Thứ Ba, Tháng Chín 21, 2021

Lao động

Tài kinh doanh nhạy bén của cô bé 13 tuổi, kiếm được hàng trăm triệu chỉ nhờ miếng khoai tây chiên

0

Vô tình tìm thấy miếng khoai tây chiên khác thường, cô bé 13 tuổi đã có bước đi bất ngờ thu về hàng trăm triệu.

Cách đây vài ngày, một cô bé 13 tuổi ở Australia đã kiếm về hàng trăm triệu đồng chỉ nhờ một miếng khoai tây chiên hiếm có. Đó là Rylee Stuart (Queensland, Australia), người vô tình tìm thấy một miếng khoai tây chiên bị phồng hoàn hảo ở 3 mặt mà không mang hình dẹt như những miếng khác.

Với người bình thường, họ sẽ chỉ nghĩ rằng đây là chuyện kì lạ vặt vãnh, và sẽ lập tức ăn nó. Thế nhưng, Rylee lại có một ý tưởng khác: cô bé quyết định giữ miếng khoai tây chiên này lại.

co-be-13-tuoi-kiem-duoc-hang-tram-trieu-chi-nho-mieng-khoai-tay-chienRylee Stuart và miếng khoai chiên trị giá hàng trăm triệu đồng

Chưa dừng lại ở đó, cô bé 13 tuổi còn đăng video ghi hình miếng khoai tây chiên hiếm có và đăng lên TikTok. Cô viết: “Nó có giá trị không hay tôi chỉ nên ăn nó?”. Chỉ trong vài ngày, bài đăng đã thu hút sự chú ý của cư dân mạng, với gần 3 triệu lượt xem. Được nhiều người khuyên, cô bé quyết định đấu giá trên eBay, với giá khởi điểm là 0,99 AUD (gần 17 nghìn đồng).

co-be-13-tuoi-kiem-duoc-hang-tram-trieu-chi-nho-mieng-khoai-tay-chienCô bé 13 tuổi còn đăng video ghi hình miếng khoai tây chiên hiếm có và đăng lên TikTok, sau đó rao bán trên eBay

Rất nhiều người được tham gia trả giá, thậm chí có người còn mạnh tay chi 100.000 AUD (gần 1,7 tỷ đồng) chỉ cho một miếng khoai chiên. Sau cùng, bài đăng của Rylee Stuart bị gỡ xuống do mức giá không tưởng, khiên cô bé vô cùng thất vọng. Thế nhưng, “tiếng thơm” về miếng khoai tây chiên độc đáo được lan tỏa khắp mạng xã hội. Doritos – công ty sản xuất món ăn vặt này đã biết tin, lập tức đề nghị tặng cô bé 13 tuổi 20.000 AUD (khoảng 338 triệu đồng).

Trả lời phỏng vấn, Rylee cho hay: “Em đã định ăn nó nhưng em lại nghĩ tốt hơn nên để dành nó sau cùng. Khi nhìn thấy mức giá có người trả lên đến 100.000 AUD, em muốn hét lên”. Nghe tin về món quà đắt giá” từ Doritos, Rylee vô cùng xúc động: “Em đã khóc vì bất ngờ. Rõ ràng, điều này không bình thường nhưng mọi thứ có thể xảy ra”. Có thể nói, đây là một trong những phi vụ buôn bán kì lạ nhất và cũng thành công nhất.

co-be-13-tuoi-kiem-duoc-hang-tram-trieu-chi-nho-mieng-khoai-tay-chienDoritos – công ty sản xuất món ăn vặt này đã biết tin, lập tức đề nghị tặng cô bé 13 tuổi 20.000 AUD

Giải thích về điều này, Giám đốc tiếp thị của Doritos, Vanita Pandey cho hay: “Chúng tôi rất ấn tượng với sự táo bạo và tinh thần kinh doanh của Rylee, vì vậy chúng tôi muốn gia đình Stuart được khen thưởng bởi sự sáng tạo và tình yêu của họ dành cho Doritos. Đó quả thực là ngày đặc biệt đối với Rylee và gia đình, chúng tôi rất thích theo dõi câu chuyện của cô bé 13 tuổi này”.

Đây có vẻ như là câu chuyện không tưởng ở Việt Nam, nhưng ở nước ngoài, những món đồ ăn với hình thù kỳ lạ rất dễ trở thành món hàng “đắt giá”. Một số trường hợp đã đi vào lịch sử đấu giá là một miếng sandwich phô mai có hình dạng tựa như khuôn mặt Đức Mẹ Đồng Trinh. Miếng sandwich đó đã được bán với giá 28.000 đô la vào năm 2004. Cách đây không lâu, vào tháng 6 năm 2021, một miếng gà viên trông giống nhân vật game của hãng McDonald đã được bán với giá 100.000 USD.

Phương thức kinh doanh hiệu quả ngay cả trong mùa dịch của người Do Thái: 5 quan niệm “mở” rủi ro càng nhiều, cơ hội càng lớn

0

Người Do Thái cho rằng thời gian là tiền bạc, nên dù thế nào cũng không thể bỏ sót cơ hội kinh doanh làm giàu, ngay cả trong mùa dịch.

Người Do Thái được đánh giá là một trong những dân tộc thông minh nhất, với chỉ số IQ trung bình là 110. Hơn thế nữa, họ còn là những người giỏi làm kinh doanh nhất. Có một câu nói trong “Kinh Thánh khởi nghiệp của người Do Thái” như sau: “Tiền trên thế giới đều nằm trong túi người Mỹ, mà tiền của người Mỹ đều nằm trong túi người Do Thái!”.

5-quan-niem-mo-giup-nguoi-do-thai-kinh-doanh-hieu-qua-trong-mua-dich
Người Do Thái được đánh giá là một trong những dân tộc thông minh nhất, với chỉ số IQ trung bình là 110

Câu nói này thoạt nghe cảm thấy rất phóng đại, nhưng xét về tính thực tế, nó lại không hề nói quá chút nào. Người Do Thái vốn nổi tiếng thành công trong lĩnh vực kinh doanh, và ngay cả trong mùa dịch COVID-19 này họ vẫn có thể tìm được một lối đi riêng. Để làm được điều đó, chắc chắn phải kể tới 5 quan điểm ‘liều ăn nhiều’ đáng học hỏi này của họ”

Quan niệm khởi nghiệp

Hầu hết chúng ta trước khi bắt đầu khởi nghiệp hay làm một điều gì đó mới, thường tự hỏi rằng: “Muốn khởi nghiệp kinh doanh mà không có tiền thì phải làm sao?”. Với người Do Thái, họ cho rằng nếu ta không có tiền, thì ta nên thuyết phục người khác đưa tiền cho ta! Hãy dùng tài nguyên của người khác để thực hiện ước mơ.

