên kia.

Vì vậy, với pháp môn hành trì là lễ lạy chư Phật, chư Bồ tát với tất cả niềm tin son sắt, đã tạo cho tôi sự bình an trong lòng. Ở bên bờ sanh tử này, trong thế giới đầy bất an này, nhưng tôi cảm thấy hoàn toàn an lành, vì tâm tôi hướng về Phật, Bồ tát. Đem tâm mình gắn kết với Phật này, Phật kia, Bồ tát nọ, nhờ sự gắn kết sâu xa mật thiết như vậy, đã giúp cho tôi có được tâm bình an ở bước ban đầu. Và trải qua nhiều năm tu hành, từ độ cảm tâm trong lòng mà cuộc sống bên ngoài của tôi được thay đổi tốt đẹp theo. Những gì tôi thấy trong giấc mơ, trong thiền định, trong suy tư dần dần trở thành hiện thực.

Thế giới của Phật Di Đà xây dựng đầu tiên theo tiêu chuẩn là những người được Ngài mời tới là người sạch nghiệp, trong kinh gọi là hàng Thượng thiện nhân.

Thế giới của Phật Di Đà xây dựng đầu tiên theo tiêu chuẩn là những người được Ngài mời tới là người sạch nghiệp, trong kinh gọi là hàng Thượng thiện nhân.

Bước đầu tôi chỉ thấy mình đi nghe pháp ở các giảng đường, xa hơn, nghe pháp của các Bồ tát giảng. Trên bước đường tu, tuy thấy như vậy trong giấc mơ, nhưng ít nhất trong tâm thức chúng ta đã có hạt giống tốt lành rồi. Mơ thấy đi chùa, lễ Phật, nghe pháp là điều rất quý. Tôi có bạn đồng tu kể rằng trong giấc mơ ông không biết mình là thầy tu, mà lại thấy mình đi chài lưới bắt cá. Một khoảng thời gian sau, ông này trở thành người chài lưới thật. Vì túc nghiệp là chài lưới, nên tu hành, nghiệp này cứ hiện lên và ở trong tiềm thức lâu, nghiệp này trở thành hiện thực trong cuộc sống. Thưở mới tu, tôi thường mơ thấy chùa, thấy đang tu với Đại chúng, nghĩa là thế giới tiềm thức đã ghi đậm dấu ấn như vậy và xa hơn, tôi thấy trong giấc mơ, mình tụng kinh, thuyết pháp ở nhiều đạo tràng. Theo tôi, giấc mơ và cuộc sống thực tế phải gắn kết với nhau, tức giữa thế giới vô hình và thế giới vật chất hữu hình, giữa tiềm thức và hiện thực cuộc sống đã có một sự nối kết chặt chẽ; không phải ảo giác, nhưng là thật.

Tiến xa hơn nữa trên bước đường tu, hành giả Pháp Hoa nhận ra rằng đi vào cửa Phật tuy bằng pháp phương tiện, nhưng đi qua được bờ bên kia, mới thấy được thiên bá ức hóa thân Phật hiện vào tâm thức chúng ta và điều quan trọng là tất cả những hóa thân Phật lại hiện thành thiện tri thức của chúng ta trên cuộc đời này. Như Hòa thượng Thiện Trí ngồi kế bên tôi đã là thiện tri thức trong tiềm thức của tôi thì nay trong Ban Tổ chức khóa tu Một ngày an lạc, ngài cũng là thiện tri thức của tôi. Phải khẳng định rằng tu Pháp Hoa không phải là sống với cái ảo, những gì có trong tiềm thức phải có trong cuộc sống của chúng ta.

Vào cửa Phật qua giáo pháp phương tiện và thực tập pháp phương tiện này, chúng ta nhận biết được rằng Phật có thiên bá ức hóa thân với vô số hành trạng khác nhau. Chẳng những chúng ta thấy ở Việt Nam mà cũng có thể mở rộng tầm nhìn khắp các quốc gia khác. Tùy theo sự tu hành của chúng ta đến mức độ nào thì giấc mơ cũng trải rộng như vậy. Vào cửa phương tiện thực tập để lần vào thế giới của bờ bên kia và nếu tu Bổn môn Pháp hoa, đạt đến đỉnh cao là vào thế giới Thường Tịch Quang, gọi là Bổn độ; đó là thế giới của Đức Phật Thích Ca hay của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na, tức là Phật gốc.Vì vậy, trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật nói rằng từ ta thành Phật đến nay trải qua vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp thường ở ta bà thị hiện sanh thân trong nhiều quốc độ, thuyết pháp, giáo hóa vô số chúng sanh.

