Thứ Hai, Tháng Chín 20, 2021

Phật Giáo- Đời Sống

Nhân quả có phải đợi kiếp sau?

Thuở xưa, có người đến hỏi một vị Thiền sư: “Bậc tu hành đã ngộ lý Chân Không, có lạc vào vòng Nhân Quả đặng?”. Thiền sư đáp: “Bậc đại tu hành chẳng lạc vào vòng nhân quả”.

HT. Thích Thiền Tâm có bài phân tích sau:

Vì câu trả lời này mà khiến cho Thiền sư phải đọa làm kiếp chồn năm trăm năm, sau gặp ngài Bá Trượng mới được giải thoát. Từ chúng sinh đọa tam đồ cho đến chư Phật thành Chính Giác đều không ngoài nhân quả. Hơn nữa, nghiệp quả của chúng sinh phần nhiều đều có tính cách bất định. Nếu chúng ta biết gắng sức dùng tâm lực để chuyển nghiệp lực, thì không cảnh Thiên cung, Phật quốc nào lại không thể tiến lên.

Trong kinh Phật thường nói: “Nhân quả báo ứng như bóng theo hình, cho dù trải qua trăm kiếp ngàn đời, những điều đã tạo ra không hề mất”

Trong kinh Phật thường nói: “Nhân quả báo ứng như bóng theo hình, cho dù trải qua trăm kiếp ngàn đời, những điều đã tạo ra không hề mất”

Quả báo tuy nhiều, song xét về phương diện thời gian hay mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại, hiện tại và vị lai, thì có thể tóm tắt trong những điểm sau:

1. Hiện báo: Ðây là quả báo trong kiếp hiện tại; có nghĩa hiện thế gây nhân thì hiện đời chịu quả. Quả báo này có tính cách mau lẹ, ví như trồng loại cà, ớt hay gieo giống lúa, chỉ trong vòng một mùa, một năm đã thu được kết quả. Hiện báo còn gọi là Hoa báo, danh từ này hàm ý nghĩa mau lẹ, ảnh hưởng không đợi đến thời kỳ sinh trái, mà đã phát lộ trong thời kết bông. Tục ngữ có câu: “Ðời xưa trả báo thì chầy. Ðời nay trả báo một giây nhãn tiền”.

2. Sinh báo: Sinh báo là gây nhân kiếp này, đời kế sau mới chịu quả báo. Quả báo này có tính cách hơi lâu, ví như trồng mụn chuối con, hạ thổ năm nay, sang năm mới có trái. Trong kinh có câu: “Muốn biết nhân kiếp trước, hãy xem sự thọ hưởng đời nay. Muốn rõ quả kiếp sau, nên xét sự tạo tác trong hiện tại”.

3. Hậu báo: Ðây là nói sự gây nhân trong đời này, đến ba, bốn, trăm, ngàn hay vô lượng kiếp sau mới thọ quả báo. Hậu báo có tính cách lâu hơn, ví như trồng những loại cây trong năm nay, đến năm, mười hay đôi ba mươi năm sau mới kết quả.

Thuở xưa, khi Phật còn ở đời, có ông Thi-Lợi-Bật-Ðề đến một trăm tuổi mới cầu xin xuất gia. Các vị Trưởng lão như Ca-Diếp, Xá-Lợi-Phất, nhập định quán sát trong vòng 84.000 kiếp về trước thấy ông thiếu căn lành nên không cho. Ðến khi Như Lai đi khất thực trở về, thấy ông khóc lóc cầu xin, liền chấp thuận. Các vị Trưởng lão hỏi duyên cớ. Ðức Thế-Tôn đáp: “Thi-Lợi-Bật-Ðề trước 84.000 kiếp, tiền thân là lão tiều phu, bị cọp đuổi gấp leo lên cây niệm một câu “Mô Phật”. Do thiện căn ấy đến nay mới gặp ta, và sẽ được đắc độ. Vì nhân lành kiếp trước của người này quá lâu xa, nên sức đạo nhãn của các ông không thể thấy biết được”. Trong kinh có bài kệ: “Giả sử trăm ngàn kiếp. Nghiệp đã tạo không mất. Khi nhân duyên gặp nhau, lại tự chịu quả báo.

4. Ðịnh báo: Ðịnh báo là quả báo nhất định phải chịu, không thể chuyển biến được, bởi sức nghiệp đã quá thuần thục, trong mười phần thành tựu cả mười. Ví như cái nhà hư hao chút ít hay nửa phần, còn có thể sửa chữa được; nếu kèo cột tường nóc đều hư mục, tất phải chờ cho nó hư hoại để làm ngôi khác. Và như bệnh ung thư trong thời kỳ nhẹ còn có thể chữa được, sang lúc quá nặng duy có phương chờ đến mãn phần. Cổ ngữ có câu: “Dược y bất tử bệnh. Tửu bất giải chân sầu”. (Thuốc chỉ trị những bệnh không chết. Rượu không thể giải mối buồn hiện thật).

Khi tin sâu vào luật nhân quả, con người dám làm, dám hi sinh về những điều tốt.

Khi tin sâu vào luật nhân quả, con người dám làm, dám hi sinh về những điều tốt.

Thuở xưa, vua Lưu-Ly cử binh đến đánh dòng họ Thích, Ðức Thế Tôn can ngăn ba lần mà không được. Tôn giả Mục-Kiền-Liên bạch hỏi sao Phật không cứu độ hàng tộc thuộc, thì ngài bảo đó là định nghiệp. Tôn giả không tin, dùng thần thông đem giấu năm trăm người họ Thích trên cung trời. Nhưng khi Lưu-Ly-Vương dẹp xong hàng Thích Chủng, thì năm trăm người ấy cũng đều thành huyết mà chết.

Ðây là một sự kiện chứng minh sức định nghiệp có công năng tuyệt đối mạnh mẽ. Cho nên chư Phật có ba việc làm được, ba việc làm không được, gọi là “Tam năng tam bất năng”. Các điều ấy là:

1. Chư Phật có thể không tất cả tướng, thông suốt tất cả pháp, nhưng không thể diệt được định nghiệp;

2. Chư Phật có thể biết cùng tận nghiệp tính của chúng sinh, rõ thấu tất cả việc trong vô biên kiếp quá khứ và vị lai, song không thể độ những chúng sinh vô duyên;

3. Chư Phật có thể độ vô lượng chúng sinh, song không thể độ hết chúng sinh giới. Bởi thế, sức người cố nhiên là hữu hạn, nhưng sức Phật vẫn chưa phải toàn năng. Nếu chúng sinh không tín hướng Ðức Như Lai, không thực hành đúng theo lời Ngài dạy, thì chư Phật, Bồ Tát cũng không thể hóa độ được.

5. Bất định báo: Ðây là nghiệp báo có thể chuyển biến sửa đổi được. Như có người trước đã tạo nghiệp lành, đáng lẽ phải hưởng phú quý trọn đời. Nhưng trong lúc làm quan, nếu kẻ ấy tham mê tài sắc, ăn của lót, cưỡng hiếp, hãm hại người, thì phước lộc lần lần tiêu giảm, có thể bị tù ngục, ô danh, hoặc chết bất đắc kỳ tử. Và như kẻ kiếp trước kém nhân lành, nên đời này thân phận nghèo khổ, hèn hạ. Song nếu người ấy biết xét lẽ nhân-quả-tội-phước, gắng sửa đổi tâm tính, hết sức làm việc phước thiện, thì tội chướng lần tiêu giảm, phước đức lần tăng thêm, có thể trong hiện tại chính mình hay con cháu sẽ tiến đến cảnh vinh quang. Ví như trong đời, người tước vị cao mà ỷ thế làm trái, thì có thể bị cách chức; kẻ có tội nhưng gắng lập công, có thể đem công chuộc tội, và nếu lập công thêm mãi tất sẽ được tấn chức thăng quan.

Nghiệp quả của chúng sinh phần nhiều đều có tính cách bất định. Nếu chúng ta biết gắng sức dùng tâm lực để chuyển nghiệp lực, thì không cảnh Thiên cung, Phật quốc nào lại không thể tiến lên. “Bụi hồng có lối về hương quốc. Cửa tội không tâm mở dạ đài”, chính là ý này vậy.

Phật dạy: Bệnh của người xuất gia

Này các Tỷ kheo, người có dục lớn, bực bội tức tối, không tự bằng lòng với bốn vật dụng. Người ấy vì dục lớn, không bằng lòng với bốn vật dụng khởi lên thèm khát, ác dục, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Vị ấy nỗ lực, cố gắng để được các điều ấy. Sau khi tính toán, vị ấy đi đến các gia đình thuyết pháp. Như vậy, này các Tỷ kheo, đây là bốn chứng bệnh của người xuất gia.

Do vậy, này các Tỷ kheo, các ông cần học tập như sau: “Ta sẽ không có dục lớn, bực bội tức tối, tự bằng lòng với bốn vật dụng. Ta sẽ không khởi lên thèm khát, ác dục, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Ta sẽ không nỗ lực, cố gắng để được các điều ấy. Ta sẽ kham nhẫn nóng lạnh, đói khát và những lời nói khó chịu… Như vậy, này các Tỷ kheo, các thầy cần phải học tập.

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ II, chương 4, phẩm Các căn, phần Bệnh [lược], VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.86)

Lời bàn:

Thiểu dục và tri túc là phương thuốc không thể thiếu cho hành trình trưởng dưỡng tâm linh, thăng hoa tuệ giác của người xuất gia.

Thiểu dục và tri túc là phương thuốc không thể thiếu cho hành trình trưởng dưỡng tâm linh, thăng hoa tuệ giác của người xuất gia.

Mong muốn nhiều, bị lợi danh trói buộc là căn bệnh trầm kha của chúng sanh. Dẫu rằng phấn đấu để đạt lợi danh chính đáng không phải là điều xấu nhưng đối với sự nghiệp giải thoát thì đó là một chướng ngại. Và nguy hiểm hơn, khi hàng sơ tâm học đạo xem những thành tựu ấy là sự nghiệp, là mục tiêu hướng đến trên bước đường tu học.

Ai cũng biết rằng mong muốn nhiều là khổ nhiều. Tuy vậy, cám dỗ của vật dục, lợi danh luôn thôi thúc, mời gọi và cuối cùng không phải ai cũng vượt qua. Những vướng mắc ấy Thế Tôn gọi là bệnh và dĩ nhiên đã vương bệnh thì phải trị liệu, chạy chữa. Do đó, thiểu dục và tri túc là phương thuốc không thể thiếu cho hành trình trưởng dưỡng tâm linh, thăng hoa tuệ giác của người xuất gia.

Điều đặc biệt nơi pháp thoại này là một số người tuy nỗ lực làm những Phật sự nhưng mục đích vì mình chứ không phải hướng đến lợi ích chúng sanh. Thân cận, thuyết pháp cho hàng cư sĩ áo trắng nhưng không hướng đến mục tiêu giáo hóa, chuyển mê khai ngộ mà chỉ nghĩ đến lợi dưỡng, danh vọng và cung kính. Và chính điều này đã đặt ra không ít thắc mắc, nghi ngờ cho nhiều người trước những việc làm nhân danh từ bi, vô ngã, vị tha.

Tham vốn hằn sâu vào tâm thức của mọi người. Chưa chứng A la hán thì tham vẫn còn. Vì thế, phải cảnh giác với tâm tham, biết chấp nhận, kham nhẫn và bằng lòng với hiện tại để sống thanh thản, nhẹ nhàng. Hay nói cách khác, đối với người xuất gia, tham là bệnh. Căn bệnh này sẽ được giảm thiểu và chữa lành nếu siêng năng dùng các phương thuốc thiểu dục, tri túc, kham nhẫn và nỗ lực thiền quán để quét sạch vô minh, thành tựu tuệ giác.

Tôn Giả Đại Ca Diếp Với Hạnh Đầu Đà Đệ Nhất

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại Veluvana. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa (Đại Ca Diếp) đi đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Mahà Kassapa:

Tôn giả Đại Ca Diếp là vị đại đệ tử của Đức Phật luôn tinh tấn tu tập và trở thành một người gương mẫu với phẩm hạnh đầu đà cao quý trong giáo đoàn. Những công năng, diệu dụng của mười ba pháp đầu đà không sao kể xiết mà Tôn Giả đã tiếp nối duy trì cho hàng hậu học.

“Người thiếu phước, thiếu căn duyên, có nghiệp nặng, có kiếp sống thấp hèn, hạ liệt không thể thọ mười ba pháp đầu đà được; như kẻ lên làm vua mà thiếu đức, thiếu phước sẽ tự rước khổ vào mình. Chỉ có những vị Tỳ kheo tri túc, tinh tấn, siêng năng, không bộ điệu, có đức tin… có chí nguyện xa lìa sinh tử, mới thọ trì được. Người thực hành mười ba pháp đầu đà trước sau cũng sẽ đắc thắng trí thần thông hoặc Niết bàn an lạc.” – Trích kinh Mi Tiên Vấn Đáp. Là vị đại đệ tử của Đức Phật, Tôn giả Đại Ca Diếp luôn tinh tấn tu tập và đã trở thành một người gương mẫu với phẩm hạnh đầu đà cao quý trong giáo đoàn của Phật. Những công năng, diệu dụng của mười ba pháp đầu đà không sao kể xiết mà Tôn Giả đã tiếp nối duy trì cho hàng hậu học thời sau được học hỏi và tu tập.

Đức Phật dạy Ca Diếp Bồ tát phân biệt chính tà

Tôn giả Đại Ca Diếp có phước tướng đầy đủ, tư chất thông minh; không ham thích các lạc thú ở đời, khác hẳn những người bạn cùng trang lứa.

Tôn giả Đại Ca Diếp có phước tướng đầy đủ, tư chất thông minh; không ham thích các lạc thú ở đời, khác hẳn những người bạn cùng trang lứa.