Bên cạnh đó, ta còn dễ gặp phải một vấn đề khác: “Nguy cơ thất bại khi khởi nghiệp là quá lớn thì phải làm gì?”. Thế nhưng, với người Do Thái thì rủi ro càng lớn, cơ hội kiếm tiền lại càng nhiều.

Nếu ta cảm thấy ý tưởng đủ tốt, nhưng bản thân lại không có tiền, hãy tìm thêm người khác để chia sẻ rủi ro kinh tế với ta. Khái niệm này được gọi là sự huy động vốn.

Quan niệm tiền bạc

Người Do Thái cho rằng, giàu có là do kiếm được tiền, không phải do tiết kiệm ăn tiêu mà có. Tiền bạc và tài phú trong mắt người Do Thái là con dao hai lưỡi, tuy có thể đem đến cho ta sự giàu có những cũng có thể khiến ta sa ngã.

Với họ, khi có tiền thì nên đem đi đầu tư, hoặc dễ dàng hơn thì đi làm từ thiện một cách phù hợp. Dù là người hoang phí hay kẻ bủn xỉn, không thể tránh khỏi việc chịu thiệt hay thua cuộc, đừng sợ thiệt thòi. Trên thương trường, chỉ có nguyên tắc lạnh lùng và tàn nhẫn, không có chỗ cho tình cảm yếu mềm.

Quan niệm thời gian

Với người Do Thái, thời gian là tiền bạc, nhất định không thể bỏ sót dù chỉ một phút, một giây thời gian nắm bắt cơ hội kiếm tiền trên thị trường. Chính vì vậy, ngay cả trong mùa dịch, không ít người Do Thái vẫn có thể kiếm ra tiền, thậm chí còn trở nên giàu có. Thời gian vô cùng quý giá, bên cạnh sử dụng thời gian mình có, họ còn giỏi tận dụng thời gian của người khác.

Với họ, thông tin là một thứ rất quan trọng, nắm được thông tin trong tay chính là nắm tiền tài cả đời. Họ sẵn sàng chi rất nhiều tiền để mua thông tin mới nhất và chủ động nắm quyền cạnh tranh trong tay.

Giá trị quan

Với người Do Thái, có một tôn chỉ bất di bất dịch trong kinh doanh là: “Ngay cả khi bạn lỗ vốn đi nữa, cũng không thể thất tín”. Phẩm chất quan trọng nhất của một doanh nhân không phải là sự thông thái, mà đó là trung thực. Kinh doanh là một lĩnh vực phải sử dụng mưu mẹo, tận dụng bản chất con người. Thế nhưng, không phải vì vậy mà ta lừa lọc, dối trá với người khác để mình kiếm lời.

Mặt khác, thương trường cũng chính là chiến trường, và người Do Thái làm kinh doanh bằng trí khôn. Họ cho rằng trí tuệ càng quan trọng hơn nhiều so với tiền bạc. Trí tuệ là thứ không thể nhìn thấy hoặc chạm vào như tiền bạc, của cải, nên chúng ta phải luôn nhiệt tình học hỏi, học đến suốt đời bởi không khi nào là đủ cả.

Nhân sinh quan

5-quan-niem-mo-giup-nguoi-do-thai-kinh-doanh-hieu-qua-trong-mua-dich
Khi gặp khó khăn, người Do Thái lạc quan tin rằng mọi thứ rồi sẽ ổn thôi

Người Do Thái từng chịu cảnh bị đàn áp, uy hiếp, phải chạy trốn trong một thời gian dài để bảo toàn tính mạng. Vì thế, họ hình thành nên một ý chí kiên cường và tinh thần lạc quan, vượt khó trong mọi hoàn cảnh.

Khi gặp khó khăn, người Do Thái lạc quan tin rằng mọi thứ rồi sẽ ổn thôi. Muốn đợi đến ngày mọi thứ an nhiên đó, nhất định phải biết cách bảo vệ tốt bản thân. Bởi chỉ khi bảo vệ bản thân mình rồi, ta mới có năng lực đi giúp đỡ người khác.

Nghe sơ qua thì những đạo lý có vẻ rất đơn giản, ai nghe cũng có thể hiểu, nhưng để thực hiện nó không hề dễ dàng như thế. Học là một chuyện, thực hành lại là một chuyện khác. Muốn không thụt lùi so với người khác, thì phải không ngừng học hỏi. Muốn sống tốt hơn người khác, thì phải không ngừng thực hành, nỗ lực và kiên trì cố gắng đến cùng.

Suy nghiệm lời Phật: Người lao động & người sử dụng lao động

0

Ngày xưa cũng như hiện nay, xã hội luôn tồn tại người lao động và người sử dụng lao động dưới nhiều hình thức.

Tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử, sự phát triển xã hội, văn hóa và văn minh mà mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động có khác biệt nhau. Đa phần người lao động thì nhiều mà sở hữu tài sản ít. Ngược lại, người sử dụng lao động thì ít mà sở hữu tài sản lại nhiều.

Công nhân trong một công xưởng – Ảnh minh họa

Xã hội Ấn Độ cổ đại (cách nay 2.600 năm), người lao động và người sử dụng lao động được gọi là tôi tớ và chủ cả. Bấy giờ, mối quan hệ giữa hai giới này tuy có phân biệt giai cấp, ngôi thứ trên dưới rõ ràng nhưng nếu mỗi giới đều thực hiện đúng bổn phận và trách nhiệm của mình thì cả hai đều được lợi ích, an vui.

Đức Thế Tôn rất quan tâm đến mối quan hệ xã hội này vì họ là số đông trong xã hội. Ngài yêu thương, tận tình hướng dẫn cho cả hai giới có nhận thức, quan niệm sống và làm việc tích cực để cả hai cùng có lợi. Đối chiếu với luật lao động hiện nay, những lời dạy của Đức Phật cho chủ và tớ từ xa xưa đã cho thấy quan điểm tiến bộ, nhân văn của Ngài.

Song hành lợi mình và lợi người là chủ trương của Thế Tôn, nhất quán và xuyên suốt trong toàn bộ giáo pháp. Từ việc tu tập cho đến hoằng hóa, từ người sử dụng lao động cho đến người lao động, lợi ích phải hài hòa, ai cũng làm việc và cùng có lợi, đó là nền tảng cho phát triển bền vững và ổn định xã hội.