Đến được bờ bên kia, chúng ta thấy thị hiện sanh thân Phật, thấy các hóa thân Phật cứu độ chúng sanh trong khắp pháp giới và tiến tu xa hơn nữa, chúng ta mới gặp được báo thân viên mãn của Phật Thích Ca, tức là phước đức và trí tuệ của Phật đã thành tựu trải qua suốt lộ trình Bồ tát đạo từ vô lượng kiếp. Đức Phật nói rằng: Ta tu Bồ tát đạo, cảm thành thọ mạng dài lâu, đến nay chưa hết mà còn lớn hơn nữa.

Tu hạnh Bồ tát để cảm thành thọ mạng, nghĩa là tạo thành thân phước đức trí tuệ mới là điều quan trọng đối với người tu, không phải chết là hết, nhưng càng tu thì phước đức trí tuệ càng lớn hơn. Phước đức trí tuệ của Đức Phật Thích Ca vẫn lớn lên mãi theo dòng thời gian vô tận, điều này thể hiện rõ trong Mạn đà la, ở giữa tâm có Đức Phật Lô Xá Na, bốn bên có bốn vị Phật, phía Tây có Phật Di Đà, phía Đông có Phật A Súc, phía Nam có Phật Bảo Sanh, phía Bắc có Phật Thành Tựu. Bốn vị Phật này tiêu biểu cho phước đức trí tuệ vẹn toàn của Đức Phật Lô Xá Na hiện hữu ở bốn phương. Tu Bổn môn Pháp Hoa, đi sâu vào thế giới tâm, sẽ nhận thấy được các vị Phật này.

Trên bước đường tu, ở giai đoạn đầu, chúng ta cần học hiểu pháp Phật cho đúng. Sang giai đoạn hai, phải phát huy được đạo lực của chính mình, thấy được các thế giới Phật xung quanh chúng ta. Từ đó, dù có đọc tụng hay không đọc tụng kinh điển, nhưng tâm hành giả đã duyên được với thế giới Thật báo trang nghiêm của Đức Thích Ca, nên thường thấy chư Phật, chư Bồ tát, thường nghe pháp và thâm nhập vào đạo tràng của các Ngài. Đó chính là loại hình thế giới thứ hai là tâm thức của chính mình.

Thiết nghĩ bằng niềm tin dũng mãnh sẽ đi vào được các thế giới này và nhận ra những gì chúng ta đã nói. Bờ bên kia là thế giới tâm thức mà nơi đó, chúng ta diện kiến được một Phật cho đến nhiều Phật, vào được các thế giới Phật như Cực lạc của Phật Di Đà, hay Tịnh độ của Đức Di Lặc ở cung Trời Đâu Suất, v.v… và trở lại hiện thực cuộc sống này, chúng ta sẽ gặp được những người bạn tốt, đạo đức đến hợp tác với chúng ta trong các Phật sự. Cao hơn nữa, trên lộ trình hành Bồ tát đạo cho đến thành Phật còn có nhiều loại hình Tịnh độ khác nữa, điều này còn xa đối  với chúng ta, nên không bàn đến. Mong rằng mỗi hành giả trong khóa tu này học và thực hành Phật pháp, đều xây dựng được Tịnh độ riêng cho mình an trú để phát huy được phước đức và trí tuệ, nuôi lớn được báo thân của chính mình.

Cùng tìm hiểu về chư thiên và linh vật Phật giáo

Từ nhỏ ai ai cũng từng nghe nói đến quỷ Dạ Xoa, bà La Sát, tuy nhiên ít người biết được Dạ Xoa là gì? Bà La Sát là gì? Nay nhà nghiên cứu Huỳnh Thanh Bình đã lý giải khá tường tận về các đối tượng này cùng các chư thiên và linh vật Phật giáo.