Sơ lược về cuộc đời Tôn giả Đại Ca Diếp

Xuất thân trong một gia đình Bà La Môn tại xứ Ma-Kiệt-Đà, Tôn giả Đại Ca Diếp có phước tướng đầy đủ, tư chất thông minh; không ham thích các lạc thú ở đời, khác hẳn những người bạn cùng trang lứa. Đại Ca Diếp thường tỏ ra nhàm chán, thích xa đám đông và ở riêng một mình. Để cha mẹ bằng lòng, Ngài đã cưới vợ tên là Bạt Đà, một cô gái rất xinh đẹp con nhà giàu có trong vùng. Sau lễ cưới, hai người mới nhận ra đều cùng chung chí nguyện, thích phạm hạnh, ghét ngũ dục. Khi cha mẹ mất, Ngài Đại Ca Diếp tạm biệt Bạt Đà lên đường tìm thầy học đạo và hứa sau khi tìm được bậc minh sư sẽ về đón Bạt Đà để cùng tu. Sau nhiều năm lang thang khắp chốn, khi đủ duyên lành được gặp và xuất gia trong giáo Pháp bất tử của Đức Thế Tôn, Tôn giả Đại Ca Diếp chân thật thực hành các Pháp tu khổ hạnh, luôn tỉnh giác, bền chí chiến đấu để vượt qua chính mình đã giúp Ngài sớm chứng đạt đạo. Với phẩm hạnh cao quý, Tôn giả đã được các Tỳ kheo đương thời tôn xưng là đầu đà đệ nhất khi thực hành 13 Pháp có năng lực tịnh hóa tâm hồn: “1. Mặc y phấn tảo; 2. Chỉ mặc 3 y; 3. Phải khất thực để sống; 4. Khất thực theo thứ lớp; 5. Ngồi ăn 1 lần; 6. Ăn bằng bình bát; 7. Không để dành đồ ăn; 8. Sống ở trong rừng; 9. Ở dưới gốc cây; 10. Ở ngoài trời; 11. Ở nghĩa địa; 12. Nghỉ ở đâu cũng được; 13. Không nằm ngủ”. Khi đã được an trú trong niềm vui giải thoát, Ngài đã đón người vợ của mình năm xưa được bước vào ngôi nhà Như Lai. Điều đặc biệt của Tôn giả khi trì bát khất thực là Ngài chỉ đến khất thực trước nhà người nghèo để họ gieo trồng những hạt giống tốt lành trong ruộng phước điền tối thượng.

Truyện thơ: Tôn giả Đại Ca Diếp

Đại đệ tử của đức Phật - Tôn giả Đại Ca Diếp.

Đại đệ tử của đức Phật – Tôn giả Đại Ca Diếp.

Độ bà lão nghèo – Tấm lòng từ bi cao cả của Tôn giả Đại Ca Diếp

Trong giáo đoàn của Đức Thế Tôn cũng có một số vị Tỳ kheo, sau khi xuất gia thì xa rời thiền định, biếng trễ, ham lợi dưỡng, hay bắt dân chúng cúng dường để xây tịnh xá cho riêng mình. Để độ cho những vị ấy, vào một ngày nọ, trên đường vào thành Vương Xá khất thực cùng với nhóm Tỳ kheo kia, Ngài thấy một bà lão ăn mày sắp chết nằm rên rỉ bên vệ đường, thân thể lở loét, máu mủ khắp người khiến ai cũng kinh hãi. Tôn giả chậm rãi đến gần, đưa bình bát về phía bà lão để xin đồ ăn và nói với bà lão biết mình là đệ tử của Đức Phật tôn quý. Khi thấy một người tu hành rất đỗi trang nghiêm đến xin đồ ăn, bà lão già rất bất ngờ; Ngài đã khuyến hóa bà lão “bán cái nghèo” cho mình để tạo nhiều phước báu giàu sang, phú quý. Do dự hồi lâu vì chẳng có tài sản gì ngoài bát cháo thiu đã bốc mùi. Hiểu được lời dạy và cảm nhận được sự cao quý, thanh khiết của Tôn giả, bà lão với tâm tràn đầy hỷ lạc, quên cả sự ô uế nơi thân mình, đã thành tâm dâng cúng vào bình bát của Ngài. Khi đưa bát cháo lên, dịch mủ ở tay bà còn rớt vào bình bát của Tôn giả.

Tôn giả Đại Ca Diếp: Thánh nhân có giới hạnh vô song

Tôn giả Đại Ca Diếp độ bà lão nghèo

Tôn giả Đại Ca Diếp độ bà lão nghèo

Nhìn thấy hình ảnh đó các Tỳ kheo cùng bà lão rất kinh sợ. Nhưng Tôn giả vẫn hoan hỉ thọ nhận và ngay tại chỗ, uống cạn bát cháo của bà lão dâng cúng. Trước việc làm cao quý của Ngài, bà lão vui mừng khôn xiết. Cũng nhờ duyên lành này, sau khi chết, thần thức của bà lão được tái sinh lên cõi Trời, sống trong cảnh giới an vui, hạnh phúc. Các Tỳ kheo lười biếng và ưa lợi dưỡng kia cũng tìm cho mình được bài học về tâm quảng đại, không chấp trước, tinh tấn tu tập tất cả vì lợi ích của chúng sinh.

Việc làm cao quý không thể nghĩ bàn của bậc Thánh giả, Tôn giả Đại Ca Diếp đã cứu độ mọi người hướng đến sự an vui, hạnh phúc trong giáo Pháp nhiệm màu của Đức Thế Tôn.

Người đệ tử Phật phải mở rộng tấm lòng từ bi của mình như tấm lòng cao cả của Ngài Đại Ca Diếp với bà lão nghèo. Việc làm của những bậc trí tuệ tất cả chúng sinh muôn loài được gieo duyên lành trong giáo Pháp của Đức Thế Tôn. Con đường hoàn thiện mình không hề bằng phẳng, dễ dàng mà đầy rẫy chông gai, khó khăn, chướng ngại. Những ai đang thực hành các Pháp đầu đà khổ hạnh để tăng trưởng lòng từ cao quý này mới nhận được lợi ích chân thật. Từ đây, con đường thành tựu rốt ráo trong tu tập luôn rộng mở với những ai luôn tinh tấn.

  Trí Giác Hiếu/phatgiaoorg

Cảm Ơn Các Bạn – Nhưng Người Hùng Của Tớ

Các bạn Tình nguyện viên thân mến ơi, hôm nay các bạn có khỏe không…? 🥰🥰🥰☘ Khi được đọc những lời tâm sự của các bạn, được thấy những hình ảnh mà các bạn chia sẻ, bỗng nhiên tớ như người đi lạc vào thế giới đa cảm xúc: vui có, buồn có, tự hào có và lo lắng cũng có luôn…

🙃🙃🙃☘ Không ít lần tớ tự hỏi:”Sao các bạn siêu nhân quá vậy??? Sao các bạn có thể mặc bộ đồ bảo hộ ngày này qua tháng nọ??? Đeo khẩu trang 24/24 làm sao thở nổi trời??? Cơ địa tròn mập không chịu nóng được như mình chắc bỏ cuộc sớm quá…” Vì sao, vì sao và vì saoooooo???

😆 😆 😆☘ Sau hồi lâu lướt facebook, vào group NKCD đọc văn, ngẫm thơ, ngắm hình và tòn ten vào xem vài chục trang cá nhân của các bạn, kết quả là tớ đã tìm đáp án. Một câu trả lời rất chi là ngắn gọn, xúc tích và vô cùng chính xác:”… VÌ CÁC BẠN LÀ NGƯỜI HÙNG CỦA TỚ…”

🥰🥰🥰☘ Cảm ơn các bạn đã cho tớ xem những trích đoạn đẹp nhất ngay thời thanh xuân của các bạn, giai đoạn đầy ắp những hoài bão, nhiệt huyết và tình thương. Các bạn vừa là đạo diễn tài tình dám vẽ lên tuổi trẻ của riêng mình, các bạn vừa là diễn viên tài ba khi đóng được nhiều vai trong giai đoạn ấy…

❣ ❣ ❣☘ Lúc trước tớ nghĩ rằng, chỉ những ai có chuyên môn y khoa mới có thể tiếp xúc và chăm sóc trực tiếp bệnh nhân, và các bạn không có chuyên môn chỉ có thể tham gia tình nguyện ở khâu hậu cần, nhưng thực tế không phải vậy, tớ đã lầm, một sai lầm to bự…

🥴🥴🥴☘ Khó có thể nhìn ra cảnh một chàng sinh viên cơ khí đô con vốn quen làm những việc mạnh, nay có thể nhẹ nhàng cầm que test nhanh cho hàng trăm người dân mỗi ngày; hay hình ảnh cô gái nhân viên văn phòng thường ngày ngồi máy lạnh nay phải mặc bộ đồ bảo hộ nóng bức để làm việc của một y tá. Rồi có bạn vốn là “con trai vàng, con gái ngọc” của gia đình, ở nhà cơm không biết nấu, đồ không biết giặt, ấy vậy mà khi “vào chiến trận”, các bạn lại có thể đấm lưng, đút cơm và kiêm luôn việc giặt đồ, thay tã cho những cụ già một cách khéo léo… Động cơ mạnh mẽ nào, thế lực thần thánh nào có thể khiến các bạn làm được những điều ấy… Phải chăng hết thảy đều xuất phát từ TÌNH THƯƠNG và được duy trì bằng Ý CHÍ…

❤️❤️❤️☘ Làm việc cao độ liên tục trong một thời gian dài chắc chắn vô cùng mệt mỏi, ấy vậy mà tớ chưa từng thấy qua một lời than vãn nào từ các bạn. Mạnh mẽ là vậy, lạc quan là vậy, nhưng tớ biết sau những hình ảnh tươi vui đi kèm những status dí dỏm ấy là cả một chuỗi dài kín những tâm tư. Để thực hiện lý tưởng của mình, các bạn đã phải đánh đổi nhiều thứ: sự lo lắng của gia đình, công việc và sức khỏe cá nhân… Nhiều bạn đã mạnh dạn bảo lưu điểm và tạm dừng bảo vệ luận văn tốt nghiệp để tham gia tình nguyện. Cũng có bạn rất chi là dễ thương khi chấp nhận “bị người yêu bỏ” để đi chống dịch… Tớ tin chắc rằng, mặc dù lo lắng nhưng gia đình và người thân sẽ tự hào về các bạn, họ sẽ rất vui khi nói cho cả thế giới biết:”Con/anh/chị/em/bạn của tôi là tình nguyện viên chống dịch covid-19”…

👨‍👩‍👧‍👦 👨‍👩‍👧‍👦 👨‍👩‍👧‍👦☘ Cảm ơn các bạn đã lan tỏa năng lượng tích cực đến cho mọi người, đặc biệt là khơi dậy lửa nhiệt huyết cho các bạn trẻ khác. Tớ vô cùng ngưỡng mộ các bạn…

🤝🤝🤝☘ Ngay lúc này đây, tại các bệnh viện và các khu dã chiến, khi các bạn còn đang tất bật làm việc, chạy đua với thời gian, cùng bệnh nhân chiến đấu với sanh tử, tớ lại ngồi đây làm “anh hùng bàn phím”. Tớ cảm thấy mình thật nhỏ bé so với các bạn. Dẫu vậy, tớ vẫn xin góp một niệm ân, gởi một niệm thương vào trong biển tình cùng mọi người hướng về các bạn….

💞 💞 💞🙏 Nguyện chúc các bạn thân luôn khỏe, tâm luôn an, chí luôn mạnh để tiếp tục cống hiến và hoàn thành tâm nguyện của mình…🙏 Nguyện cầu dịch bệnh chóng qua, nước nhà sớm ổn, thế giới yên bình để chúng ta có thể vẽ tiếp bức tranh tươi đẹp của cuộc đời mình…🙏 CẢM ƠN CÁC BẠN – NHỮNG NGƯỜI HÙNG CỦA TỚ 🙏… Xin cảm ơn mọi nhân duyên trong đời

… Hạnh phúc thay

… Nguyện chúc an lành

🙏 🙏 🙏 🙏 🙏 🙏 🙏

SG – 17/09/2021
Vạn Thiền

Nguồn: facebook Vạn Thiền

Ngẫm nghĩ lời Phật dạy về việc nhẫn nhịn trong cuộc sống

Đức Phật từng dạy rằng: “Nhứt thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điển, ưng tác như thị quán“. Câu này có nghĩa là, ở đời chúng ta phải học lấy chữ nhẫn, biết nhẫn nhịn, bởi đó là phương pháp tu tập tạo nên nghiệp lành, vãn sanh cực lạc.

loi-phat-day-ve-viec-nhan-nhin-trong-cuoc-song
Chữ Nhẫn trong tiếng Trung là nhẫn trong nhẫn nại, nhẫn nhịn (忍耐).

Chữ Nhẫn trong tiếng Trung được ghép từ 2 chữ tượng hình là đao (刀) ở trên và tâm (心) ở dưới, là nhẫn trong nhẫn nại, nhẫn nhịn (忍耐). Trong nhà Phật, ý nghĩa chữ Nhẫn được đẩy tới mức tối đa tột cùng. Nhẫn nhục (Ksanti, Khanti) có nghĩa là cái tâm an tĩnh, không động trước tất thảy mọi sự sỉ nhục, tổn hại tới.

Nhiều người cho rằng, nhẫn nhịn hay nhẫn nhục có nghĩa là chịu đựng, cam chịu, thấy việc không như ý cũng đành bỏ qua, chỉ mong bản thân yên ổn. Hoặc là, họ cho rằng nhẫn nhịn là chịu luồn cúi, hạ mình để đạt được mục đích, có thể là đạt được địa vị, có thể là không còn bị chèn ép. Thế nhưng, nhẫn nhịn như vậy tuy bề ngoài thấy yên ổn nhưng trong tâm lại tích tụ phiền não, khổ đau, tâm như vậy làm sao mà thanh tịnh, an yên.

loi-phat-day-ve-viec-nhan-nhin-trong-cuoc-song
Lời Phật dạy về nhẫn nhịn chính là nhẫn trước sự khinh bỉ, nhục mạ, dù có thế nào cũng giữ cái tâm bình thản.

Lời Phật dạy về nhẫn nhịn chính là nhẫn trước sự khinh bỉ, nhục mạ, dù có thế nào cũng giữ cái tâm bình thản, thanh tịnh, không giận tức. Nhẫn nhịn là chấm dứt các tranh cãi vô lý, lấy cái chánh niệm mà thắng tà niệm, lấy tình thương yêu mà cảm hóa sân hận, là dùng trí huệ khiến tất thảy mọi sự ôn hòa.

Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói rằng: “Ta hiểu rõ cái tinh túy của ‘không tranh giành’, có thể nói là thiên hạ đệ nhất”. Kinh Phật cũng ghi rằng: “Thái độ đối nhân xử thế đoan chính, nét mặt kiền tịnh tinh khiết, phong thái dung mạo tốt đẹp, đây đều là từ trong ‘Nhẫn’ mà đạt được”.