“Một thời Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt-kỳ cùng với chúng Đại Tỳ-kheo 1.250 người. Bấy giờ, vào lúc thích hợp, Ðức Thế Tôn khoác y cầm bát vào thành khất thực. Lúc bấy giờ tại thành La-duyệt-kỳ có con trai của trưởng giả tên là Thiện Sinh, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành, đi đến khu vườn công cộng sau khi vừa tắm gội xong, cả mình còn ướt, hướng đến các phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Trên, Dưới mà lạy khắp cả.

Phật lại bảo Thiện Sinh:

Này Thiện Sinh, chủ đối với tớ có năm điều để sai bảo: 1- Tùy khả năng mà sai sử. 2- Phải thời cho ăn uống. 3- Phải thời thưởng công lao. 4- Thuốc thang khi bệnh. 5- Cho có thời giờ nghỉ ngơi.

– Tôi tớ phải lấy năm điều phụng sự chủ : 1- Dậy sớm. 2- Làm việc chu đáo. 3- Không gian cắp. 4- Làm việc có lớp lang. 5- Bảo tồn danh giá chủ.

– Này Thiện Sinh, nếu chủ đối với tớ được như vậy thì phương ấy được an ổn không điều chi lo sợ.

(Kinh Trường A-hàm, kinh Thiện Sinh, số 16 [trích])

Theo Đức Phật, người sử dụng lao động quan tâm đến người lao động ít nhất trên năm phương diện: Giao việc đúng người, ăn uống đầy đủ, lương thưởng xứng đáng, thuốc thang khi bệnh, làm việc và nghỉ ngơi đúng giờ giấc quy định. Hiện nay, một số cá nhân hay tổ chức sử dụng lao động thậm chí còn chưa đáp ứng được năm tiêu chí cổ xưa này cho người lao động.

Về phía người lao động phải chu toàn năm bổn phận của mình. Đó là: Làm việc đúng giờ, có chuyên môn và kỷ luật, không gian tham trộm cắp, làm việc đúng quy trình, bảo vệ danh giá chủ. Những tiêu chí của người lao động xưa, theo quan điểm của Đức Phật, không chỉ giỏi về chuyên môn, có tinh thần kỷ luật mà phải có đạo đức và tình cảm nữa. Người lao động hiện nay chỉ cần kiện toàn năm điều này thôi là đã có tâm và có tầm, chắc chắn đi đâu họ cũng có việc làm, thu nhập tốt và được quý trọng.

Thế mới biết Đức Phật không chỉ chú trọng việc tu tập để chứng đắc giải thoát, Niết-bàn mà còn quan tâm đến các vấn đề xã hội với quan niệm rất nhân văn và tiến bộ. Thế Tôn đã xác định nếu cả hai giới đều chu toàn bổn phận và trách nhiệm của mình như trên thì mọi người “được an ổn không điều chi lo sợ”.

Quảng Tánh / Báo Giác Ngộ

Vì sao ngày càng nhiều người chọn nghề tư vấn bảo hiểm?

0

 Xuất hiện tại Việt Nam cách đây khoảng 20 năm, ngành tư vấn bảo hiểm tưởng như đã qua thời hoàng kim, lại đang phát triển mạnh, trở thành một công việc “hot” trong khoảng vài năm trở lại đây…

Khi xã hội ngày càng có nhận thức đúng hơn về bảo hiểm

Vào khoảng những năm 2000, khi mới xuất hiện ở Việt Nam, trong mắt nhiều người, bảo hiểm còn là thứ gì đó quá mới mẻ. Chính vì quá mới mẻ nên trong mắt nhiều người, nhắc tới bảo hiểm là nhắc tới sự e ngại, bỡ ngỡ, lo sợ trở thành “nạn nhân” của lừa đảo. Anh Phan Bình, một tư vấn viên bảo hiểm đời đầu chia sẻ: “Hồi đó tư vấn được cho một khách hàng đã tính là rất thành công, vì người Việt mình vốn có tâm lý không sẵn sàng với cái mới. Chưa kể, bảo hiểm thời đó có ít quyền lợi hơn bây giờ, nhất là các quyền lợi liên quan đến chăm sóc sức khỏe, nên tâm lý của đa số còn rất e dè”.

Khi xã hội phát triển, nhất là trong thời đại 4.0, việc được tiếp cận nhiều nguồn thông tin đã giúp cho người dân hiểu thêm về tác dụng của việc tham gia bảo hiểm. Đặc biệt, khi giá cả ngày càng leo thang, giá dịch vụ y tế tăng chóng mặt, người Việt hiểu được rằng tham gia bảo hiểm không chỉ là cách dự phòng cho tương lai, mà còn đảm bảo cho việc được chăm sóc sức khỏe ở mức tốt nhất.

Nghề tư vấn bảo hiểm – Ngã rẽ cho những dự định lớn lao

Tốt nghiệp đại học ở trường thuộc top 3 của Việt Nam, ra trường đi làm đã được 3 năm, Duy Tùng (Hà Nội) nhận ra công việc văn phòng thực sự không phù hợp với cậu. Đặc biệt, sau ảnh hưởng của dịch Covid, Tùng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm một công việc mới, khi CV của cậu thuộc dạng “cao không tới, thấp không xong”. Trong một lần tìm kiếm thông tin để lên kế hoạch truyền thông cho khách hàng là một thương hiệu bảo hiểm, Tùng như đã tìm thấy “ánh sáng” cho mình. Vốn là người thông minh, quảng giao, cậu hứng thú và nhanh chóng làm quen với nghề tư vấn bảo hiểm. Duy Tùng tâm sự: “Điều quan trọng không phải là chèo kéo khách, mà phải kiên trì để giúp họ hiểu được, khi tham gia bảo hiểm, họ có thêm một lựa chọn khác có lợi hơn cho sức khỏe, tương lai của mình và gia đình. Bản thân người tư vấn cũng phải tỏa ra được năng lượng tích cực, khiến khách hàng thay vì né tránh, cảm thấy hứng thú với những viễn cảnh mà họ xứng đáng được nhận”

Vì sao ngày càng nhiều người chọn nghề tư vấn bảo hiểm? - Ảnh 1.

Trở thành tư vấn viên bảo hiểm là công việc hấp dẫn với nhiều người trẻ

Có thể nhận thấy, ngày càng có nhiều người trẻ, nhân viên văn phòng trở thành tư vấn viên bảo hiểm. Dễ dàng vẽ được chân dung về họ: là những người cầu tiến, không dễ thích nghi với môi trường nhàm chán, có những dự định tương lai lớn lao và luôn không ngừng phát triển bản thân. Bởi công việc tư vấn bảo hiểm không chỉ mang lại thu nhập xứng đáng (thuộc mức cao so với thị trường), mà còn khiến họ cảm thấy tự do hơn (không bó buộc về thời gian), nâng cao năng lực đội nhóm (kỹ năng teamwork), phát triển thêm những kỹ năng khác của bản thân (khả năng thuyết trình, thuyết phục).