Cuốn sách “Biểu tượng thần thoại về chư thiên & linh vật Phật giáo” – Sách của NXB Tổng hợp TP HCM mới phát hành và đang thu hút đông đảo độc giả quan tâm đến chủ đề này.

Trong suốt hơn 2.000 năm kể từ khi được truyền vào Việt Nam, Phật giáo đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc, ăn sâu trong tiềm thức của người dân. Từ thuở ấu thơ, hầu như ai cũng biết đến ông Bụt hiền từ hiện ra giúp người, giúp đời, cứu khổ cứu nạn trong các câu chuyện cổ tích. Lớn lên chúng ta được theo bà, theo mẹ đi chùa vào những ngày đầu tháng, ngày rằm, ngày lễ tết. Dần dần, ngôi chùa để lại một dấu ấn khó phai trong ký ức của nhiều người.

Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu được xuất xứ, ý nghĩa của hầu hết các bức tượng, phù điêu, tranh vẽ, biểu tượng… ở ngôi chùa. Và khi đọc cuốn sách “Biểu tượng thần thoại về chư thiên và linh vật Phật giáo” của nhà nghiên cứu Huỳnh Thanh Bình, sẽ giúp chúng ta lý giải ý nghĩa và biểu tượng của các linh vật.

Bìa cuốn sách “Biểu tượng thần thoại về chư thiên & linh vật Phật giáo”

Bìa cuốn sách “Biểu tượng thần thoại về chư thiên & linh vật Phật giáo”

Sinh năm 1985, nhà nghiên cứu trẻ Huỳnh Thanh Bình nuôi dưỡng niềm đam mê nghiên cứu từ khi đọc các tác phẩm, những câu chuyện kể cùng những chuyến đi điền dã cùng cha – nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng. Niềm đam mê nghiên cứu cứ thấm dần thấm dần theo năm tháng.

Do đó, khi nói về cơ duyên tìm hiểu biểu tượng thần thoại về chư thiên và linh vật Phật giáo, tác giả Huỳnh Thanh Bình chân thành chia sẻ: Từ việc mê tìm hiểu nội dung đề tài các dòng tranh kiếng ở Nam bộ, tôi đã vấp phải cái lỗ hổng kiến thức này. Do đó, cái bắt đầu phải làm là mày mò tìm đọc, tìm các nhà nghiên cứu bậc thầy để học hỏi… Sau một thời gian, tôi mới quyết định viết thử về đề tài này, từng vị từng vị một, từng linh vật này sang linh vật khác… gửi đăng báo Nguyệt san Giác Ngộ và dần dần suốt mấy năm mới thành một tập hợp tương đối đầy đủ về các chư thiên và linh vật Phật giáo để hệ thống lại thành tập sách này.

Chúng ta biết rằng đặc trưng khác biệt lớn nhất của Phật giáo so với các tôn giáo khác là ở tính chất vô thần. Phật giáo xem xét thế giới từ góc độ nhân duyên, phủ nhận uy quyền của quỷ thần hoặc linh hồn là vĩnh hằng. Tuy phủ nhận sự tồn tại của một đấng tối cao của vũ trụ nhưng Phật giáo vẫn thừa nhận sự hiện hữu của các quỷ thần ở bên ngoài cõi người. Có điều khác biệt là, Phật giáo cho rằng quỷ thần cũng một dạng chúng sinh như loài người, cũng là loài có tình và không hề có quyền uy tuyệt đối, có tác động quyết định đến số phận con người.

Điều này cắt nghĩa sự tồn tại một tập hợp quỷ thần, linh vật trong kinh văn cũng như trong các dạng thức văn hóa – nghệ thuật Phật giáo, đặc biệt là trong nghệ thuật tạo hình, từ tượng thờ, các đồ án trang trí kiến trúc chùa tháp, đến bích họa, tranh vẽ…

Khác với đạo Hindu và đạo Kỳ Na là tôn giáo chủ yếu phát triển ở nội địa Ấn Độ, đạo Phật trở thành một tôn giáo phổ truyền, tuy đã mất vị thế ở quê hương nhưng giáo lý của đức Phật được truyền bá rộng rãi đến tận Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á.