Lời Phật dạy về nhẫn nhịn có thể được đúc lại qua bài kệ như sau:

“Nhịn được cái tức một lúc

Tránh được mối lo trăm ngày

Muốn hòa thuận trên dưới

Nhẫn nhịn đứng hàng đầu

Cái gốc trăm nết

Nết nhẫn nhịn là cao

Cha con nhẫn nhịn nhau

Vẹn toàn đạo lý

Vợ chồng nhẫn nhịn nhau

Con cái khỏi bơ vơ

Anh em nhẫn nhịn nhau

Trong nhà thường yên ấm

Bạn bè nhẫn nhịn nhau

Tình nghĩa chẳng phai mờ

Tự mình nhẫn nhịn được

Ai ai cũng mến yêu

Người mà chưa biết nhẫn

Chưa phải là người hay”

Tất nhiên, làm con người ở kiếp này thì được mất, hơn thua là điều khó tránh. Cuộc sống mỗi người muôn màu muôn vẻ, dù là thăng trầm ra sao thì đều đáng quý như nhau. Chỉ khi ta trải qua hết hỷ nộ ái ố của đời người thì cuộc sống mới có ý nghĩa. Đâu phải cứ bình yên mãi mà tâm sẽ yên, phải là tâm thanh tịnh mới thấy đời an lành. Đứng trước bi ai, khổ ải mà không biết nhẫn thì tâm chỉ chờ trực mà bùng phát, tâm dục chỉ chực khởi niệm, ấy sẽ gây họa khôn lường.

loi-phat-day-ve-viec-nhan-nhin-trong-cuoc-song
Cuộc sống mỗi người muôn màu muôn vẻ, dù là thăng trầm sướng khổ ra sao thì đều đáng quý như nhau.

Nhiều cặp vợ chồng vì nóng giận nhất thời mà cãi nhau, chửi bới nhau, vô tình làm tổn thương chính mình, khiến mối thâm tình bao năm bỗng đổ vỡ, đến khi tỉnh thức mới thấy hối hận. Bạn bè vì không kiềm chế được mà đả thương đối phương, nhẹ thì mất đi tri kỉ đời này hiếm gặp, nặng thì đến khi vào tù ra tội mới hối tiếc phút giây nóng giận. Sân hận chỉ làm mất đi lý trí, khiến thân này tích nghiệp, oán kết tầng tầng lớp lớp chồng chất, nghiệp báo luân hồi mãi không giải được, kéo dài từ kiếp này sang kiếp nọ.

Theo lời Phật dạy học cách nhẫn nhịn, không phải là hạ thấp mình mà là tự nâng mình lên, tự học cách tỉnh thức bản thân mà giúp thức tỉnh người khác. Nhẫn nhịn được thì dù có sa cơ lỡ vận cũng không bi lụy, không đổ tại người, mà có trí huệ sáng suốt tự giải thoát cho mình. Mọi việc trên đời đều do nhân duyên mà nên, là vì thiện duyên hay ác duyên từ kiếp trước đã tạo. Kiếp này có duyên đến với đạo Phật thì thành tâm mà tu tập, tạo duyên lành, vừa trả nghiệp vừa tiêu nghiệp, khi ấy mới là sống cuộc đời an yên.

Học cách bao dung, tha thứ cho người khác, ấy là đạt được cảnh giới đắc đạo thành tiên.

Một khi đã nhận thức được điều này, chúng sinh tự khắc sẽ không còn than trời oán đất, nhận diện được thân tâm mà không tạo ra ác nghiệp. Khi ấy ta cũng như các chúng sanh khác cùng sống trong cảnh thanh bình, lập cõi Tịnh Độ ngay tại nhân gian.

Học cách bao dung, tha thứ cho người khác, ấy là đạt được cảnh giới đắc đạo thành tiên. Người Phật tử nhận thức được điều này thì hãy phát khởi tín tâm, nghe theo lời Phật dạy mà quan sát thế gian, tu tập thân tâm. Như thế thì đời sống hiện tại tự khắc an yên tự tại, tương lai sẽ tái sinh về cảnh giới tốt đẹp hơn, tâm thanh tịnh các kiếp sau đều an lành.

Chi Nguyễn

Phật Giáo Đời Sống
Quý vị đang xem tin bài của Phật Giáo Và Đời Sống.
Mong quý vị quan tâm, ủng hộ nhiều hơn tại website Phật Giáo Và Đời Sống: https://phatgiaodoisong.vn/
Giấy phép hoạt động số 394/GP-BTTTT do Bộ Thông tin Truyền thông cấp ngày 15/09/2020.
Trân trọng cảm ơn quý vị! Kính chúc quý vị luôn an lạc và hạnh phúc trong đời sống.

28 điều hãy làm cho cha mẹ. Đừng phí hoài thời gian mà tạo ra tiếc nuối sau này

“Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ, gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha”. Chúng ta không tự nhiên cất tiếng khóc oa oa chào đời, cũng không tự nhiên biết đi, biết nói, cũng chẳng tự nhiên mà lại khôn lớn thành người. Trong từng bước chân ta đi trên cuộc đời này, trong từng hơi thở đều không thể thiếu vắng tình yêu thương mà cha mẹ dành cho chúng ta.

Tình yêu và bóng dáng của cha mẹ luôn theo sát mỗi chặng đường con đi

Còn nhớ những ngày bé thơ, đói cơm khát nước chúng ta cũng khóc, trong người khó chịu chúng ta cũng khóc. Cha mẹ lại hớt hải chạy đến vỗ về, cho chúng ta bú mớm, bón từng thìa cơm, thay tã lót cho chúng ta. Những hôm chúng ta trái gió trở trời cha mẹ cũng thao thức suốt canh thâu. Khi ấy vài tiếng đồng hồ như kéo dài muôn thuở, bởi cha mẹ không nguôi lo lắng cho chúng ta. Chỉ khi thấy nụ cười trên mặt đứa con thơ cha mẹ mới thở phào nhẹ nhõm.

Chúng ta lớn thêm chút nữa, bắt đầu bi bô đánh vần từng con chữ. Cha mẹ cũng đã đuối sức sau một ngày tất bật hòa vào dòng người đông nghìn nghịt, mướt mát với công việc ở cơ quan và lại sấp ngửa về lo cơm nước, việc nhà. Dẫu vậy, cha mẹ vẫn nhẫn nại hướng dẫn chúng ta từng bài đọc vỡ lòng, từng phép toán giản đơn. Khi thấy chúng ta say giấc cha mẹ mới yên lòng khép lại đôi mi.

Cha mẹ dành hết thảy tâm huyết và tuổi xuân cho chúng ta. Nhưng khi chúng ta lớn lên, cha mẹ lại sẵn lòng buông tay để những đứa con thân yêu của mình có thể bay cao hơn, xa hơn. Chúng ta lại bận rộn với công danh sự nghiệp, chuyện tình yêu và gia đình nhỏ của mình. Dẫu rằng không còn sớm tối ở bên con nhưng tình yêu của cha mẹ dành cho chúng ta chẳng khi nào vơi cạn

Khi còn nhỏ, cha mẹ là tấm bình phong che mưa che gió, che những ngày bão táp trước sóng gió cuộc đời để chở che, bảo vệ chúng ta. Khi chúng ta trưởng thành, có thể tự bước đi trên đôi chân của mình, cha mẹ vẫn đau đáu một lòng cầu mong hạnh phúc cho con. Đôi khi chúng ta mải mê với cuộc sống, mải mê thực hiện khát vọng của bản thân mình, mải mê chăm sóc gia đình nhỏ yêu dấu của mình mà quên mất bóng dáng ai kia ra ngóng vào trông. Dẫu rằng không còn sớm tối ở bên con nhưng tình yêu của cha mẹ dành cho chúng ta chẳng khi nào vơi cạn.

Đi khắp thế gian này biết tìm đâu ra người tốt với chúng ta hơn cha mẹ mình, những người chỉ biết cho đi, không bao giờ mong cầu nhận lại? Chúng ta lại ngại ngùng nói những lời bày tỏ yêu thương với cha mẹ. Vì sao vậy nhỉ? Có điều gì khiến chúng ta ngại ngùng đến vậy?

Bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông xoay vần, lấy đi mái tóc xanh mượt đầy sức sống của mẹ, lấy đi vóc dáng cường tráng một thời của cha, phủ lên mọi thứ một lớp bụi thời gian. Đến khi chúng ta thảng thốt nhìn lại mới giật mình vì cha mẹ đã khác trước nhiều lắm. Những nếp nhăn đã hằn sâu thêm trên nụ cười của cha mẹ, gánh nặng cuộc đời cũng khiến cha mẹ già yếu hơn. Chiếc lưng đã còng thêm một chút, làn da không còn sáng bóng như xưa. Những đứa con thơ bé khi xưa không khỏi thở dài: Cha mẹ đã già thật rồi.

Ai cũng biết rằng, cha mẹ không thể sống mãi với chúng ta, sẽ có một ngày cha mẹ rời bỏ chúng ta đi về một nơi rất xa. Chúng ta cũng biết vậy, mà sao cuộc sống bận rộn cứ vô tình kéo chúng ta xa dần khỏi vòng tay cha mẹ. Chúng ta cố gắng chăm lo cho cha mẹ có được một cuộc sống vật chất tốt nhất trong khả năng của mình. Nhưng chúng ta quá bận rộn, không thể dành nhiều thời gian bầu bạn cùng cha mẹ. Chúng ta cũng ngại ngùng nói những lời bày tỏ yêu thương. Vì sao vậy nhỉ? Có điều gì khiến chúng ta ngại ngùng đến vậy? Sao chúng ta không thể thoát khỏi lớp vỏ ngoài kia để nói với cha mẹ rằng: “Con yêu cha mẹ nhiều lắm!”.

28 hành động vô cùng nhỏ bé sưởi ấm trái tim của những đấng sinh thành

Nếu quả thực là bạn vẫn không thể cất nổi tình yêu trong sâu thẳm trái tim mình thành những lời yêu thương dành cho cha mẹ, thì bạn cũng có thể làm theo 28 cách dưới đây. Dẫu là những hành động không lời vô cùng nhỏ bé cũng đủ để sưởi ấm trái tim của những đấng sinh thành.