Trở thành tư vấn viên bảo hiểm vì nhìn thấy giá trị nhân văn tốt đẹp của nghề

Giá trị nhân văn của nghề bảo hiểm thể hiện ở việc mang tới kế hoạch bảo vệ, dự phòng tài chính hiệu quả để khách hàng an tâm trong cuộc sống, đồng thời sẻ chia với những gia đình không may gặp rủi ro, mất mát. Điều này góp phần thay đổi nhận thức về bảo hiểm nhân thọ của người dân và xã hội. Tham gia bảo hiểm là một cách dự phòng khôn ngoan, giúp người dân có kế hoạch tài chính rõ ràng, giúp gia đình họ an tâm trước những bất trắc có thể xảy ra.

Vì sao ngày càng nhiều người chọn nghề tư vấn bảo hiểm? - Ảnh 2.

“Mình nhận thấy giá trị nhân văn mà bảo hiểm mang lại” – Lê Mai Tường Vi

Với Lê Mai Tường Vi- Tư vấn viên bảo hiểm của Prudential, con đường từ một cô nhân viên lễ tân tới với bảo hiểm được mở ra từ chính sự yêu mến công việc này. “Bản thân mình nhận thấy được tầm quan trọng của bảo hiểm đối với con người. Vì trước hết, chính mình cũng là người tìm hiểu để tự tham gia bảo hiểm cho bản thân, để an tâm thực hiện những mục tiêu trong cuộc sống.. Khi đã nhìn thấy giá trị nhân văn tốt đẹp mà bảo hiểm mang lại, mình càng có thêm niềm tin để bắt đầu công việc này, chẳng gì hơn ngoài mong muốn giúp nhiều người thấy được điều đó.”

Cùng tâm thế sẻ chia những điều tốt đẹp, bản thân tư vấn viên cũng cảm thấy yêu mến và trân quý công việc mình đang làm hơn. Thu Trà (Hà Nội) cho rằng: “Không chỉ mang lại thu nhập cao, nghề tư vấn viên còn mang tới cho mình cơ hội và lộ trình thăng tiến rõ ràng, cùng một team thiện chiến và yêu quý nhau như anh em”

Khi ngày càng có nhiều người trẻ yêu quý sức khỏe bản thân, tham gia vào lĩnh vực bảo hiểm, thì sự hấp dẫn của nghề ngày càng tăng vọt. Nghề tư vấn bảo hiểm sẽ trở thành nghề hot không chỉ hiện tại, mà còn trong tương lai gần.

Cô giáo xin nghỉ việc vì lương 8 triệu không đủ sống: Lương chỗ mới ‘rất khủng’?

0
Ngày 30/8, trên Facebook Phạm Báu xuất hiện lá đơn xin nghỉ dạy với lý do lương không đủ sống. Cựu giáo viên này bỏ nghề đề làm việc gì khiến nhiều người tò mò

Vào ngày 30/8, tài khoản trên mạng xã hội có tên Phạm Báu đăng tải lá đơn xin nghỉ dạy của cô giáo Phạm Thị Báu (SN 1979, trú tại xã Cẩm Dương, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh), gửi UBND huyện Cẩm Xuyên và các cơ quan đơn vị liên quan xin được thôi việc từ ngày 01/9/2020.

Cô giáo xin nghỉ việc vì lương 8 triệu không đủ sống: Lương chỗ mới 'rất khủng'?
Cô giáo Phạm Thị Báu và đơn xin thôi việc.

Theo nội dung lá đơn, cô Phạm Thị Báu hiện công tác tại Trường Tiểu học Cẩm Dương (Cẩm Xuyên), vào ngành ngày 01/9/2004; hệ số hưởng lương hiện tại là 3.99. Lá đơn đề ngày 28/8/2020 và đã được Hiệu trưởng và đại diện Công đoàn nhà trường ký xác nhận.

Lý do nghỉ dạy được cô giáo Phạm Thị Báu đưa ra là: “Thu nhập từ công việc dạy học không đảm bảo được nhu cầu cuộc sống hàng ngày của gia đình tôi nên tôi viết đơn này xin nghỉ việc để chuyển sang công việc mới”.

Ngay sau khi thông tin được đăng tải, nhiều người quen biết đã vào hỏi han, chia sẻ. Họ bày tỏ sự tiếc nuối cho quãng thời gian 16 năm phấn đấu trong công tác với bao vất vả gian lao của người giáo viên, nay đến thời kỳ đỉnh cao thì lại xin nghỉ việc. Một người bạn bày tỏ tiếc nuối: “Ôi răng (sao) lại nghỉ thôi dạy bà ơi. Tiếc quá tề. Nhiều ngài (người) muốn vào khung (không) được”.

Trong rất nhiều câu hỏi của bạn bè, người thân, cô giáo Phạm Thị Báu có hồi âm một vài người, bày tỏ quan điểm: Lương tháng 8,5 triệu không đủ ăn chứ chưa nói mua nhà mua xe.

Một số người cho rằng nếu đi dạy thêm thì cô giáo lâu năm như cô Báu có thể thêm thu nhập ngoài lương khoảng 20-30 triệu mỗi tháng, song tài khoản Phạm Báu chia sẻ: “Em muốn 300 triệu/tháng”.

PV đã tìm cách liên hệ với cô Báu nhưng không có hồi âm.

Trước đó, vào ngày 18/8, cô Báu chia sẻ thông tin lên trang facebook cá nhân: “Sáng vừa mở mắt, tài khoản đã có hơn 1100€. Không biết nó ở đâu ra nữa! Đúng là chỉ có ở C…1″.

Nói về đơn xin nghỉ của cô Phạm Thị Báu, ông Lê Xuân Hạnh, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Cẩm Dương (huyện Cẩm Xuyên) cho biết: “Nhà trường đã nhận được đơn xin thôi việc của cô Báu và đã làm tờ trình gửi lên Phòng Giáo dục để có hướng giải quyết.

Cũng theo vị hiệu trưởng: “Cô Báu cho biết thu nhập bên lĩnh vực kia rất “khủng”, lương khoảng 60 – 70 triệu đồng/tháng, cao gấp gần chục lần lương giáo viên như cô nên cô tự nguyện viết đơn xin thôi việc”.