Tại mỗi tọa độ địa lý – văn hóa, tùy theo tông phái Đại thừa, Tiểu thừa hay Kim Cang thừa, các biểu tượng quỷ thần và linh vật lại được bảo lưu và đồng thời được tích hợp vào văn hóa bản địa tạo nên biểu tượng mới cả về thần tích, tín lý, công năng lẫn hình tướng, trang phục, trì vật… đa dạng nhằm phát triển một thế giới biểu tượng riêng.

Dĩ nhiên, các biểu tượng này dù được cải biến như thế nào thì mục đích cuối cùng vẫn là truyền bá Phật pháp. Và tùy từng nơi, từng thời điểm mà các biểu tượng đó phản ánh chân lý theo cách riêng tương ứng với vùng văn hóa – tín ngưỡng bản địa đó. Điều đó giải thích sự khác biệt về ý nghĩa và hình tướng của các biểu tượng ở từng ngữ cảnh văn hóa.

Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Thanh Bình thì nhìn chung, tập hợp chư thiên và linh vật Phật giáo được các dân tộc tiếp nhận không giống nhau mà tùy thuộc vào ngữ cảnh phong hóa từng cộng đồng cư dân. Và việc sùng bái, tôn thờ các đối tượng này cũng đậm nhạt khác nhau tùy tộc người, tùy vùng văn hóa.

Ở Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Có những biểu tượng, linh vật Phật giáo được coi trọng, phổ biến rộng và ngược lại có không ít biểu tượng, linh vật không được mấy ai để ý đến như Garuda, Ganesha…

Có biểu tượng hội nhập vào hệ thống thần linh bản xứ với ít nhiều biến cải như Phạm Thiên được đồng nhất với Ngọc Hoàng Thượng Đế và có biểu tượng tồn tại song song với các thần linh, linh vật bản địa, thậm chí chỉ có mặt trong chùa chiền và không phổ biến rộng rãi trong dân chúng như Kiên Lao Địa Thần/Thần Đất Privithi.

Mặt khác, theo dòng chảy của lịch sử, có những đối tượng được sùng bái ở giai đoạn trước nhưng tuyệt tích trong giai đoạn sau. Chưa kể có nhiều linh vật được xã hội đương đại rất sùng bái nhưng xưa kia không thấy dấu vết tồn tại như Thánh tăng Sivali hiện là một thần tài Phật giáo đang có phần phổ biến ở một số chùa chiền.

Như vậy, việc xem xét theo cái nhìn dòng chảy lịch sử về các chư thiên và linh vật Phật giáo hứa hẹn cho người đọc những khám phá lý thú về lịch sử văn hóa nói chung, lịch sử văn hóa Phật giáo nói riêng, cũng như nội hàm các biểu tượng văn hóa, đa phần là mang tính chất tổng hợp của dân tộc ta.

Bên cạnh đó, việc xem xét tập hợp này theo lát cắt về mặt không gian sẽ giúp cho người đọc biết được chư thiên và linh vật Phật giáo khác với thần thánh và linh vật của Đạo giáo, khác với hệ thống thần linh và linh vật trong truyền thống dân gian được lưu truyền qua thần thoại và truyền thuyết như thế nào…

Theo tác giả, đối tượng này còn cần được nghiên cứu tường tận hơn dưới cái nhìn lịch đại cũng như định lượng các thành tố thuộc cấu trúc này một cách đầy đủ hơn. Còn ở nội dung cuốn sách này, nhà nghiên cứu Huỳnh Thanh Bình chủ yếu cung cấp những kiến thức căn bản giúp bạn đọc hiểu được nội dung cũng như ý nghĩa các chư thiên và linh vật mà hằng ngày chúng ta thường nghe thấy.

Chánh tư duy là gì?

là ngay thẳng. Tư (思) và Duy (惟) đều thuộc bộ tâm. Tư duy là quá trình vận hành của não bộ giúp con người suy nghĩ, xem xét, giải quyết những sự vật, hiện tượng trong cuộc sống.