  1. Ghi nhớ ngày sinh của cha mẹ và chuẩn bị những món quà xinh xắn bất ngờ dành tặng cho cha mẹ. Nếu có thể vượt lên sự ngại ngùng của bản thân, bạn có thể gửi lại một tin nhắn, một lời chúc mừng, hay nói với cha mẹ rằng: “Con yêu cha mẹ! Con nhớ cha mẹ!”
  2. Cố gắng thu xếp thời gian về bên cha mẹ. Nếu không thể làm được thì một tuần hãy gọi điện thăm hỏi cha mẹ đôi lần! Có thể bạn không biết phải nói gì, thì hãy cứ để cha mẹ huyên thuyên những gì muốn nói. Bạn chỉ cần lắng nghe và đôi khi bày tỏ vài lời thích hợp là được rồi.
  3. Hàng năm hay vài năm có thể mời cha mẹ tới một nơi nào đó, để cùng trải nghiệm và thay đổi không khí. Nhưng bạn phải nhớ rằng cha mẹ già rồi nên sẽ ngại ra ngoài vì bất tiện. Bạn hãy chuẩn bị thật chu đáo cho chuyến đi, để cha mẹ yên lòng, không phải hốt hoảng khi rời xa mái nhà thân thuộc của mình.
  4. Thường xuyên chụp ảnh cùng cha mẹ, đặc biệt là nên dẫn theo bạn gái, hay vợ con bạn. Hãy để cha mẹ có cảm giác mình vẫn là một phần quan trọng trong cuộc sống của bạn.
  5. Chăm chỉ trả lời tin nhắn hỏi han của cha mẹ. Đừng vì những cuộc điện thoại ‘càm ràm’ của cha mẹ mà tỏ ra khó chịu hay giận dỗi. Có thể bạn quá bận rộn và không muốn bị cắt đứt dòng suy nghĩ lúc đó. Hãy nói cho cha mẹ biết khi nào có thể gọi cho bạn hay bạn có thể gọi lại, để họ yên lòng.
  6. Nếu có điều kiện thời gian, kinh tế hãy đưa cha mẹ đi du lịch xa, để bớt đi nỗi cô đơn và tăng thêm trải nghiệm cho cuộc sống.
  7. Hãy tìm cho cha mẹ những người bạn già có thể cùng nhau chia sẻ buồn vui trong cuộc sống. Bởi lẽ có những điều chúng ta không thể thấu hiểu khi chưa có những trải nghiệm của những người cao tuổi.
  8. Thường xuyên trò truyện, tâm sự với cha mẹ. Hãy kể về công việc, cuộc sống của mình, về những người bạn mới hay những chuyện thú vị của bạn. Cha mẹ sợ nhất là trở thành một người thừa trong cuộc sống của bạn, sợ bạn không cần đến họ nữa, sợ sự cô đơn của tuổi già gặm nhấm trái tim họ. Hãy để họ bước vào cuộc sống của bạn và yên lòng vì biết rằng con của họ vẫn ổn.
  9. Thức ăn phải được nấu thật chín, thật mềm. Bởi lẽ răng của cha mẹ không còn chắc như xưa. Nó đã yếu và lỏng hơn rất nhiều rồi. Đôi khi cha mẹ chỉ có thể nhai lạo xạo vài miếng và nuốt vào cho no bụng. Hệ tiêu hóa của người già cũng không còn tốt như khi còn trẻ.
  10. Vào những ngày đông lạnh lẽo, hãy chuẩn bị những đồ giữ ấm cho cha mẹ, như một đôi dép bông đi trong nhà cho khỏi lạnh bàn chân, những chiếc túi sưởi, hay những chiếc chăn ấm, đệm êm, để cha mẹ có thể ngủ ngon giấc.
  11. Hãy học một vài cách dưỡng sinh tốt cho sức khỏe của cha mẹ và xem cha mẹ có hứng thú không. Hãy chuẩn bị chu đáo những loại thuốc thường dùng trong nhà như thuốc đau đầu, sổ mũi, cảm cúm, đi ngoài… Hay sắm những vật dụng bảo vệ sức khỏe phù hợp như ghế mát xa, bồn ngâm chân…
  12. Thường dẫn vợ chồng, con cái về thăm nhà. Nếu không thể thì hãy lên một kế hoạch dài hơi hơn cho cha mẹ.
  13. Hàng năm hãy giúp cha mẹ rửa chân một lần, đấm lưng một lần, chải đầu một lần, cắt móng chân móng tay một lần. Thuở ấu thơ cha mẹ vẫn thường làm những việc ấy cho chúng ta với lòng yêu thương bao la. Có khi nào chúng ta để ý rằng mắt cha mẹ đã mờ, lưng cha mẹ không thể cúi xuống để làm những việc đơn giản, nhỏ bé như vậy không?
  14. Để ý xem cha mẹ thích ăn gì, và hãy tự mình làm cho cha mẹ một vài món. Bạn còn nhớ khi nhỏ cha mẹ đã làm cho chúng ta rất nhiều món ngon và hạnh phúc ngắm nhìn chúng ta ăn ngon lành không?
  15. Hãy chăm lo chuyện ăn ở đi lại cho cha mẹ thật chu đáo. Nếu điều kiện cho phép có thể biếu cha mẹ chút tiền tiêu vặt. Hàng năm mua cho cha mẹ một vài bộ quần áo mới để cha mẹ cảm nhận sự dễ chịu và tình yêu của chúng ta.
  16. Lắng nghe cha mẹ kể chuyện ngày xưa, kể về những hồi ức trong quá khứ. Nếu có thể hãy ghi âm để làm ấm nóng lại những ký ức của cha mẹ.
  17. Nếu cha mẹ bị ốm thì bạn phải hiểu rằng tình thân luôn là số một, sự nghiệp mới là số 2. Trong thời gian cha mẹ lâm bệnh nếu có thể thu xếp được thì hãy tự mình chăm sóc từng miếng ăn giấc ngủ cho cha mẹ, không được sợ bẩn, sợ nọ sợ kia. Hãy nhớ lại khi xưa chúng ta ốm đau cha mẹ đã lo lắng cho chúng ta như thế nào.
  18. Hãy ở bên cạnh cha mẹ vào những ngày quan trọng, để cha mẹ biết rằng bạn vẫn luôn nhớ tới họ và coi cha mẹ là một phần quan trọng trong cuộc sống của mình.
  19. Người già hay thích nói nhiều vì sợ cô đơn và thấy mình không còn có ích nữa. Hãy lắng nghe cha mẹ và giúp cha mẹ mở được nút thắt vướng bận trong tâm.
  20. Đừng chỉ chân, chỉ tay trước mặt cha mẹ, đừng tỏ thái độ trước mặt cha mẹ, đừng đối đầu hay làm cha mẹ xấu hổ.
  21. Nếu bạn đã lập gia đình, hãy yêu thương và kính trọng lẫn nhau. Nếu hai vợ chồng nhất thiết phải tranh cãi, thì cũng cần tránh lúc cha mẹ có mặt ở đó. Người già kỵ nhất là trong nhà bất hòa.
  22. Nếu bạn đã lập gia đình thì vợ chồng cần bao dung, tôn trọng và thực lòng kính yêu cha mẹ của hai bên. Hai vợ chồng tôn trọng, yêu thương nhau, đừng để cha mẹ phải lo lắng, tức giận hay bị tổn thương.
  23. Mua một loại bảo hiểm phù hợp cho cha mẹ, chỉ đơn giản là để cha mẹ yên tâm và cảm nhận được tình yêu của chúng ta.
  24. Hoàn thành những tâm nguyện cha mẹ chưa thể thực hiện khi còn trẻ: Dẫu là cảm giác bay bổng giữa bầu trời bao la hay ngắm những con sóng dạt dào ngoài biển khơi, hay leo lên những đỉnh núi cao…
  25. Cùng đi dạo, nói chuyện và tập thể dục với cha mẹ.
  26. Dẫn cha mẹ đi xem phim, cùng cha mẹ hát karaoke để cùng hòa nhập và trải nghiệm hơi thở của cuộc sống hiện đại.
  27. Ủng hộ những sở thích riêng tư lành mạnh của cha mẹ một cách vô điều kiện, tôn trọng sự lựa chọn và quyết định của cha mẹ.
  28. Yêu mến tất cả mọi người và giữ lấy tinh thần: “Yêu tất cả những bậc làm cha làm mẹ trong thiên hạ như cha mẹ của chính mình, yêu tất cả những đứa trẻ trong thiên hạ như con cái của chính mình”. Hãy mở rộng tình yêu thân quyến của mình thành tình yêu bao la với tất cả mọi người và những sinh mệnh trên thế gian. Đây cũng là sự hiếu thuận lớn nhất với cha mẹ vậy!

Khi chúng ta lớn lên, trưởng thành rồi va vấp trong cuộc sống xô bồ này, sẽ đến một lúc chợt nhận ra rằng: “Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ, gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha”.

Tình cảm của mẹ cha dành cho những đứa con vẫn luôn cứ bao la dạt dào như thế. Vậy nên, nếu ai đó vẫn may mắn có mẹ cha bên đời, hãy yêu thương và quan tâm mẹ cha hơn nữa, hãy trân trọng từng giây phút ở bên họ, bởi bạn sẽ chẳng bao giờ biết được điều gì sẽ đến với bạn ngày mai.

Thanh Phong

Ứng dụng văn hoá Phật giáo trong cuộc sống

Mỗi chúng ta nên áp dụng giáo lý đạo Phật trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 hiện nay để cùng vượt qua cơn nan khó này… Đó là chia sẻ của Thượng toạ Thích Thọ Lạc – Trưởng ban Văn hoá TƯ GHPGVN với tập thể lãnh đạo, cán bộ nhân viên và các đối tác, doanh nhân của Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp.

Phật giáo du nhập vào Việt Nam hơn 2000 năm lịch sử và văn hoá Phật giáo đã thích ứng và thấm sâu vào văn hoá dân tộc như bóng với hình. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, Phật giáo vẫn tiếp tục xu hướng nhập thế, ngày càng quan tâm và tham gia nhiều hơn vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.

Thực tế cho thấy, cuộc chiến giữa con người với đại dịch COVID-19 chưa bao giờ mạnh mẽ, khẩn trương như lúc này. Trong bối cảnh đại dịch đang lan rộng, chúng ta không thể dự báo hết những tác động đến đời sống, song rõ ràng chúng ta đã và đang cảm nhận tác động của nó. Phật giáo với hệ thống giáo lý, tư tưởng, triết lý riêng đã và đang đem lại cho những người người theo đạo Phật thái độ, năng lượng sống tích cực. Bởi, càng ngày con người càng nhận ra là giữa đời sống vật chất (sức khỏe và thể chất) có mối liên hệ mật thiết với đời sống tinh thần (tư tưởng và cảm xúc) của con người. Những lời dạy của Đức Phật cũng giúp ta thấy được các kết quả hay khía cạnh tích cực đối với các hoàn cảnh nguy hiểm.

Thượng toạ Thích Thọ Lạc - Trưởng ban Văn hoá TƯ GHPGVN.
Thượng toạ Thích Thọ Lạc – Trưởng ban Văn hoá TƯ GHPGVN.

Chia sẻ một cách tổng quát về văn hoá Phật giáo, Thượng toạ cho biết văn hoá Phật giáo được cấu thành bởi văn hoá vật thể (chùa chiền, tượng pháp, kinh điển, pháp khí + Tăng đoàn, Phật tử) và văn hoá phi vật thể với hệ tư tưởng, đạo đức và lối sống của Phật giáo.

Về tư tưởng, Phật giáo với tinh thần tự giác giác tha, tự lợi lợi tha (mình vì mọi người, mọi người vì mình); vô ngã vị tha (quên mình vì người). Về đạo đức, với 5 giới cấm, 10 điều thiện, đạo luật nhân quả, nghiệp báo, luân hồi. Tất cả đều hướng con người tới nhân cách tốt đẹp, đạo đức hiền lương, hiểu về thuyết nghiệp báo và luân hồi sẽ giúp con người sẽ xa lánh điều ác và hướng làm điều thiện nhiều hơn.

Thời Lý Trần, nước ta chưa thiết lập hệ thống pháp luật, nhưng do tiếp thu tinh thần của Phật giáo nên đã áp dụng 10 điều thiện của Phật giáo làm quy phạm (pháp luật) trong cuộc sống. Chính điều đó đã khiến cho xã hội thời kỳ này trở thành thời kỳ vàng son trong lịch sử Việt Nam.

Lối sống thiểu dục tri túc (biết vừa đủ) của Phật giáo sẽ giúp cho con người ta bớt tham vọng, giảm âu lo, nhằm khiến cho nội tâm thực sự được thanh thản và hạnh phúc trong những giây phút mình đang sống.

Phương pháp thiền định, niệm Phật, tụng kinh, bái sám… của Phật giáo cũng hướng con người ta thiện hơn, giảm được áp lực trong cuộc sống, khiến cho nội tâm được thanh thản và an vui hơn. Thiền định là phương pháp an trú chính niệm trong hiện tại, hay chính niệm tỉnh giác; Khi thực hiện trạng thái tĩnh lặng tỉnh giác trong ba trạng thái thân, hơi thở và tâm gọi là toạ thiền. Còn tĩnh lặng tỉnh giác trong mọi lúc mọi nơi, như khi ăn uống, khi làm việc, khi nói năng và suy nghĩ…gọi là thiền trong sinh hoạt; Phương pháp thiền trong sinh hoạt này rất phù hợp với mọi người đang sống xã hội bận rộn này.

Mỗi chúng ta nên áp dụng giáo lý đạo Phật trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 hiện nay để cùng vượt qua cơn nan khó này...

Mỗi chúng ta nên áp dụng giáo lý đạo Phật trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 hiện nay để cùng vượt qua cơn nan khó này…

Trong xã hội hiện đại, con người phải làm việc rất áp lực, bộ não phải suy nghĩ rất nhiều làm đầu óc mệt mỏi, cho nên phải để đầu óc ngưng nghỉ (tĩnh lặng) để tái tạo lại năng lượng. Ngoài Thiền, thì niệm Phật, Tụng kinh, Bái sám cũng là những cách làm giúp cho giảm những bất an, lo lắng, tìm lại sự thanh thản, bình an và tĩnh lặng trong giây phút đang sống.

Thượng toạ thông tin rằng, mục đích những lời dạy của Đức Phật trong hệ thống giáo lý là Lìa khổ được vui và mong muốn chúng sinh đều xa lìa được sự đau khổ và được an vui hạnh phúc. Điều này đã được đức Phật dạy rất rõ trong Kinh Chuyển Pháp Luân với nội dung chủ đạo của Tứ Diệu đế, Trung đạo, Bát chính đạo.

Trong đó, Tứ diệu đế (Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế) đã trở thành giáo lý căn bản, xuyên suốt trong toàn bộ kinh điển Phật giáo. Với Khổ đế là Đức Phật chỉ ra rằng, con người ta sống ở trên đời ai cũng phải gặp những điều đau khổ. Ngài đã khái quát cái khổ của con người thành 8 loại khổ (bát khổ): Sinh – Lão – Bệnh – Tử; Ái biệt ly khổ, Oán tăng hội khổ, Cầu bất đắc khổ; Ngũ ấm xí thịnh khổ.

Đức Phật nói Khổ đế không phải để làm cho con người buồn chán, bi quan mà trái lại, làm cho mọi người nhìn rõ về quy luật và thực tế của cuộc sống, khi gặp cảnh khổ cũng không hoảng loạn mà điềm tĩnh đón nhận, không bị hoàn cảnh chi phối, tìm phương án giải quyết. Trong bối cảnh đại dịch như hiện nay thì thấu hiểu điều này là vô cùng quan trọng.

Nguyên nhân tạo thành những nỗi khổ hiện hữu ở đời, Đức Phật gọi là Tập đế. Đó là: tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ. 10 điều này đều có thể ở chính ngay trong con người và gây nên đau khổ.

Hai điều trên nói về sự khổ và nguyên nhân của khổ, Đức Phật chỉ ra kết quả an vui, hạnh phúc đạt được khi con người diệt trừ hết những nỗi khổ, muốn diệt khổ phải diệt tận gốc, đó là diệt cái nguyên nhân gây ra đau khổ. Đạo đế là những phương pháp Đức Phật hướng dẫn để chúng sinh thực hành diệt khổ, được vui.

Bát chính đạo là 8 con đường chân chính hợp với chân lý Tứ đế để tiến tới đạo Niết bàn, thoát khỏi khổ đau, đó là: Chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tiến, chính niệm và chính định. Giá trị của Bát chính đạo là giúp người ta tu dưỡng thân tâm, cải thiện hoàn cảnh, thoát khỏi khổ đau, phiền não, bước lên con đường giải thoát, an vui, tự tại.

Đó chính là tư tưởng, mục đích chính của Đạo Phật.

Đối với những người làm báo, thì năng lượng tích cực đó còn góp phần tạo động lực và truyền cảm hứng tới những người xung quanh qua những bài viết, những tương tác xã hội. Từ đó, giúp “đồng lòng” chống dịch và vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay.
Đối với những người làm báo, thì năng lượng tích cực đó còn góp phần tạo động lực và truyền cảm hứng tới những người xung quanh qua những bài viết, những tương tác xã hội. Từ đó, giúp “đồng lòng” chống dịch và vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay.

Chia sẻ tại buổi nói chuyện, Thượng toạ cũng đã giới thiệu về các khái niệm căn bản của Đạo Phật như Vô thường, Luân hồi, Nhân quả, Tri túc, Nhân duyên, Hoà Bình, Từ Bi. Phật giáo khuyên con người làm điều lành, tu nhân tích đức hướng tới chuẩn mực đạo đức xã hội như hiếu thảo cha mẹ, trung thực, nhân ái, hướng tới cái thiện, tránh xa điều ác…

“An lạc chúng sinh là mục đích cứu cánh của đạo Phật. Tất cả những lời Phật dạy đều mong muốn con người hướng tới Chân – Thiện – Mỹ. Muốn an vui trước hết phải giải thoát, muốn giải thoát thì phải không vướng bận phiền não, những dục vọng, những thói hư tật xấu” – Thượng toạ Thích Thọ Lạc so sánh tinh thần giải thoát – an lạc của đức Phật với tư tưởng  “Không có gì quý hơn độc lập – tự do – hạnh phúc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hạnh phúc cho nhân dân là tiêu chí của cụ Hồ và an lạc cho chúng sinh là mục tiêu của đức Phật, mà muốn có được điều đó phải độc lập (làm chủ được mình) và tự do (giải thoát phiền não). Tuy nhiên, Bác Hồ đặt nặng vai trò của trị nước, còn Đạo Phật là trị tâm.