Theo quy định cấp tiểu học, định biên giáo viên là 1,50 nhưng trường chỉ được 1,28. Hiện trường có 14 lớp mà cô Báu nghỉ thì chỉ còn 13 giáo viên đứng lớp”.

Một cán bộ Phòng Nội vụ huyện Cẩm Xuyên cho biết có nghe thông tin cô Báu viết đơn xin nghỉ việc rồi đăng tải lên mạng xã hội nhưng huyện thì chưa nhận được đơn.

Đây là ngành học có mức phí đào tạo lên tới 4 tỷ đồng nhưng ai cũng muốn đăng ký bởi ra trường vừa oai lại có thu nhập khủng

0

Mức học phí của ngành này ngang ngửa với chi phí du học tại các trường đại học tư thục ở Mỹ.

Phi công hiện đang là một trong những những ngành nghề hot nhất tại Việt Nam và cả ở thế giới. Được biết, thu nhập của một phi công luôn thuộc dạng khủng. Theo tìm hiểu, mức thu nhập khởi điểm thấp nhất của phi công làm việc tại các hãng hàng không Việt Nam không dưới 70 triệu đồng/tháng. Và mức thu nhập này sẽ tiếp tục tăng lên theo thời gian.

Theo bản cáo bạch của Vietnam Airlines, mức lương trung bình của phi công hãng là 132,5 triệu đồng/tháng, tương đương khoảng 1,6 tỷ đồng/năm. Còn theo báo cáo thường niên của hãng Vietjet Air vào năm 2017, mức lương trung bình của phi công hãng này là 180 triệu đồng/tháng, tương ứng khoảng 2,2 tỷ đồng/năm.

Mức thu nhập của phi công lái các dòng máy bay thân rộng như Boeing 787 hay Airbus A350 sẽ cao hơn nhiều so với các dòng tàu bay thân hẹp Airbus A320, Boeing 737.

Đây là ngành học có mức phí đào tạo lên tới 4 tỷ đồng nhưng ai cũng muốn đăng ký bởi ra trường vừa oai lại có thu nhập khủng - Ảnh 1.

Các phi công có mức thu nhập khủng.

Tại nước ngoài, mức lương phi công còn khủng hơn nữa. Theo thống kê, tính đến đầu năm 2019, Trung Quốc là nước có mức lương trung bình cho phi công khá cao, vào khoảng 300.000 USD/năm. Tại đây, một phi công có thể kiếm được 25.000 USD/tháng, tương đương với 300.000 USD/năm. Ngoài ra, họ còn được hưởng khoản tiền thưởng cuối hợp đồng lên tới 80.000 USD.

Tại Hà Lan, mức lương trung bình cho phi công là khoảng 245.000 USD/năm, Qatar là 220.000 USD/năm,…

Thu nhập khủng, lại được nhiều người ngưỡng mộ nên không khó hiểu khi nhiều người muốn tìm hiểu và theo học ngành này. Tuy nhiên để trở thành một phí công không hề dễ dàng. Bởi ngoài sức khỏe, bạn còn cần phải có đủ tài chính để chi trả mức học phí lên tới 4 tỷ đồng.

Muốn trở thành phi công thì học ở đâu?

Để trở thành phi công lái máy bay dân dụng, các học viên sẽ phải trải qua khâu tuyển chọn vô cùng khắt khe, nghiêm ngặt về cả thể hình và thể lực, ngoài ra còn yêu cầu trình độ tiếng Anh. Sau khi qua vòng sơ tuyển, các học viên sẽ tham gia khóa huấn luyện phi công dự khóa, được chuẩn bị các kiến thức và kỹ năng cần thiết để có thể tiếp thu tốt chương trình huấn luyện phi công cơ bản.

Sau chương trình phi công cơ bản, học viên sẽ phải tham gia huấn luyện chuyển loại để thành lái phụ trong khoảng 1 năm, rồi phải cần thêm hàng nghìn giờ bay và 5 năm tích lũy kinh nghiệm mới có thể trở thành lái chính. Do đó, đào tạo được một phi công thực thụ thường sẽ phải mất từ 7 đến 9 năm.

Trong quá trình đào tạo, các phi công tương lai luôn được rèn luyện rất kỹ, đồng thời luôn phải tuân thủ những quy tắc khắc nghiệt về sức khỏe, trình độ. Đến khi đã trở thành phi công chính thức, để giữ được bằng lái, mỗi năm các phi công phải trải qua từ 1 đến 2 đợt khám sức khỏe và 6 kỳ thi chuyên môn.

Đây là ngành học có mức phí đào tạo lên tới 4 tỷ đồng nhưng ai cũng muốn đăng ký bởi ra trường vừa oai lại có thu nhập khủng - Ảnh 3.

Tại Việt Nam, nơi duy nhất tham gia đào tạo được một phần khoá học phi công là Trường Phi công Bay Việt (TPHCM, thuộc Vietnam Airlines). Mỗi năm, Trường Phi công Bay Việt triển khai 4-5 khoá đào tạo phi công cơ bản, mỗi khoá từ 25 đến 30 học viên. Tuy nhiên, trường cũng chỉ dạy phần lý thuyết còn học thực hành bay, cấp bằng lái, Trường Phi công Bay Việt phải kết hợp với các trường đào tạo phi công ở nước ngoài (như ở Mỹ, Úc, New Zealand, châu Âu).

Ngoài Trường Phi công Bay Việt, Tập đoàn Vingroup hợp tác cùng CAE Oxford Aviation Academy (Canada) thành lập Trường Đào tạo nhân lực kỹ thuật cao ngành Hàng Không (VinAviation School) và Trung tâm Huấn luyện bay Vinpearl Air (VPA Training Centre). Từ năm 2019, VinAviation School bắt đầu tuyển sinh và đào tạo lứa phi công người Việt đầu tiên. Tương tự, Bamboo Airways cũng phối hợp với một số trường đào tạo phi công nước ngoài (ở Úc, Anh) để tuyển dụng và đào tạo phi công người Việt ở trường này.

Học phí đào tạo phi công – Mức phí khủng mà không phải ai cũng chi trả nổi

Chi phí đào tạo một học viên phi công cơ bản tại trường Bay Việt khoảng 1,8 tỷ đồng trong khoảng thời gian 18-20 tháng. Chương trình đào tạo được chia làm 3 giai đoạn bao gồm huấn luyện lý thuyết ATP (Airline Transport Pilot Theory – Lý thuyết phi công vận tải hàng không) dài 24 tuần (trong nước), huấn luyện bay dài 44 – 52 tuần (ở Mỹ, Australia, New Zealand, châu Âu) và huấn luyện phối hợp tổ bay MCC (Multi Crew Cooperation) dài 3 tuần (trong nước).