Chánh tư duy là suy nghĩ chân chính, đúng với lẽ phải

Chánh tư duy là suy nghĩ chân chính, đúng với lẽ phải

Chánh tư duy là suy nghĩ, xem xét, giải quyết đúng vấn đề. Người có chánh tư duy dễ dàng thực hiện thành công mục tiêu lý tưởng của mình. Hành trì chánh tư duy luôn đem lại chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, bởi tư duy là cơ bản của lời nói và của hành động

Chánh tư duy giúp con người có được chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định và chánh tuệ. Bởi người tư duy đúng mục tiêu lý tưởng sẽ có niềm tin, siêng năng và chú tâm đến mục tiêu lý tưởng mình đặt ra. Tuệ là ngọn đuốc giúp thấy được quy luật vô thường, khổ không, vô ngã của vạn vật. Phật dạy người tu không chỉ chánh tư duy về sắc thân mà phải quán sát và biết thật tướng của bốn uẩn còn lại (thọ, tưởng, hành, thức). Bởi sắc thân, thọ, tưởng, hành, thức (ngũ uẩn) tương tức với nhau tạo thành thân và tâm. Người không có chánh tư duy cho rằng thân mạng là thường hằng là của riêng mình. Người không có chánh tư duy luôn tham lam, luyến ái. Tâm dính mắc với thường hằng, cái ngã.

Vì vậy Phật dạy nếu chánh tư duy về sắc thọ, tưởng, hành, thức, người quán sát thấy rằng thật tướng của sắc thọ, tưởng, hành, thức là vô thường theo quy luật Khổ, Không, Vô ngã, thì tham dục được đoạn trừ. Bởi do tham dục được đoạn trừ mà người thực hành chánh tư duy giải thoát khỏi khổ đau.

Suy nghĩ đúng đắn luôn có chánh kiến soi rọi, không thể mang lại phiền muộn, khổ đau cho ai, đó là mối quan hệ nhân quả về mặt tâm lý.

Suy nghĩ đúng đắn luôn có chánh kiến soi rọi, không thể mang lại phiền muộn, khổ đau cho ai, đó là mối quan hệ nhân quả về mặt tâm lý.

Dưới đây là Bài Kinh Chánh tư duy trong Tạp A Hàm Kinh: 

CHÁNH TƯ DUY [1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Đối với sắc, các thầy hãy tư duy chân chánh, quán sát và biết một cách như thật sắc là vô thường. Vì sao vậy? Vì Tỳ-kheo, đối với sắc mà tư duy chân chánh, quán sát và biết một cách như thật sắc là vô thường, thì đối với sắc, dục tham được đoạn trừ. Do dục tham được đoạn trừ mà nói là tâm giải thoát.

“Cũng vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức các thầy hãy tư duy chân chánh, quán sát và biết một cách như thật… thức là vô thường. Vì sao vậy? Vì Tỳ-kheo, đối với thức mà tư duy chân chánh, quán sát và biết một cách như thật… thức là vô thường, thì đối với thức, dục tham được đoạn trừ. Do dục tham được đoạn trừ mà nói là tâm giải thoát.

“Như vậy, Tỳ-kheo, nếu muốn tự chứng tâm giải thoát này thì có thể tự chứng, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong và tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’

“Cũng như tư duy chân chánh về vô thường, khổ, không, phi ngã cũng như vậy.”

Bấy giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

[1] https://legacy.suttacentral.net/lzh/sa2

Nguồn gốc và lợi ích của việc tụng trì bộ kinh Lương Hoàng Bảo Sám

Bộ kinh Lương Hoàng Bảo Sám nội dung chủ yếu đề cập tới những tội báo mà chúng sinh gây tạo, từ đó hướng dẫn chúng ta sám hối để tiêu trừ nghiệp chướng, mang lại lợi ích cho bản thân và chúng sinh.

Trong chính văn có bài kệ tán thán công đức sám hối, có đoạn như thế này:

“Sám vừa cử lênTội lỗi tiêu liền;

Giải được oan trái,Trừ được tai ương;

Thoát khỏi khổ nạn,

Phước đức vô biên.”

Bộ kinh “Lương Hoàng Bảo Sám” (còn gọi là kinh Đại Sám) bao gồm mười quyển, trong đó nội dung chủ yếu đề cập tới những tội báo mà chúng sinh gây tạo, từ đó hướng dẫn chúng ta sám hối để tiêu trừ nghiệp chướng, mang lại lợi ích cho bản thân và chúng sinh.

Để hiểu hơn về nguồn gốc cũng như lợi ích tụng kinh sám hối trong bộ kinh Lương Hoàng Bảo Sám, kính mời quý Phật tử đón đọc bài viết dưới đây.