Theo đó, cần phải hiểu rõ và ứng dụng (thân, khẩu, ý thiện) trong nếp sống hàng ngày, để hình thành nhân cách cho mỗi cá nhân và cộng đồng xã hội, đất nước và nhân loại. Trước bối cảnh dịch bệnh COVID thì tinh thần vô ngã, vô thường của Phật giáo giúp cho con người cảm thấy mạnh mẽ hơn khi đối diện, tinh thần duyên sinh cộng sinh để cùng nhau tương trợ lẫn nhau, phải nhập thế dấn thân, chia sẻ chung tay góp sức cùng xã hội.

Buổi nói chuyện đã giúp cho tập thể cán bộ nhân viên, đối tác của Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp hiểu được tổng thể về văn hoá Phật giáo một cách khái quát nhất. Thấu hiểu giáo lý của Đức Phật chắc chắn sẽ giúp chúng ta chấp nhận sự việc, hoàn cảnh một cách tích cực hơn, buông bỏ những muộn phiền, áp lực cuộc sống một cách tự nhiên hơn. Từ đó, có cái nhìn tích cực, lạc quan, đa chiều với mọi vật mọi việc trong cuộc sống. Đối với những người làm báo, thì năng lượng tích cực đó còn góp phần tạo động lực và truyền cảm hứng tới những người xung quanh qua những bài viết, những tương tác xã hội. Từ đó, giúp “đồng lòng” chống dịch và vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay.

Ban Văn hóa TƯ Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Nguồn:phatgiao.org.vn

Lời tạm biệt của chiến sĩ mang màu áo blouse trắng!

Sau hai tháng phục vụ tại Bệnh viện Hồi Sức Covid-19 tại Tp Thủ Đức. Hôm nay cũng là ngày cuối cùng con được đồng hành cùng các y, Bác sĩ tại Bệnh viện khoa ICU 2B-115.

Con xin được gửi lời tri ân đến quý Bác sĩ trong Ban Giám đốc Bệnh viện đã cho con cơ hội được phục vụ những người gặp đau khổ vì dịch bệnh. Chắc hẳn con chưa làm được gì nhiều để hỗ trợ các Bác sĩ, nhân viên Y tế ở đây, nhưng con vui vì đã cố gắng hết mình trong mọi công việc. Còn gì thiếu sót, xin quý Bác sĩ cũng thông cảm bỏ qua.

Có thể nói, đây là trải nghiệm thật đẹp trong cuộc đời Tu sĩ của con với màu áo Nâu đệ tử của Phật, được là tình nguyện viên cống hiến và phục vụ. Con rất mong mọi người tiếp tục nguyện cầu Đức Phật xót thương, đẩy lùi dịch bệnh đang gây đau khổ cho rất nhiều mảnh đời, nhiều gia đình trên mảnh đất Sài Gòn nói riêng và quê hương Việt Nam nói chung.

Sau hai tháng phục vụ tại Bệnh viện Hồi Sức Covid-19 tại Tp Thủ Đức. Hôm nay cũng là ngày cuối cùng con được đồng hành cùng các y, Bác sĩ tại Bệnh viện khoa ICU 2B-115.
Sau hai tháng phục vụ tại Bệnh viện Hồi Sức Covid-19 tại Tp Thủ Đức. Hôm nay cũng là ngày cuối cùng con được đồng hành cùng các y, Bác sĩ tại Bệnh viện khoa ICU 2B-115.

hai tháng ròng rã tiếp xúc, làm việc, cống hiến trong môi trường làm việc chuyên nghiệp Khoa ICU 2B 115. Thời gian ở đây không dài nhưng với con đó là quãng đời không thể nào quên được. Đã có biết bao nhiêu kỷ niệm, đặc biệt là được tiếp xúc, quen biết với những người đồng nghiệp siêu thân thiện và tốt bụng đặc biệt là rất có tâm. Đây là một trải nghiệm vô cùng quý báu trong cuộc đời con.

Giờ chia tay đã đến, lúc này cảm xúc của con thật khó mà diễn đạt hết được qua ngôn từ bởi những điều mà con đã trải qua giống như giấc mơ dài chằng ai muốn lặp lại. Thế nhưng vài cái ôm, vài tấm ảnh chụp hình cùng nhau khoảnh khắc này mới đáng trân quý nhường nào. Đó hẳn là những niềm vui vô cùng đơn giản vậy mà lại là niềm hạnh phúc lớn lao đối với bản thân con cũng như cuộc đời Tu hành của mình.

Con xin cảm ơn mọi nhân duyên trong đời, đã cho con hành trang thiết thực, cảm ơn mọi người đã luôn giúp đỡ, làm điểm tựa trong thời gian qua cho con vượt qua tất cả những khó khăn. Nơi đây không chỉ giúp con trau dồi thêm những kỹ năng, kiến thức chuyên môn mà còn tạo cơ hội để tôi được quen biết và làm việc với những con người dễ thương, hòa đồng, tốt bụng.

Tạm biệt những con người dũng cảm, tạm biệt những phi thường, tạm biệt để chúng ta lại được gặp nhau vào một ngày hoa nở, khi tiếng xe rác leng keng của cô lao công vừa tới. Những quán quen sẽ đầy ắp tiếng cười sau đêm dài ngủ nghỉ. Tạm biệt để người mau chóng được ra về đoàn tụ cùng gia đình, tạm biệt để ta vẫy tay chào mỉm cười nhìn hạnh phúc.

Những hình ảnh cuối cùng của 2 tháng làm tình nguyện viên:

Tâm Quang

 

PHẬT PHÁP TRỊ TẬN GỐC TÂM BỆNH

Lần này cũng như các lần trước, đoàn bác sĩ lên thăm bệnh cho Tăng Ni của Thiền viện, sau đó có xin tôi một thời pháp ngắn, năm nay cũng như vậy. Kỳ trước tôi nói phương thuốc trị từng tâm bệnh của con người, kỳ này tôi nói phương thuốc trị tận gốc rễ của tâm bệnh.

Như trước tôi đã nói, nếu người tham tiền của thì dùng thuốc bố thí trị; tham sắc đẹp thì dùng thuốc quán bất tịnh trị v. v… Hôm nay trị tận gốc rễ của tâm bệnh mà chỉ dùng một thang thuốc thôi. Như vậy thang thuốc này hơi khó, vì từng thứ thuốc trị từng thứ bệnh thì chúng ta dễ nhận, dễ hiểu, dễ ứng dụng. Còn chỉ một phương thuốc mà trị tất cả bệnh nên khó sử dụng. Phương thuốc này như thế nào?

 Quý vị nghe châm ngôn của Thiền tông:

Bất lập văn tự,
Giáo ngoại biệt truyền,
Trực chỉ nhân tâm,
Kiến tánh thành Phật.

Châm ngôn đó nó ảnh hưởng tới phương thuốc này rất sâu đậm. Trước khi nói đến thuốc, tôi chỉ cho quý vị thấy gốc bệnh phát sinh từ đâu. Như tham sân si thì có thuốc trị tham sân si. Nhưng tham sân si phát nguồn từ đâu? Tham sân si từ tâm niệm dấy khởi.

Thí dụ như thấy một đóa hoa, nếu ta chỉ thấy đóa hoa không thôi, thì có tham không? Không. Đằng này thấy đóa hoa rồi khởi niệm “Hoa này đẹp hay xấu. ” Nếu đẹp thì chúng ta muốn hái về chưng, hoặc bẻ cầm tay chơi. Muốn hái về chưng hoặc bẻ cầm tay chơi, mà ai ngăn không cho thì giận. Do thấy đẹp dấy lòng tham. Dấy lòng tham không được thì nổi sân. Như vậy tham, sân phát nguồn từ phân biệt đẹp xấu. Nên ý thức phân biệt đẹp xấu là nhân đưa tới bệnh tham, sân.

Như vậy muốn trị tất cả tham sân si, phải trị từ đâu? Từ tâm phân biệt. Thấy hoa chỉ thấy hoa, đừng khởi phân biệt đẹp xấu. Không phân biệt đẹp xấu thì không có tham, sân. Không tham, sân là không tạo nghiệp. Vì tham, sân là nghiệp sanh tử, nếu hết tham, sân thì nghiệp sanh tử không còn. Đó là nói một thí dụ nhỏ. Ngoài ra tất cả các thứ khác cũng vậy.

Cho nên trị bệnh tham, sân là trị ngọn chứ không phải gốc. Khởi tâm phân biệt mới là gốc đưa tới tham, sân. Bây giờ muốn trị gốc bệnh đó, chúng ta phải trị bằng cách nào? Đó là chỗ lâu nay tất cả người tu chúng ta ít lưu tâm. Chỉ thấy tham khổ, sân khổ nên lo dẹp tham, sân v. v… mà chưa phăng tìm tại sao có tham, sân.

Lâu nay chúng ta có một lầm lẫn lớn, cho cái phân biệt so sánh là tâm mình. Nếu người không khởi phân biệt so sánh thì bảo người đó ngu dốt. Nhưng sự thật không phải vậy. Bởi vì phân biệt, so sánh mang tính cách đối chiếu. Thí dụ chúng ta phân biệt người này đẹp thì tất nhiên phải lôi hình ảnh của người xấu ra đối chiếu. Phân biệt hoa này xấu thì phải lôi hình ảnh hoa kia đẹp để đối chiếu. Chúng ta sống với tâm phân biệt trong hiện tại, lại còn đeo mang những hình bóng của quá khứ để đối chiếu, và ước mơ trông đợi vào vị lai. Gìn giữ bóng dáng quá khứ đem đối chiếu với hiện tại, rồi mơ ước vị lai.

Như vậy tâm mình đang sống trong ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Nhưng ba thời đó có thật không? Quá khứ đã qua mất rồi, vị lai thì chưa đến, hiện tại thì luôn trôi chảy không dừng. Cho nên cả ba thời đều không có thật. Tâm ôm ấp những hình ảnh đối chiếu theo ba thời không thật thì tâm đó có thật không? Hình ảnh nó chứa đã không thật vì đó chỉ là bóng, rồi thời gian đối chiếu cũng không thật, thì bản chất của tâm đó làm sao được.

Đã không thật mà mình suy nghĩ nói việc này phải, ai đó nói quấy, mình nổi sân liền. Bởi chấp suy nghĩ là mình, cho nên khi bị phản đối chúng ta có phản ứng ngay. Điều này chúng ta cần phải xét nét thật kỹ, để có một phương pháp biết bệnh, rồi mới nghiên cứu tới thuốc. Biết thuốc biết bệnh thì trị mới lành.

Như chúng ta đã biết bệnh tham, sân, si từ niệm phân biệt, so sánh mà ra. Bây giờ muốn dứt tận gốc tham, sân, si thì phải dứt các niệm phân biệt so sánh. Chúng ta ngồi thiền để làm gì? Để dừng niệm phân biệt so sánh đó. Bởi vì niệm phân biệt suy nghĩ không phải là mình. Nếu suy nghĩ là thật mình thì mình là trăm thứ ngàn thứ sao? Tâm niệm suy nghĩ thay đổi như chong chóng, chợt có chợt mất. Có những người trước kia mình không ưa, nhưng sau này họ thay đổi, mình thấy dễ thương. Hoặc những người hồi xưa mình quý, nhưng bây giờ họ thay đổi, mình thấy dễ ghét. Như vậy thương, ghét có thật là chưa? Nếu thật thì trước sau như một. Đằng này nó đổi thay luôn thì làm sao thật mình được? Quý vị thấy, có khi trong một ngày, lát thì mình giận, lát thì mình thương, đổi thay bất thường. Trong những cái đổi thay đó, cái nào là mình? Thương là mình hay ghét là mình? Giận là mình hay vui là mình? Không có cái thật mình, bởi vì tất cả đều là bóng dáng đổi thay tùy duyên, tùy cảnh.

Cho nên lâu nay chúng ta sống trong sự lầm lẫn hết sức lớn lao. Sự lầm lẫn lớn lao đó chính là vô minh. Từ vô minh sanh ra tham, sân, si đủ thứ hết. Đó là do chấp tâm phân biệt suy nghĩ là mình nên thành bệnh. Muốn trị bệnh này phải dùng thuốc nào? Thay vì nói thuốc, ở đây tôi dẫn câu chuyện ngài Thần Quang đến học với Tổ Đạt Ma.

Khi Tổ đã nhận ngài Thần Quang làm đồ đệ, cho theo học đạo, một hôm ngài Thần Quang bạch Tổ: “Bạch Hòa thượng, tâm con không an, xin Hòa thượng dạy cho pháp an tâm”. Tâm không an là tâm nào? Là tâm nghĩ tốt, nghĩ xấu, nghĩ phải, nghĩ quấy… tất cả các thứ lăng xăng tạp loạn. Bởi nhớ nghĩ lăng xăng nên khi ngồi lại thấy không an. Vì nó dẫn mình chạy đủ nơi đủ chốn. Chạy như vậy gọi là bất an. Nên ngài Thần Quang nghĩ phải có một pháp gì chận đứng cho nó an lại.

Tổ Đạt Ma bảo: “Đem tâm ra ta an cho! ” Tâm ở đâu mà đem? Khi nghe hỏi câu nói đó, ngài Thần Quang soi lại, tìm xem tâm mình ở đâu. Tìm một hồi thấy mất tăm mất dạng. Ngài thưa: “Con tìm tâm không được”. Tổ Đạt Ma bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi”. Ngay đó ngài Thần Quang đại ngộ, biết được pháp tu.

Pháp đó là pháp gì? Điểm kỳ đặc chính là không có một pháp. Thí dụ tôi nói bệnh tham dùng pháp bố thí để trị. bệnh sân dùng pháp nhẫn nhục để trị v. v… Còn tâm bất an này, dùng pháp gì? Chỉ quay lại tìm xem cái bất an đó ra sao, nó ở đâu? Tìm lại thì nó mất. Rõ ràng nó hư dối. Mình tưởng tâm mình thật, nhưng khi quay lại tìm thì nó mất tiêu. Nếu thật thì tìm lại phải thấy. Nhưng khi tìm lại mất tăm mất dạng, thì làm sao nói nó thật được.