Trong đó, giai đoạn huấn luyện bay ở nước ngoài chiếm nhiều chi phí nhất khoảng 57.000USD – 65.000 USD (1,3-1,6 tỷ đồng). Học phí của giai đoạn huấn luyện lý thuyết là 134 triệu đồng còn huấn luyện phối hợp tổ bay từ 99 triệu đồng. Tuy nhiên trong trường hợp quá trình học không suôn sẻ, học viên phải học lại thì mức học phí sẽ còn tăng thêm nữa.

Một số học viên cho biết phải đóng thêm hơn 10% học phí dự kiến cho thời gian huấn luyện bay bổ sung. Bên cạnh đó, nếu gặp thời tiết xấu, máy bay không thể cất cánh thì thời gian huấn luyện bay sẽ dài hơn và khi đó học viên cũng phát sinh thêm chi phí ăn ở tại nước ngoài.

Đây là ngành học có mức phí đào tạo lên tới 4 tỷ đồng nhưng ai cũng muốn đăng ký bởi ra trường vừa oai lại có thu nhập khủng - Ảnh 4.

Vinpearl Air thời gian trước công bố tuyển sinh 400 phi công khóa 1. Số học viên này được Vinpearl Air gửi đi đào tạo cơ bản tại các học viện phi công ở Mỹ (Aviator College) hoặc Úc (AAPA). Vinpearl Air không tiết lộ mức học phí cụ thể, chỉ cho biết mức hỗ trợ học phí tối đa lên đến 50.000 USD/người (khoảng 1,1 tỷ).

Sau khi tốt nghiệp chương trình huấn luyện cơ bản, nếu muốn trở thành phi công lái tàu bay thương mại, học viên sẽ tiếp tục huấn luyện chuyển loại, huấn luyện Base và IOE. Việc huấn luyện sau cơ bản diễn ra tại các hãng hàng không với chi phí không dưới 1,5 tỷ đồng/người. Cộng thêm các chi phí đi lại, ăn ở, huấn luyện thêm trong thời gian học bay tại nước ngoài, một học viên sẽ cần đầu tư khoảng 4 tỷ đồng để trở thành phi công dân dụng.

Hiện nay, mức học phí du học ở các trường đại học tư thục tại Mỹ khoảng 50.000 USD/năm (khoảng 1,1 tỷ), và tổng 4 năm là khoảng 200.000USD (khoảng 4,6 tỷ). Như vậy học ngành phi công cũng ngang ngửa đi du học Mỹ.

 

 

 

 

 

Thái Bình Thiên Quốc (P.5): Can vương Hồng Nhân Can

0

Lời toà soạn: Lịch sử 5.000 năm văn minh, văn hoá của Á Đông là cả một kho tàng vô giá cho hậu thế. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của những quan niệm mới có phần thiên kiến, lệch lạc, lịch sử ấy đã bị cải biên và nguỵ tạo nhiều. Với mong muốn phục hưng lại nền văn minh vĩ đại cũng như những truyền thống đạo đức quý báu, chúng tôi tiến hành loạt bài về lịch sử Á Đông gửi đến quý độc giả, ngõ hầu phá giải được những quan niệm sai lệch hiện nay.  

Thái Bình thiên quốc tồn tại chỉ 15 năm, ngắn ngủi nhưng hào hùng, khiến cả triều Thanh và phương Tây run sợ. Sự tồn tại của nó chính là lời cảnh tỉnh của Trời cao với thế nhân. Cứ khi nào đạo đức xã hội bại hoại thì sẽ có đại nạn. Hồng Tú Toàn đã hoàn thành sứ mệnh cảnh tỉnh thế nhân phải biết tôn kính Thiên thượng mà giữ gìn đạo đức phẩm hạnh, chờ đợi đến ngày được cứu độ.

Phần 5: Tinh trung Hồng Nhân Can – những vần thơ bất tuyệt hào hùng

Trong Thái Bình Thiên Quốc, Can vương Hồng Nhân Can là một trong số những huynh đệ cùng gia tộc với Hồng Tú Toàn, khi còn nhỏ đã từng đi theo Hồng Tú Toàn học tập một năm. Thời trẻ vì yêu thích đọc sách thánh hiền, ông đã viết nên một tập kinh sử liệt kê những điều bản thân từng trải. Ông không chỉ hiểu biết sâu sắc về thời kỳ Xuân Thu đại nghĩa mà còn tinh thông am hiểu về thiên văn.

Hồng Nhân Can kể rằng, đường huynh Hồng Tú Toàn của ông là một bậc trung tín, có tư chất thông minh và đặc biệt xem trọng nghiên cứu văn thơ. Bản thân Hồng Nhân Can cũng vậy, mỗi lần nhìn thấy những câu chữ trung trinh, lễ tiết, nhân nghĩa ông sẽ ghi nhớ mãi không quên.

Bậc quân sư lỗi lạc như Văn Khúc tinh hạ phàm

Sau cuộc khởi nghĩa của Hồng Tú Toàn tại Kim Điền, Hồng Nhân Can luôn mong muốn sẽ có đủ bản lĩnh để tương lai phò tá các huynh đệ của mình. Vậy nên, ông quyết định theo học người Tây phương ở Hương Cảng, đồng thời nghiên cứu về thiên văn, địa lý, lịch số và y thuật chữa bệnh. Hồng Nhân Can đã lưu lại tại Hương Cảng khoảng bảy năm, ông cũng từng đến Đông Quản (Quảng Đông) để hành nghề y và xem bói trong một năm, và ở hai năm tại Thượng Hải.

Trong thời gian ở Hương Cảng, Hồng Nhân Can luôn cảm mến phong tục, tập quán, và các nghi lễ phương Tây của người dân nơi xứ lạ. Người Tây phương ở đây cũng có thiện cảm với Hồng Nhân Can, thông qua ông mà họ có được nhiều mối quan hệ thông thương và mậu dịch hòa hảo.

Sau khi cha mẹ mất và làm trọn đạo hiếu của một người con, Hồng Nhân Can bắt đầu tiến về Thiên Kinh để trợ giúp Hồng Tú Toàn, tận dụng mọi hiểu biết của mình để phò tá. Tại bữa tiệc tiễn biệt ở Hương Cảng, ông đã viết một bài thơ:

Bên gối kinh nghe nhạn Nam chinh,
Dõi theo buồm gió rạng đôi bờ
Chẳng gảy tỳ bà ly biệt khúc,
Đem mấy vần thơ thổi cờ đi.