Nguồn gốc bộ kinh Lương Hoàng Bảo Sám

Nguồn gốc của bộ kinh xuất phát từ câu chuyện nguyên vua Lương Võ Đế trong lịch sử Trung Quốc hết mực yêu quý bà hoàng hậu Hy Thị. Chính vì vậy, bà thường đố kỵ, ganh ghét với cung phi, độc ác với mọi người và hủy báng, khinh khi Tam Bảo. Trong triều ngoài quận ai cũng biết Hy Thị là một “Quái phi”.

Bộ kinh Lương Hoàng Bảo Sám là bộ kinh này có công năng diệt tội, diệt trừ tiền khiên oan trái nhiều kiếp, nhiều đời

Bộ kinh Lương Hoàng Bảo Sám là bộ kinh này có công năng diệt tội, diệt trừ tiền khiên oan trái nhiều kiếp, nhiều đời

Khi bà lâm bệnh nặng, các lương y dốc lòng cứu chữa nhưng đều bất lực, không lâu sau bà từ trần. Trong một đêm khuya tĩnh mịch, vua Lương Võ Đế nghe thấy tiếng kêu van thảm thiết, bèn hỏi:- Ngươi là ai mà đêm khuya thanh vắng nghiêm mật thế này lại vào đây được?- Hoàng đế ơi! Thiếp đây chính là Hy Thị. Vì quá độc ác nên chết rồi thiếp phải đọa làm rắn mãng xà.

Ngày đêm đau khổ, thân thể tanh hôi, vi vẩy đều bị sâu trùng rúc rỉa, nhức nhối không thể chịu được. Nhớ lại tình cầm sắc xưa kia nên thiếp đến đây mong nhờ Hoàng đế tìm phương cứu thiếp.Nghe xong, vua Lương Võ Đế như thoát khỏi cơn ác mộng, lòng đau như cắt, đem chuyện kể cho bá quan trong triều. Có vị quan đề nghị thỉnh mời Hòa thượng Chí Công – một cao Tăng đắc đạo đương thời ra tay cứu giúp. Thể theo lời thỉnh cầu của nhà vua, Hòa thượng Chí Công liền triệu tập các danh Tăng, nương vào tất cả các việc làm độc ác của Hy Thị mà soạn ra Sám Pháp (hay còn gọi là Lương Hoàng Bảo Sám) và lập đàn tràng làm lễ sám hối cho hoàng hậu Hy Thị.

Trong đàn tràng, nhà vua chí tâm, thân hành lễ bái. Khi lễ tụng đến quyển thứ năm, trên không trung, vua Lương Võ Đế nghe có tiếng của Hy Thị. Bà hiện thân thiên nữ đẹp đẽ, nói tiếng người, tỏ lòng cảm ơn Hòa thượng và Hoàng đế. Nhờ công đức nhất tâm sám hối của vua Lương Võ Đế và mọi người mà bà nương vào tâm đó để cùng sám hối nên đã thoát kiếp quỷ và sanh lên Đao Lợi Thiên Cung.

Thân tướng của bà Hy Thị sau khi được tái sinh lên Đao Lợi Thiên Cung (ảnh minh họa)

Thân tướng của bà Hy Thị sau khi được tái sinh lên Đao Lợi Thiên Cung (ảnh minh họa)

Lợi ích của việc tụng kinh Lương Hoàng Sám

Chữ “sám” nghĩa là ăn năn, day dứt những tội đã tạo trong quá khứ; chữ “hối” nghĩa là hối hận, hối cải, chừa đổi, không mắc lỗi như vậy giống như trong Tứ Chánh Cần: ngăn ác, diệt ác, sinh thiện và tăng trưởng thiện.

Trong vòng luân hồi từ vô thủy kiếp đến nay, do vô minh mà chúng ta đã tạo vô số tội lỗi: phá diệt Tam Bảo, bất kính cha mẹ, tội sát sinh, hại vật, chửi bới nguyền rủa người,…Những tội nghiệp ấy đã khiến chúng sinh chịu vô lượng sự thống khổ trong địa ngục. Cho nên, việc sám hối tội chướng là vô cùng quan trọng bởi chỉ có Pháp sám hối mới dừng được tội lỗi và mới sạch được tội lỗi cho chúng ta.