Nên biết chấp tâm là hư dối, là vọng tưởng. Đã là vọng tưởng thì không phải thật. Lâu nay chúng ta ngỡ nó thật. Từ ngỡ nó thật nên chấp thành ra có tham, sân, si. Bây giờ biết nó không thật, thì nó tự tan biến. Ngày xưa nó không thật mình ngỡ nó thật, đó là si mê. Bây giờ nó không thật biết nó không thật thì đâu còn si mê nữa.

Phản quan nhìn lại tâm không thật đó, thấy rõ nó hư dối, đó là chúng ta tỉnh, chúng ta giác. Tỉnh giác mà không cần dùng một pháp nào cả, nên nói không có pháp đối trị. Chỉ cần nhìn lại tâm lăng xăng đó, biết nó là vọng tưởng không thật, không theo nó, thì nó đâu có dẫn mình tạo nghiệp tham, sân, si được. Tất cả bệnh đều do tâm không thật đó mà ra.

Cho nên khi tu cần phải biết rõ gốc của sự tu. Nếu không, chúng ta sẽ thắc mắc tại sao thầy dạy cái gì cũng bỏ, đừng vọng tưởng. Chỉ vậy thôi, đơn giản quá thì làm sao trị hết bệnh. Không ngờ, chính cái nhận biết tâm dấy động lăng xăng là hư dối, là vọng tưởng lại là gốc của sự tu. Bởi vì cái nhận biết đó là trí tuệ.

Các pháp giả dối, chúng ta lầm theo nó là si mê. Còn giả dối mà biết giả dối là trí tuệ. Như quý vị ra tiệm bán đồ nữ trang, thấy người ta bày hàng trong tủ kiếng. Hàng nào giả, hàng nào thật, quý vị không phân biệt được thì đó là quê dốt. Ngược lại, hàng giả hàng thật quý vị đều nhận biết được hết, thì đó là khôn ngoan.

Cũng vậy, tâm vọng tưởng hư dối mà lâu nay mình cho nó thật, đó là si mê. Bây giờ biết vọng tưởng hư dối, không thật, đó là trí tuệ. Nhìn lại từng tâm niệm dấy khởi, chúng ta biết nó là vọng tưởng hư dối, đó là dùng trí tuệ để dẹp si mê. Khi biết nó là vọng tưởng, mình không theo thì nó còn hay lặng mất? Nó lặng mất. Tuy lặng mất nhưng gặp duyên nó sẽ nổi lên nữa. Hoặc lặng mất cái này, cái khác nổi lên. Chúng ta cứ tiếp tục tỉnh giác, không theo nó, dần dần sẽ điều phục hết vọng tưởng.

Nhiều Phật tử ngồi thiền thấy vọng tưởng hoài, không yên nên cho rằng ngồi thiền có kết quả gì đâu. Không phải vậy. Lục Tổ bảo nếu vọng tưởng dấy khởi, mình biết nó. Biết tức là giác, theo nó tức là mê. Mê theo vọng tưởng là chúng sanh. Giác được vọng tưởng là Phật. Cho nên một trăm chú chúng sinh thì có một trăm ông Phật chận đón, thua thiệt gì đâu.

Quý vị thấy ở Thiền viện, Tăng Ni ngồi thiền hơi gục gục là bị ăn gậy liền. Sao tàn nhẫn vậy, người ta ngồi tu mà đánh người ta? Bởi vì thà ngồi thiền vọng tưởng mà thấy được, mình tranh đấu để đánh thắng nó. Còn ngủ gục thì đâu còn thấy gì nữa mà xung trận. Lúc đó hoàn toàn mù mịt tối tăm. Cho nên nhà thiền gọi ngủ gục là đi vào hang quỷ, tối mò không thấy gì hết.

Tâm dấy niệm mình biết không theo, thì thấy có sự tranh đấu hơi nhọc nhằn, nhưng có Phật có chúng sanh. Chứ còn gục xuống rồi thì thôi, thua luôn. Vì vậy thiện tri thức phải đánh cho mình tỉnh, đừng để ma ngủ dẫn đi trong hang quỷ. Đó là ý nghĩa của người giám thiền, giúp cho hành giả ngồi thiền được tỉnh. Dù có vọng tưởng cũng đừng sợ, chỉ sợ mình chạy theo nó thôi. Nếu mình biết rõ nó là vọng tưởng, thì nó tự lặng. Cái khác nhú lên, chúng ta cũng nhận ra vọng tưởng, nó lại lặng. Cứ như vậy thì có thiệt thòi gì đâu.

Cho nên Lục Tổ nói: “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”. Nghĩa là vọng tưởng khởi lên, dẫn mình đi lâu lơ lâu lắc, mình mới biết “đó là vọng”. Như vậy là giác chậm. Nếu vọng tưởng vừa dấy lên, chúng ta chận ngay lúc ấy thì nó không có tác dụng gì hết, mình làm chủ được nó.

Tu thiền theo lối dạy của Tổ Đạt Ma y cứ vào pháp nào? Hỏi “Tâm con không an, xin Hòa thượng dạy pháp an tâm”. Nếu Tổ bảo: – Tâm ngươi không an nên dùng quán nhân duyên v. v… Đó là có pháp. Có pháp tức là có giáo lý, có giáo lý tức là có văn tự. Nhưng khi nghe nói “Tâm con không an”, Tổ bảo: “Đem tâm ra ta an cho. ” Lời này không có trong kinh nào cả. Vì vậy gọi là giáo ngoại biệt truyền tức truyền ngoài giáo lý. Ngoài giáo lý nghĩa là không có trong văn tự kinh điển. Nên nói bất lập văn tự là vậy.

Thiền tông là cốt tủy của đạo Phật, nhưng lại không có trong từ ngữ của kinh điển. Bởi vì Thiền tông chỉ thẳng, nhìn thẳng. Nhìn lại mình, biết rõ vọng tưởng hư dối thì ngay đó an tâm. Như vậy phương pháp của Tổ dạy là chỉ tận gốc của tâm. Biết được tâm vọng tưởng hư dối rồi, thì dụng công phu không còn sai lầm nữa.

Một hôm, ngài Huệ Khả bạch với Tổ Đạt Ma:

– Bạch Hòa thượng, con dứt hết các duyên.

Tổ xoay lại bảo:

– Coi chừng rơi vào không.

Ngài liền nói:

– Rõ ràng thường biết, làm sao không được.

Ngay đó, Tổ bảo:

– Ông như thế. Ta như thế. Chư Phật cũng như thế.

Đó là ấn chứng. Ấn chứng tức truyền tâm pháp ấn. Ông như thế, ta như thế, chư Phật cũng như thế, nghĩa là con dấu của ông, của ta, của chư Phật cũng vậy thôi. In xuống giấy trắng thì dấu nào cũng như nhau, không sai biệt. Đó gọi là truyền tâm pháp ấn.

Khi tâm suy nghĩ lăng xăng hết, lúc đó các duyên bặt dứt, không còn dính với các cảnh bên ngoài nữa. Tổ Đạt Ma e rằng đến chỗ dứt hết các duyên, ngài Huệ Khả sẽ rơi vào cái rỗng không, nên Tổ gạn lại: “Coi chừng rơi vào không”. Ngài Huệ Khả liền nói: “Rõ ràng thường biết, làm sao không được”. Tuy chẳng duyên theo bóng dáng các trần, nhưng con rõ ràng thường biết. Biết tức là tâm, tâm đó rõ ràng như vậy làm sao rơi vào không được.

Chúng ta nghiệm từ thực tế sẽ thấy, có những lúc mình ngồi chơi, không nghĩ suy gì hết, nhưng có tiếng động mình vẫn nghe, có người đi mình vẫn thấy, gió thổi mình biết mát… tức hiện tại mình thấy biết rõ ràng. Biết rõ ràng mà không có nghĩ suy. Cái biết rõ ràng này quý vị có đuổi nó được không? Nó có sanh, có diệt không? Rõ ràng nó không sanh không diệt, mà không mất mát bao giờ.

Từ muôn đời chúng ta chấp cái nghĩ suy chợt có chợt không cho là thật. Từ chấp giả cho là thật nên tạo nghiệp luân hồi vô số kiếp. Bây giờ chúng ta biết nó giả, không theo, thì tâm chân thật hiện tiền. Tâm chân thật này ai cũng có sẵn. Nên Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Chỉ vì chúng ta quên, chạy theo vọng tưởng hư giả thành ra đánh mất ông Phật của mình. Bây giờ biết rồi, không chạy theo vọng tưởng nữa, thì cái tâm chân thật hiện tiền. Tâm chân thật tức là tâm Phật.

Như vậy tu cốt đừng lầm giả cho là thật, mà phải nhận chân cái thật sẵn nơi mình từ thuở nào, đó là giác ngộ. Vọng tưởng hư giả lẽ ra dễ bỏ, còn tâm chân thật sẵn có xưa nay không thể bỏ được. Vậy mà ta nói bỏ vọng tưởng khó là sao? Tại vì gốc mê sâu dày quá.

Khi chúng ta ngồi thiền được năm mười phút, tâm không dấy động, không có niệm chạy theo cảnh, lúc đó có mình không? Nếu không có mình thì ai biết không có niệm. Không có niệm, yên tịnh, mình biết rõ ràng thì cái biết hiện tiền. Cái biết đó không có tướng mạo nên không có sanh diệt. Những gì có tướng mạo thì sanh diệt.

Lâu nay, chúng ta bám vào cái sanh diệt cho là tâm mình. Nên Phật dạy phải định là vậy. Định thì dừng tâm sanh diệt, để cái chân thật hiện tiền. Cái chân thật hiện tiền rồi thì chúng ta lo gì chết bị nghiệp dẫn đi chỗ này chỗ nọ. Bởi vì thương, ghét, giận, hờn… là nghiệp, mà chúng không còn nữa thì cái gì dẫn mình đi trong sanh tử nữa? Như vậy mới thấy gốc của sự tu hết sức rõ ràng.

Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Trực chỉ nhân tâm tức là chỉ thẳng tâm chân thật của mình. Tâm là cái biết. Nếu chúng ta duyên theo bóng dáng trần cảnh, đó là tâm hư dối. Còn cái biết không chạy theo trần cảnh, hằng hữu ở mình, đó là tâm chân thật. Tổ chỉ thẳng nơi tâm mình, biết cái gì giả, cái gì thật. Biết được cái thật, gọi là kiến tánh. Cái chân thật ấy là nhân thành Phật, nên nói kiến tánh thành Phật.

Hiểu được bốn câu châm ngôn tối quan trọng ấy rồi, chúng ta mới nắm được yếu chỉ Thiền tông, không có một pháp. Nếu không chúng ta sẽ nói Thiền tông khó quá. Vì tu theo lối trị từng thứ bệnh thì dễ đối chiếu, dễ thấy kết quả. Còn nhìn thẳng từ nhân dấy động ban đầu, dừng nó không cho dấy khởi, thì lúc đó chưa thành bệnh. Nên chỉ một “cái biết” mà trị tất cả bệnh. Song vì nhân ban đầu này sâu thẳm bên trong, tìm hơi khó một chút, chúng ta phải khéo mới được. Đó là phăng tận gốc rễ để trị tận căn nguyên.

Tổ Huệ Năng khi được pháp ở Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn rồi, Ngài mang y bát về phương Nam. Khi đó đám người kỳ thị đuổi theo giật y bát lại. Trong nhóm đó có Thượng tọa Minh, trước khi tu làm tướng nên cỡi ngựa rất giỏi, rượt kịp. Tổ biết người ta đuổi theo giành y bát, nên Ngài để y bát trên bàn thạch, chui vô lùm cây trốn.

Thượng tọa Minh nhảy xuống ngựa, ôm y bát lên nhưng ôm không nổi. Chừng đó mới giật mình, thì ra đây là vật huyền bí, không phải vật thường. Bấy giờ, ông vừa sợ vừa hối lỗi. Tất cả niệm tranh giành ngang đó chấm dứt. Ông liền gọi: “Hành giả, hành giả! Tôi đến đây vì pháp, chứ không phải vì y bát”.

Khi ấy, Lục Tổ ở trong lùm cây chui ra nói: “Nếu ông vì pháp, thì ta sẽ nói cho ông. ” Rồi bảo: “Ông yên lặng giây lâu, ta sẽ dạy cho” Thượng tọa Minh đứng yên lặng giây lâu. Tổ nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh? ” Ngay câu đó Thượng tọa Minh liền thấy đạo.

Quý vị thấy Lục Tổ hết sức thật thà. Ngài thấy chỗ cứu kính thế nào thì Ngài nói thế ấy. Thiện, ác tức là hai bên. Thiện ác, thương ghét, phải quấy v. v… đều là hai bên. Niệm đầu vừa dấy lên thì niệm sau nối tiếp theo nhau. Buông hết hai bên thì không còn niệm, lúc ấy bản lai diện mục hiện tiền. Bản là xưa, lai là nay, diện mục là mặt mắt thật của mình. Hết sức đơn giản.

Nói vậy quý vị sẽ có thắc mắc. Người tu cấm không được nghĩ ác, làm ác, chứ tại sao bảo không nghĩ thiện, làm thiện? Không nghĩ thiện, không nghĩ ác tức là không làm lành cũng không làm ác. Như vậy làm sao tu? Quý vị nhớ trong nhà Phật dạy tu có nhiều cấp bậc. Người tu ít, người tu nhiều, người tu bình bình khác nhau. Tùy theo công phu tu mà sanh trong lục đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, a tu la, trời.

Trong lục đạo luân hồi có chia ba đường thiện, ba đường ác. Cho nên nghĩ thiện, nghĩ ác đều đi trong luân hồi. Lâu nay người ta quen cho rằng tu là làm việc thiện thôi. Nhưng sự thật tu thiện thì được sanh cõi lành. Làm người, a tu la hoặc trời là sanh trong ba cõi lành nhưng vẫn còn đi trong sanh tử. Nhà Phật gọi đó là tu pháp Nhân thừa, Thiên thừa thôi, chứ không phải pháp giải thoát. Muốn giải thoát sanh tử thì phải ra khỏi cả thiện lẫn ác.