Ý sâu cỏ biếc long lanh sóng
Xa cách quan san nhạn hữu tình.
Vẫy tay thuyền đi thôi chớ ngóng,
Anh hùng nay nhé thỏa vẫy vùng.

Về sau khi Hồng Nhân Can đến Thiên Kinh, Hồng Tú Toàn rất ngưỡng mộ tài năng và học vấn của ông nên phong tước vị cho ông làm “Khai triều tinh trung quân sư Can Vương”, mệnh lệnh ông trợ giúp việc quản lý triều chính.

(Ảnh minh họa: yutaizx.club)

Vào thời điểm Hồng Nhân Can được phong tước vị vương gia, bá quan văn võ cả triều đều buông lời oán thán, bởi vì ông chưa lập nên công trạng nào mà lại được phong vương. Trước đó vào thời Tam Quốc, Lưu Bị mời Gia Cát Lượng trợ giúp, Quan Vũ và Trương Phi cũng mang tâm không phục. Triều đại Hán, Hàn Tín là một vị danh tướng tài ba xuất chúng, vì nhà Hán mà gây dựng cả cơ đồ giang sơn, nhưng lại vấp phải rất nhiều lời gièm pha phê bình. Còn Hồng Nhân Can, vì thấy các quan văn võ mỗi người một lời nhốn nháo ầm ĩ nên ông đã từ chối tước vị vương gia để tránh lòng quân oán giận.

Hồng Tú Toàn bèn triệu tập quần thần, mệnh lệnh cho Hồng Nhân Can phải lên đài thụ ấn. Hồng Tú Toàn nói: “Sóng gió đang lên, không lâu rồi sẽ ngừng lại”. Hồng Nhân Can trước mặt mọi người đã bước lên đàm luận đạo nghĩa, nói về thiên văn địa lý cùng những tư tưởng chính trị mới. Ông không chỉ một lần nữa đem chế độ Đông Vương ra nghị luận, mà còn mang những án kiện trước kia đã được công bố lần lượt phê bình và diễn nói lại rõ ràng. Ông phong thái đĩnh đạc ngay thẳng, ngôn từ mạnh mẽ phóng khoáng, khiến văn võ quần thần đều nghẹn ngào lắng nghe, ai ai cũng đều tấm tắc tán thưởng. Sau đó mọi người đã thay đổi sắc mặt, ca tụng rằng ông quả xứng là Văn Khúc tinh hạ phàm.

Hồng Tú Toàn hạ chiếu lệnh: Về sau, đối với những chuyện đại sự trong quân đội và chính trị, nếu có vấn đề nào không giải quyết được thì hãy đi hỏi Can Vương, những vấn đề chính sự đối ngoại thì đi hỏi Anh Vương, còn với những chuyện đại sự trong ngoài không thể giải quyết được thì đi hỏi Thiên Vương. Bởi vậy, mọi người phải kiềm chế tâm thái, tiết chế bản thân.

Hồng Nhân Can soạn bộ “Tư chính tân thiên”, ông nói: “Không mưu cầu tước lộc vinh hiển, mà phải thực sự mong muốn góp phần tham gia soạn thảo những phương án, kế sách, dùng hiểu biết tài năng mà lắng nghe, báo đáp ơn tri ngộ với Thánh Chủ”. Ông không phải vì ham muốn tước lộc, mà là vì báo đáp ơn tri ngộ của Thánh Chủ. Nội dung của “Tư chính tân thiên” nói về vấn đề chấn hưng thương nghiệp, kinh doanh ngân hàng, xây dựng đường sắt, khai khoáng, sáng lập bưu chính, làm báo giấy, thậm chí còn lập nên người giám hộ theo chế độ tư pháp quy định và giám sát chính phủ, v.v.

Những động thái như việc Anh vương Trần Ngọc Thành dẫn quân đi chinh phạt Giang Bắc, Lý Tú Thành tiến đánh Hồ Bắc, Giang Tây và Tô Hàng… đều là xuất phát từ những kế sách mưu lược của Hồng Nhân Can. Vào thời kì cuối của Thái Bình Thiên Quốc, các vị vương gia trú đóng ở nhiều vùng biên cương, tự ý cầm giữ lương bổng, vì tước vị càng lớn thì chiêu binh càng thêm vững chắc, cho nên khi triều chính muốn điều động binh quyền thì không còn hiệu nghiệm.

Hồng Nhân Can có ý định liên hợp với ngoại quốc, đánh hạ Vũ Hán và Kinh Tương để khống chế toàn bộ Trường Giang, sau đó sẽ từ Tứ Xuyên công phạt Thiểm Tây. Nhưng bởi vì Lý Tú Thành quá vui thú nơi Tô Hàng nên không để ý đại cục của Giang Bắc, từ đó gây khó dễ cho Hồng Nhân Can khi muốn liên hợp với người Tây phương. Bởi vậy, mặc dù kế hoạch ban đầu rất chu toàn nhưng cuối cùng lại bị thói ham vui của Lý Tú Thành làm hủy cả đại cục.

(Ảnh minh họa: ifuun.com)

Noi theo Văn Thiên Tường, phó mệnh cho trời

Sau thất bại của quân Thái Bình tại Quảng Xương Ấp, Hồng Nhân Can bị quân Thanh bắt và giam giữ tại quân doanh Tịch Bảo Điền. Trần Doanh nói với Hồng Nhân Can rằng, nếu khai ra tân Thiên Vương thì sẽ được thả, đồng thời còn được trọng thưởng một ngàn lượng bạc, đảm bảo con đường tương lai sẽ rộng mở.

Hồng Nhân Can đáp rằng: “Ngươi bảo ta khuyên vương chủ đầu hàng, nhưng chuyện này không phải đạo của một bề tôi đối với vua. Huống chi lại còn muốn ta dẫn các ngươi đi bắt tân Thiên Vương hay sao? Ta vốn là huynh đệ với thiên hoàng, là vương thúc của đương kim ấu chủ, là một vương gia khai triều tinh trung quân sư, tổng chưởng quản lý mọi việc chính sách quan trọng cả trong ngoài triều đình, làm sao có thể chịu nỗi khuất nhục này? Mọi chuyện đã đến bước này, ngươi muốn giết cứ giết, không cần vũ nhục ta”.

Trần Doanh Quan thấy bản tính chính trực ngay thẳng của ông, đã đem ông giải đến quan dưới trướng Tịch đại nhân. Tịch Bảo Điền nói: “Hôm nay bắt được một kẻ không chịu thừa nhận thân phận của mình. Ta muốn giết hắn mà lại không biết được danh tánh, quả là uổng phí để hắn chết đi, chi bằng ngươi ra xác nhận thân phận hắn một chút”.