Đại đức Thích Trúc Thái Minh chia sẻ về nguồn gốc và lợi ích khi tụng kinh Lương Hoàng Bảo Sám

Đại đức Thích Trúc Thái Minh chia sẻ về nguồn gốc và lợi ích khi tụng kinh Lương Hoàng Bảo Sám

Bộ kinh Lương Hoàng Sám là một bộ kinh điển hình của việc sám hối nghiệp chướng, bộ kinh này có công năng diệt tội, diệt trừ oan gia nhiều đời, nhiều kiếp. Mỗi chữ mỗi câu kinh đều nhằm mục đích đền trả bốn ơn, cứu thoát ba cõi, thay thế lục đạo mà sám hối, cầu nguyện cho tam đồ thoát khỏi trầm luân. Vậy nên việc tụng kinh Lương Hoàng Bảo Sám có 12 lợi ích như sau:

1. Nguyện hóa độ sáu đường chúng sinh không có hạn lượng.

2. Nguyện báo đáp tứ ân không có hạn lượng.

3. Nguyện nhờ thần lực của Pháp sám này khiến chúng sinh thọ cấm giới của Phật không sinh tâm hủy phạm.

4. Nguyện nhờ thần lực Pháp sám này khiến các chúng sinh đối với các bậc tôn trưởng không sinh tâm kiêu mạn.

5. Nguyện nhờ thần lực Pháp sám này khiến cho chúng sinh sinh ra nơi nào cũng không khởi tâm giận hờn.

6. Nguyện nhờ thần lực của Pháp sám này khiến các chúng sinh đối với sắc thân người khác không khởi tâm ghen ghét sắc thân.

7. Nguyện nhờ thần lực của Pháp sám này khiến các chúng sinh đối với các Pháp trong thân, ngoài thân không sinh tâm keo rít, mến tiếc.

8. Nguyện nhờ thần lực của Pháp sám này khiến các chúng sinh hễ làm được phước thiện gì đều không phải vì mình mà làm, chỉ vì những người không có ai ủng hộ, không có ai giúp đỡ mà làm.

9. Nguyện nhờ thần lực của Pháp sám này khiến các chúng sinh không vì mình mà tu Pháp tứ nhiếp mà chỉ vì hết thảy chúng sinh.

10. Nguyện nhờ thần lực của Pháp sám này khiến các chúng sinh thấy người cô độc, tù tội, tật bệnh thì sinh tâm cứu giúp cho họ an vui.

11. Nguyện nhờ thần lực của Pháp sám này khiến người tu hành thấy có chúng sinh nào đáng triết phục thì triết phục, đáng nhiếp thọ thì nhiếp thọ.

12. Nguyện nhờ thần lực của Pháp sám này khiến chúng sinh sinh ra nơi nào cũng tự nhớ nghĩ đến sự phát tâm Bồ Đề hôm nay, làm cho tâm Bồ Đề tương tục mãi mãi, không bị gián đoạn.

Hy vọng rằng, bài viết trên sẽ giúp quý Phật tử phần nào nhìn nhận chân thật những tội lỗi mà chúng ta đã gây tạo để từ đó tha thiết sám hối, tiêu trừ ác nghiệp, mang lại lợi ích cho bản thân và cho chúng sinh.

Đọc nhiều

Cần điều tra clip và xử lý cán bộ đòi chôn sống nhà sư.

Giữa lúc cơn khủng hoảng truyền thông Phật giáo đang leo thang vì những bài báo lá cải tiếp tục bồi bút sau khi...

Sự thật về người quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao...

Ngày 13/3/2021, ngay sau khi báo Thanh Niên Online đưa tin: ”Quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao cấu trẻ em:...

Cần Lên Án Báo Tuổi Trẻ Khi Đem Phật Giáo Ra Biếm Họa

Ngày 15/1/2020, Tuổi Trẻ Online đã có sự can thiệp chỉnh sửa lại thông tin đăng tải, buộc lòng phải lên tiếng xin lỗi...

Khai tôn giáo trong căn cước công dân, phải có “giấy chứng nhận xuất...

 Đây là một thắc mắc lớn mà người viết đã nhiều lần đặt ra trong khi trực tiếp thực hiện các thủ tục liên...