Nhà Phật cũng nói về hai thứ: hữu duyên từ và vô duyên từ. Hữu duyên từ là còn có sự phân biệt theo duyên thích hợp mà khởi lòng từ bi. Còn vô duyên từ thì thấy người ta khổ là mình cứu ngay, không phân biệt có duyên hay không có duyên. Thí dụ người không nghĩ thiện không nghĩ ác gì cả, thấy đứa bé té liền bế nó dậy, đó thuộc về vô duyên từ. Chúng ta đa số làm việc thiện mà nghĩ suy nhiều quá. “Việc thiện này làm kết quả không? ” “Được khen hay bị chê? ” v. v… nghĩ đủ thứ.

Đức Phật hay các vị Bồ tát luôn luôn làm lành với tâm vô duyên từ, tức là lòng từ vô duyên. Gặp cảnh thì làm chứ không có nghĩ suy, không xét duyên cớ. Chúng ta bây giờ thấy người đó nghèo đói, mà họ làm thinh, mình cũng bỏ lơ. Ngược lại, nếu họ năn nỉ “Tôi nghèo đói quá, cô bác giúp đỡ giùm” thì mới chịu giúp. Giúp như vậy là có duyên, có sự cầu khẩn, còn bình thường thì không giúp. Với Phật, với Bồ tát thì không như vậy. Thấy người ta khổ là giúp, khỏi xin xỏ, khỏi cầu khẩn. Cho nên các Ngài làm lành rồi là thôi. Còn chúng ta do đợi xin xỏ, nên giúp người rồi mà họ ngó lơ không thèm cám ơn là bực bội liền. Cho nên có duyên từ thì kèm theo có danh, đòi hỏi này nọ. Còn vô duyên từ không đòi hỏi điều kiện gì hết. Đó mới cao siêu, quý báu. Đừng cho rằng không nghĩ thiện, không nghĩ ác là xấu. Hiểu vậy như vậy mới thấy gốc của sự tu.

Ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng có đệ tử là Mã Tổ Đạo Nhất rất nổi danh ở Trung Quốc. Một hôm Mã Tổ cùng thị giả là Bá Trượng Hoài Hải ra vườn chơi. Trên đường đi, thấy bầy vịt trời bay trên hư không, Mã Tổ hỏi:

– Cái gì đó?

Hoài Hải thưa:

– Bầy vịt trời.

Hồi sau Mã Tổ hỏi:

– Bay đâu rồi.

Ngài Hoài Hải ngó lên thấy bầy vịt trời bay mất, liền trả lời:

– Bay mất rồi.

Liền bị Mã Tổ nắm lỗ mũi véo một cái thật mạnh, Ngài la thất thanh. Mã Tổ bảo:

– Sao không nói bay mất đi?

Ngay đó Bá Trượng liền đại ngộ.

Mã Tổ dạy cái gì mà ngài Bá Trượng ngộ đạo? Đó là những hình ảnh kỳ đặc của các Tổ sau này. Véo lỗ mũi người ta đau điếng đến nổi phải la thất thanh, rồi hỏi: “Sao không nói bay mất đi? “. Vậy mà đệ tử liền ngộ. Để thấy rằng ông thầy muốn chỉ cái thật cho học trò mà không dùng những ngôn từ bình thường, chỉ dùng những thủ thuật đặc biệt.

Lâu nay chúng ta có bệnh mắt thì chạy theo sắc, tai thì chạy theo tiếng… tất cả sáu căn luôn luôn đuổi theo sáu trần. Nhớ sáu trần mà quên cái gốc nơi sáu căn. Sáu căn có cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm… Có thấy, có nghe, có ngửi, có nếm… là có biết. Cái biết đó không đuổi theo sáu trần, mà luôn hiện hữu nơi mình, có vắng lúc nào đâu.

Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đưa tay lên, hỏi ngài A Nan:

– Thấy không?

– Thấy.

– Thấy cái gì?

– Thấy tay Phật đưa lên.

Phật để tay xuống rồi hỏi tiếp:

– Thấy không?

– Không thấy.

Phật quở:

– Tay đưa lên thì thấy có tay, tay để xuống thì thấy không tay, chứ cái thấy đâu có vắng. Sao lại nói lộn xộn vậy.

Phật quở vì ngài A nan lầm cho cái tay là cái thấy, đó là quên mình theo vật. Chúng ta cũng như vậy. Vì quên mình theo vật nên cho vật là mình.

Thêm một ví dụ nữa, Phật bảo ngài La Hầu La đánh một tiếng chuông nghe “boong”, hỏi A Nan:

– Ông nghe không?

– Dạ nghe.

Tiếng chuông bặt, Phật hỏi:

– Ông nghe không?

– Dạ không.

Phật quở một phen nữa:

– Tiếng chuông có thì nghe có tiếng chuông. Tiếng chuông lặng thì nghe không có tiếng chuông. Tại sao nói không nghe?

Chúng ta có lầm như vậy không? Tất cả chúng ta đều lầm như vậy cả. Nên rồi mình sống trong mê lầm mà không hay. Chính mình đang nghe có tiếng hoặc không tiếng, chứ đâu phải không có cái nghe. Thấy không có cảnh, không có vật, chứ đâu phải không có cái thấy. Rõ ràng chúng ta quên mình theo vật, cứ chạy theo sáu trần. Vì vậy bên ngoài sáu căn đuổi theo sáu trần, rồi đem bóng dáng đó vào chấp chứa, phân biệt trong tâm. Đó là sống với cái giả mà quên cái thật.

Cho nên Mã Tổ nắm lỗ mũi Bá Trượng véo một cái đau điếng, hỏi: “Sao không nói bay mất đi” Bay qua thì chim bay qua, chứ cái thấy chim bay qua có mất lúc nào đâu. Ngài Bá Trượng nhờ thế sực tỉnh, nhớ cái lỗ mũi đau đời đời không quên. Đó là một thủ thuật. Tổ Bá Trượng sau nổi tiếng là nhờ thủ thuật của ông thầy.

Chúng ta thấy hai vị trước là Tổ Đạt Ma và Tổ Huệ Năng nói rất hiền lành. Qua tới Mã Tổ thì bắt đầu kỳ đặc. Dưới Tổ Bá Trượng có ngài Hoàng Bá Hy Vận cũng có thủ thuật rất kỳ đặc. Ngài Lâm Tế trước khi gặp Tổ Hoàng Bá, là một con người rất thâm trầm, cho nên Thủ tọa Minh thấy có tương lai, nên xúi ngài Lâm Tế hỏi Tổ Hoàng Bá: “Thế nào là đại ý Phật pháp? “. Hoàng Bá nghe xong, không trả lời lấy một câu, liền lấy gậy đập cho một gậy. Ngài Lâm Tế bị đập rồi ngẩn ngơ, không biết làm sao hết. Đó là lần thứ nhất.

Ít hôm sau Thủ tọa lại bảo: “Thôi lên hỏi nữa đi”. Ngài cũng hiền, nghe xúi thì làm theo, cũng lên hỏi câu đó: “Bạch Hòa thượng! Thế nào là đại ý Phật pháp? “, liền bị đập một gậy nữa. Đau quá, Ngài không biết nói gì nữa, ôm lòng buồn tủi đi xuống.

Ít hôm sau, Thủ tọa lại xúi lên hỏi nữa. Lần thứ ba cũng bị ăn gậy, đau khổ cùng cực Ngài chỉ còn có nước khóc thôi. Xuống gặp Thủ tọa hỏi: “Bữa nay thế nào? ” Ngài trả lời: “Ba lần hỏi, ba lần đều bị ăn đòn, chắc tôi không có duyên ở đây. Thôi tôi xin đi. ” Thế là Ngài cuốn gói sửa soạn đi. Ông Thủ tọa nói nhỏ: “Trước khi đi nên đến bạch với Hòa thượng cầu chỉ dạy. ” Nghe lời, Ngài lên thưa: “Bạch Hòa thượng, con không có duyên ở đây, con xin đi. ” Tổ Hoàng Bá bảo: “Ông nên tới chỗ Cao An, hỏi Đại Ngu. Kia sẽ vì ông mà chỉ cho”.

Đại Ngu tức là núi Đại Ngu, còn tên của Ngài tôi quên mất rồi, chỉ nghe người ta kêu theo tên núi là Đại Ngu. Lâm Tế qua đó gặp ngài Đại Ngu. Đại Ngu hỏi:

– Ông từ đâu đến?

– Con từ Hoàng Bá đến.

– Hoàng Bá đã chỉ dạy gì cho ông?

– Con ba lần hỏi đại ý Phật pháp, ba lần đều bị ăn đòn, không biết con có lỗi hay không lỗi?

Ngài Đại Ngu liền chụp lấy vai Lâm Tế nói:

– Hoàng Bá đã vì ông chỉ tột, mà còn hỏi có lỗi hay không lỗi?

Ngay đó ngài Lâm Tế liền đại ngộ, nói:

– Phật pháp của Hoàng Bá rất ít.

Ngài Đại Ngu liền xô ra hỏi:

– Mới hồi nãy nói có lỗi không lỗi, bây giờ lại nói Phật pháp của Hoàng Bá rất ít. Ông thấy đạo lý gì, nói mau. “

Lâm Tế liền thôi cho Đại Ngu một thôi vô hông. Ngài Đại Ngu xô ra bảo:

– Thầy ngươi là Hoàng Bá, không phải ta.

Quý vị thấy thế nào? Ngài Hoàng Bá, mới nhìn thấy quá tàn nhẫn phải không. Nhưng dưới con mắt của Đại Ngu thì Ngài quá từ bi. Vì quá từ bi nên mới dồn đệ tử tới chỗ bí hiểm đó. Dồn rồi đưa qua cho Đại Ngu vì biết ngài Đại Ngu sẽ tháo gỡ được. Cho nên khi nghe ngài Đại Ngu nói: “Hoàng Bá đã vì ông chỉ tột, mà ông còn hỏi có lỗi không lỗi? ” thì Lâm Tế liền đại ngộ. Ngộ như thế tới chết cũng không quên! Bởi vì ba lần bị đánh đòn đau quá, quên sao nổi.

Một bên bị véo lỗ mũi, một bên bị đánh đòn. Đau quá nên cả hai đều đại ngộ! Chỗ Lục Tổ nói không nghĩ thiện, không nghĩ ác thì ngài Lâm Tế nói có lỗi không lỗi. Hai lối nói đó có khác nhau không? Khi nào không còn chỗ thấy hai bên mới là chỗ chân thật. Ngài Lâm Tế ngộ được chỗ đó rồi, sau này Ngài thường nói với Tăng Ni: “Ta sau khi ăn đòn, biết được chỗ chân thật rồi, tới nay không bao giờ quên. “

Ngày nay, Phật tử nghe quý thầy nói cũng hiểu vậy, nhưng vài bữa là quên. Tại vì chưa ăn đòn, chưa bị véo lỗ mũi, phải không? Quý thầy ngày nay dễ nên Phật tử cũng dễ quên. Còn người xưa khó như vậy nên không bao giờ quên. Đó là những thủ thuật đặc biệt của các Thiền sư Trung Hoa.

Những phương tiện ấy đều là giáo ngoại biệt truyền. Trong kinh không dạy đánh, không dạy véo lỗ mũi, nhưng quý Ngài làm những việc đó. Như vậy có trái với đạo lý không? Chẳng những không trái mà những thủ thuật ấy còn đưa hành giả tới chỗ lý đạo sâu xa hơn, không bao giờ quên.

Bởi vì lâu nay chúng ta quen nghĩ suy rồi. Bây giờ muốn chặn đứng nó lại phải có phương pháp mạnh mới chặn nổi. Nếu không thì cũng ngồi thiền, cũng ngó xuống, mà cái đầu lăng xăng không chịu yên. Cho nên thói quen đã thành đường mòn rồi, sửa khó. Muốn cho đường mòn đó được bít lại, thì phải có cách khôn ngoan, khéo léo để chặn đứng nó.

Còn nghĩ thiện, còn nghĩ ác là còn sanh tử. Nghĩ thiện thì đi đường lành, nghĩ ác thì đi đường dữ. Người tu chuyển nghiệp là đừng đi đường dữ, mà đi đường lành, đó là tu Nhân thừa và Thiên thừa. Nếu muốn dứt hết không còn sanh tử nữa thì phải làm sao? Tâm không còn dính, không còn kẹt bên nào thì mới thoát ly sanh tử. Tại sao? Bởi vì dấy niệm thiện, ác thì tạo nghiệp thiện, ác. Trong ba nghiệp, ý là chủ. Ý nghĩ thiện nghĩ ác thì thân làm thiện làm ác, miệng nói thiện nói ác. Bây giờ ý không nghĩ thiện nghĩ ác, gặp cảnh thì làm tùy duyên, tâm không khởi niệm. Việc làm đó không có gốc của thiện, ác.

Nếu tâm của chúng ta thản nhiên, tự tại, không bị một niệm nào sai khiến thì nó bao la, trùm khắp. Nên nói tâm bao la trùm khắp khó hiểu, bởi vì người ta cứ nghĩ tâm ở trong tấm thân nhỏ bé này. Nhưng sự thật, nếu chúng ta nghĩ về người, thì cái nghĩ đó duyên theo hình bóng người, nghĩ về cái chuông thì duyên theo bóng của cái chuông, nghĩ về đồng hồ thì duyên theo bóng của đồng hồ… nó có giới hạn. Nếu không nghĩ gì hết thì nó duyên theo bóng nào? Không có bóng. Không có bóng, không có hình tướng thì nó trùm khắp rồi. Vậy mà chúng ta lại bỏ cái rộng lớn bao la ấy, đi bắt lấy những cái nhỏ nhoi, tạm bợ. Cho nên Phật thương chúng sanh là thương ở chỗ mê lầm đó.

Chúng sanh bám vào những giả dối, tạm bợ mà hài lòng, còn cái chân thật lại bỏ quên. Trong khi cái chân thật đó không bao giờ mất, nó luôn ở bên mình. Nên nói rằng chúng ta xuống địa ngục thì Phật tánh cũng xuống địa ngục; nhưng Phật tánh không bị hành, không bị khổ. Rõ ràng Phật tánh không tách rời chúng ta, chỉ tại chúng ta quên thôi.

Quý vị nhìn lại chàng cùng tử trong kinh Pháp Hoa xem có giống mình không? Cha là trưởng giả giàu có, của cải vô số mà chàng cùng tử không chịu ở, bỏ đi lang thang. Tới chừng khổ quá, mới thức tỉnh trở về. Thức tỉnh trở về mà cũng không dám nhận cha của mình, của cải sự nghiệp của mình. Dần dần do người cha khéo dùng phương tiện dìu dẫn, chàng cùng tử mới quen và từ từ nhận ra được gia tài và cha mình.

Chúng ta cũng vậy, có cái chân thật, thênh thang mà không dám nhận. Chỉ nhận bóng dáng tạm bợ mấy chục năm, tâm lăng xăng lộn xộn luôn luôn thay đổi là mình, bỏ quên cái chân thật. Như vậy có đáng thương không? Chư Phật và Bồ tát, thương là thương cái mê lầm đó của chúng sanh. Cho nên toàn bộ kinh Phật đều nhằm đánh thức cho mình tỉnh, đừng mê lầm nữa. Hết mê lầm là giải thoát sanh tử.

Cho nên có trí tuệ giác ngộ rồi mới đi tới giải thoát. Nếu không có trí tuệ, không có giác ngộ thì không có giải thoát. Đó là lẽ thường. Như vậy chúng ta tu cốt để được giải thoát sanh tử thì phải đi con đường đó. Nếu chúng ta tu để đời sau sướng hơn đời này, thì đi con đường Nhân thừa hoặc Thiên thừa như đã nói ở trên. Nhưng đức Phật không thích chúng ta lên cõi trời. Tại sao? Bởi vì lên cõi trời hưởng sung sướng nhiều quá, tu không được. Đến khi hưởng hết phước rồi thì rơi xuống trở lại. Thế là uổng công bao nhiêu năm!

Chúng ta thường lầm cho nghĩ rằng ăn ngon, mặc đẹp, ở nhà lầu, đi xe hơi… là hạnh phúc. Nhưng nếu xét kỹ thân này ăn để chi? Cả ngày cứ mượn trả, mượn trả… ít chục năm nó cũng hư hoại. Mượn trả tốt, mượn trả xấu cũng là mượn trả thôi, chứ có gì hơn. Đó là nói ở cõi ta bà này chỉ có mấy chục năm thôi. Nếu ở cõi trời thì tuổi thọ gấp năm mười lần, hai ba mươi lần cõi này. Nhưng lên đó mượn trả đã rồi cũng phải trở xuống. Như vậy có nghĩa lý gì. Tốt hơn ở đây có khổ có vui, mau tỉnh. Mau tỉnh thì dễ tu. Dễ tu mới có thể ra khỏi sanh tử luân hồi sớm. Chúng ta thấy rằng đức Phật nhìn thật tường tận. Còn chúng ta thì không như thế.

Như vậy ở thế gian, người giàu quá hoặc nghèo quá, dễ tu hay khó tu? Cả hai đều khó cả. Chỉ có hạng người vừa đủ ăn, khổ vui lẫn lộn là dễ tu hơn hết. Khổ quá thì tối ngày bận bịu với cuộc sống, đâu có rảnh mà nhớ tu. Còn dư giả quá, giàu có quá thì tiệc tùng liên miên cũng không rảnh mà tu. Nên nó cả hai trường hợp này đều khó tu. Phật bảo sanh trong tam ác đạo không tu được nên phải tránh. Nhưng cõi trời cũng khó tu, chỉ cõi người là dễ tu.

Từ nay, quý vị có than phiền sanh cõi người khổ nữa không? Sanh cõi người là cơ hội tốt để cho mình dễ thức tỉnh. Nếu được lên cõi trời mình cứ hưởng không nghĩ tới tu. Sanh cõi người, chúng ta có đủ cơm ăn là tốt rồi, để thời giờ nghiên cứu, học hỏi, tu hành. Người biết đạo là người không tham cầu sung sướng, chỉ vui trong hoàn cảnh vừa đủ của mình, rồi để dành thời giờ lo tu. Những vui buồn là cơ hội tốt để mình tỉnh, chứ nếu vui hoài thì không tỉnh. Nên buồn không hẳn là tai họa, nó cũng là duyên để chúng ta thức tỉnh.

Nhớ như vậy thì sự sống của mình an lành. Còn nếu chúng ta cứ đòi hỏi bằng người này, bằng người kia là không biết sống. Vì sống mà cứ mơ ước, trông đợi trong ảo tưởng, không thực tế cho nên khổ.
Tất cả các bệnh của chúng ta đều từ tâm niệm so sánh, đối chiếu mà có. Tham, sân, si cũng từ đó. Nếu chúng ta buông liền từ gốc dấy niệm thì đâu còn gì để tham, sân, si. Như vậy uống có một thang thuốc mà lành hết tất cả bệnh. Đó là do trị tận gốc vậy. Phương thuốc thật đơn giản, nói đơn giản nhưng lại khó làm. Nếu làm được thì kết quả rất to, chứ không phải thường. Cho nên đường lối tu thiền này các Tổ sư gọi là Tối Thượng thừa, không theo thứ bậc nào cả.

Trị từng bệnh là Nhị thừa. Đến như Bồ tát cũng còn trị từng bệnh. Ở đây không trị từng bệnh, mà trị tận gốc. Gốc hết rồi thì tất cả bệnh theo đó hết. Đây gọi là đi đường thẳng. Cho nên nó đốn giáo, tức thẳng tắt chứ không có quanh co. Vì vậy Tối Thượng thừa cũng gọi là Phật thừa. Mê là chúng sanh, ngộ là Phật; chứ nó không có quanh co thứ bậc. Các thừa kia theo thứ lớp, dẹp được phiền não nào thì chứng được tầng bậc nào tương ứng. Ở đây không dẹp phiền não, mà dẹp gốc sanh phiền não. Gốc sanh phiền não nếu dẹp được thì thẳng đó thành Phật. Ngay ông Phật sẵn của mình hiện ra. Học Thiền Đốn Ngộ là chỉ thẳng gốc ấy. Nếu gốc đốn được rồi thì ngọn dễ lắm. Nếu gốc chưa đốn được thì chặt ngọn này, nó nhảy ra ngọn khác, khó lâu mới hết sạch.

Người tu không hiểu, không nắm được pháp tu là tu mù. Nếu biết rõ thì kết quả tu sẽ đúng như mình mong muốn. Đó là tu trong sáng suốt. Nên quý vị đừng mong rằng mình ngồi thiền, ngày nào đó có hào quang sáng ngời lên chẳng hạn. Những việc ấy không thể cứu được mình. Cứu mình là thấy đúng như thật. Vọng tưởng biết vọng tưởng. Đó là trí tuệ rồi. Trí tuệ này hết sức đơn giản. Chúng ta thường không chịu cái đơn giản, mà đòi có hào quang, đòi đủ thứ hết. Bởi vậy người tu thiền lạc vào tà đạo cũng tại mong muốn những thứ không thực tế.

Cho nên trong kinh, Phật nói rằng: “Ngoại đạo tu có thể chứng được ngũ thông; còn ta tu chỉ lấy đạo thông làm gốc. ” Đạo thông tức là suốt được lối đi, thấu được đạo lý chân thật. Bởi vì thần thông không cứu được mình. Hiểu như vậy trên đường tu mới khỏi lầm lẫn.

Chư sư Nguyên thủy tu theo Tứ Niệm Xứ v. v… các ngài đi biết dở chân, đứng biết dừng chân, duyên theo từng hành động. Bởi tu duyên theo từng hành động nên lối đi đứng rất nghiêm trang. Còn lối tu biết vọng, trong các oai nghi thảnh thơi, biết vọng không theo. Chỉ “chăn” cái nghĩ, mà không “chăn” hành động. Vì vậy lối tu này, hành giả sinh hoạt một cách tự nhiên, không kềm gượng.

Nhiều Phật tử thuật lại cho tôi nghe, họ ứng dụng lối tu biết vọng, lúc lái xe thì cứ lái xe, vừa nghĩ bậy liền buông. Do đó khi lái xe cũng vẫn tu được. Làm việc gì chuyên tâm vào việc đó, không cho nghĩ cái gì khác. Nhờ chuyên tâm nên việc làm rất tốt. Như vậy trường hợp nào cũng tu được hết. Sống trong thời khoa học máy móc này, nếu chúng ta lơ lỏng, ngồi đây mà lo ra, nghĩ chuyện khác thì sẽ rất nguy hiểm.

Như vậy lối tu này, tu mà không thấy mình tu gì hết. Ở ngoại quốc ứng dụng lối tu này rất hay, vì nếu tụng kinh, lễ bái nhiều hàng xóm nghe chuông, nghe mõ người ta phản đối lắm. Chúng ta ngồi thiền im lìm không có gì phiền đến người khác cả, như vậy vừa hay cho mình, vừa hay cho người. Tu ở đâu cũng được, dễ dàng không có gì trở ngại.

Tóm lại, trên đường tu chúng ta tu thế nào để cho bản thân mình, cuộc sống của mình và cuộc sống xã hội không bị trở ngại, đó là điều cần thiết. Được vậy sự truyền bá của Phật pháp mới đúng với nhịp tiến của thời đại. Nếu chúng ta tu mà không thích hợp với cuộc sống của thời đại, của xã hội mới thì không được. Quý Phật tử cần phải hiểu cho thấu đáo để ứng dụng tu có kết quả thiết thực. Hôm nay tôi đưa ra thang thuốc này, chúc quý vị được lành tất cả bệnh.

Giảng tại Thiền viện Trúc Lâm – 2000
HT. Thiền Sư Thích Thanh Từ

Nguồn:thuongchieu.net

Ninh Bình: Phật giáo tỉnh khai mạc lễ Hành đạo trực tuyến Khóa An cư kiết hạ PL. 2565

0

Hằng năm, sau gần 3 tháng cấm túc, chư Tôn đức Phật giáo tỉnh Ninh Bình điều tập trung lại làm lễ Tạ pháp, Hành đạo. Năm nay, do dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp nên Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Ninh Bình đã quyết định tổ chức lễ Hành đạo khóa An cư kiết hạ PL. 2565 cầu nguyện quốc thái dân an, dịch bệnh tiêu trừ và cầu siêu nạn nhân tử vong do dịch Covid-19 bằng hình thức trực tuyến.

Sáng ngày 17/09/2021 (nhằm ngày 11/08 năm Tân Sửu), Thường trực ban Trị sự GHPGVN tỉnh Ninh Bình đã tổ chức khai mạc ngày “Hành đạo” đầu tiên cho các vị hành giả trong không khí trang nghiêm thanh tịnh qua hình thức trực tuyến.

Buổi lễ đặt dưới sự chứng minh và tham dự của TT. Thích Thọ Lạc – Ủy viên Thư ký HĐTS, Trưởng BTS GHPGVN tỉnh Ninh Bình; chư Tôn đức Thường trực BTS GHPGVN tỉnh Ninh Bình cùng 229 vị thành viên BTS Phật giáo tỉnh và đông đảo quý Phật tử đồng tham dự.

Mở đầu, Thượng tọa Thích Minh Quang – Ủy viên HĐTS, Phó Trưởng ban kiêm Chánh Thư ký BTS GHPGVN tỉnh Ninh Bình đã tác bạch thông qua 3 ngày “Hành đạo” chương trình tới toàn thể hội chúng.

Thượng tọa Thích Minh Quang tác bạch thông qua chương trình tới toàn thể hội chúng.

Phát biểu khai mạc, Thượng tọa Thích Thọ Lạc đã nhắc lại truyền thống An cư kết hạ của Đức Phật. Tại đây, Thượng tọa cũng sơ lượt về chương trình của 3 ngày “Hành đạo” năm nay, theo đó 3 ngày “Hành đạo” năm nay gồm những các thời thuyết pháp và những thời trì tụng kinh nhằm giúp chư Tôn đức tịnh tu tam nghiệp, ngoại vô tạp sự, để thúc liễm thân tâm, trau dồi Giới – Định – Tuệ, nhằm giữ gìn quy cũ chốn tùng lâm, trang nghiêm giáo hội, lợi lạc tự thân và lợi ích xã hội. Đồng thời, nguyện cho quốc thái dân an, dịch bệnh tiêu trừ và cầu siêu cho các nạn nhân không may tử vong do Covid-19 sớm được trở về cảnh giới an lạc.

Thượng tọa Thích Thọ Lạc phát biểu khai mạc

Buổi lễ sẽ diễn ra trong thời gian từ ngày 11 đến 13/08 năm Tân Sửu với nội dung chương trình gồm 6 thời khóa tụng kinh Dược Sư và kinh A Di Đà cùng với 5 thời chia sẻ pháp thoại được chia điều trong 3 ngày ngày. Khóa “Hành đạo” được diễn ra với hình thức trực tuyến tại đường dẫn: PHÒNG TRỰC TUYẾN LỄ HÀNH ĐẠO KHÓA AN CƯ KẾT HẠ NĂM 2021 CỦA PHẬT GIÁO TỈNH NINH BÌNH – Phật Giáo Ninh Bình (phatgiaotructuyen.vn).

Tất cả những công đức hành trì, đọc tụng, nguyện cầu Quốc thái Dân an, Phật pháp hưng thịnh, mưa thuận gió hòa, thế giới hòa bình, dịch bệnh Covid-19 sớm tiêu trừ, người người được mạnh khỏe an vui, nhà nhà được ấm no hạnh phúc.

Sau buổi lễ khai mạc là thời khóa tụng Kinh Dược Sư do Thượng tọa Thích Thọ Lạc chủ lễ.

 

Sau đây là chương trình chi tiết của khóa “Hành đạo”:

  

Công Minh

Đọc nhiều

Cần điều tra clip và xử lý cán bộ đòi chôn sống nhà sư.

Giữa lúc cơn khủng hoảng truyền thông Phật giáo đang leo thang vì những bài báo lá cải tiếp tục bồi bút sau khi...

Sự thật về người quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao...

Ngày 13/3/2021, ngay sau khi báo Thanh Niên Online đưa tin: ”Quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao cấu trẻ em:...

Cần Lên Án Báo Tuổi Trẻ Khi Đem Phật Giáo Ra Biếm Họa

Ngày 15/1/2020, Tuổi Trẻ Online đã có sự can thiệp chỉnh sửa lại thông tin đăng tải, buộc lòng phải lên tiếng xin lỗi...

Khai tôn giáo trong căn cước công dân, phải có “giấy chứng nhận xuất...

 Đây là một thắc mắc lớn mà người viết đã nhiều lần đặt ra trong khi trực tiếp thực hiện các thủ tục liên...