Hồng Nhân Can nói: “Sắp chết đến nơi, ta cũng chẳng phải mua danh cầu lợi. Xưa nay trung thần không liên đới tham gia mọi việc giữa hai vua, liệt nữ không gả hai chồng. Nước còn thì ta còn, nước mất thì ta mất”.

Hồng Nhân Can mặc dù bị bắt nhưng vẫn coi bản thân là vương tước đại thần của Thiên triều, tuân thủ thân phận của một thần tử, không bán chủ cầu vinh.

Hồng Tú Toàn trước khi băng hà đã từng lưu lại di chiếu cho thiên hạ biết rằng: “Trẫm mến mộ người huynh đệ có tài văn chương, kiến thức hiểu biết về các nước rất sâu rộng, trên thông thiên văn dưới tường địa lý”. Hồng Tú Toàn căn dặn Hồng Nhân Can hãy quản lý mọi việc đại sự từ quân đội đến chính trị, ngày sau tận tâm trợ giúp ấu chủ, không quên hoàng mệnh.

Hồng Nhân Can đã trả lời rằng, sau khi Thiên Vương băng hà ông nhất định sẽ hết lòng tận tâm phò tá triều chính, cúc cung tận tụy. Về sau thành Thiên Kinh bị vây hãm, ông cùng ấu chủ bị thất lạc. Từ đó ông luôn tự trách bản thân vì đã không làm tròn theo di mệnh của lão Thiên Vương lúc lâm chung, làm sao có thể bán chủ cầu vinh đây?

Hồng Nhân Can nói: “Ta nghĩ, nhân sinh giữa trời đất thì phải thật sự dốc hết lòng với hai chữ Trung Hiếu thì mới có thể thành công. Đã không làm tròn bổn phận tận hiếu, nếu như hôm nay lại không thể tận trung, bên trên lại phụ sự phó thác của lão Thiên Vương, khiến ấu chủ sống còn hiện chưa rõ. Nay ta lại không thể chỉ huy kiềm chế các vương thì còn có mặt mũi nào sống tạm bợ chỉ chốc lát này”. Hồng Nhân Can tự dằn vặt bản thân, thể hiện rằng ông muốn làm theo Văn Thiên Tường, cho rằng sinh tử được mất đều phó mặc cho mệnh trời, không đòi hỏi mong cầu điều chi.

Bởi vậy ông nói với Tịch đại nhân: “Ngươi cứ việc áp giải ta đến Bắc Kinh, hãy giết ta để thành toàn tâm nguyện của ta, ta cũng chẳng có gì phải hối tiếc”. Hồng Nhân Can ngôn từ lưu loát, thẳng thắn, chính trực, không một chút sợ hãi né tránh, nói đến tận cùng tâm huyết của một vị trung thần chính nghĩa, dù trong hoàn cảnh nào cũng không phản bội vương chủ của mình.

150 năm đã trôi qua, khi hồi tưởng lại cuộc hành trình đầy bi tráng của các vị vương, vì để tránh cho những thứ xấu xa lưu truyền làm dơ bẩn thương khung, ông đã tận lực trông coi bảo vệ những thần tử trung tín cho đến thời khắc cuối cùng. Sinh tử đối với ông cũng chỉ là được mất nhất thời, không đáng phải nhắc đến, có thể giữ vững được lời ủy thác của Thiên Vương mới chính là sứ mệnh của ông tại vùng đất Trung Hoa này.

Vào khoảnh khắc cuối cuộc đời, những điều ông mang theo không phải là nỗi sợ hãi sinh tử, mà là sự nuối tiếc khi cơ đồ đại nghiệp vẫn chưa đạt được, chí lớn kiên cường, hùng tráng vẫn chưa thực hiện xong.

Tài liệu của Quân cơ xứ triều Thanh, Tuần phủ kiêm Đề đốc Giang Tây Hàm Quan Phòng hỏi cung Hồng Nhân Can, hiện đang lưu giữ ở Bảo tàng Cố cung Đài Bắc. (Ảnh: epochtimes.com)

Phụ lục: Bài thơ tuyệt mệnh của Hồng Nhân Can

Xuân Thu đại nghĩa biệt ra đi
Vẫn còn mê muội chẳng biết chi
Giặc Bắc làm mê chân bản tính
Cương thường văn vật đảo điên thì.

Chí lớn đuổi giặc còn chưa báo
Miêu Cách bảy mươi đức chưa tròn.
Gót chân giẫm nát mây đầu núi
Ngắm trông biển cả mảnh trăng thu.

Chí lớn vẫn còn trời đất rộng
Lòng son đọng mãi cổ kim sầu.
Thế gian ai kẻ anh hùng nhỉ
Đứng ngóng cảm thương luống bạc đầu.

Anh hùng cười nói cầu vồng khí
Cảm khái cổ kim uất hận đầy.
Giặc Bắc chiếm Chu bao đời hận
Minh Tống Liêu Nguyên Thát Đát hung
Mối thù truyền kiếp còn chưa trả,
Chớ để độc này vấy trời xanh.

Giặc Bắc vốn chẳng người cùng tộc,
Tiền lương binh mã lấy của ta.
Huynh đệ tương tàn ôi đau xót,
Vạn cổ anh hào mãi thở than.

(Theo Đại Kỷ Nguyên tiếng Trung)
Tác giả: Hoàng Phủ Dung
Tuệ Liên biên dịch

 

 

Bùi Viện và giấc mộng cường quốc Đại Nam dang dở (P.1)

0

Hoàng đế Quang Trung mất sớm năm 39 tuổi trong bao niềm tiếc nuối khi giấc mộng đưa Đại Việt trở thành cường quốc hàng hải đành dang dở. Hơn 47 năm sau, nước Nam thời Nguyễn trước hiểm hoạ ngoại xâm đã xuất hiện một vị hào kiệt vô cùng giống với Quang Trung Hoàng đế về tài năng thống lĩnh và tầm nhìn đối với hải quân. Vị hào kiệt đó chính là Bùi Viện – Đô đốc hàng hải thương mại của tuần dương quân hiện đại duy nhất thời phong kiến trong lịch sử Việt Nam.

Phần 1: “Chí tang bồng hồ thỉ dạ nào khuây, phải hăm hở ra tài kinh tế”

Thành Ninh Bình với 1.700 binh lính hạ vũ khí đầu hàng một toán quân Pháp chỉ có bảy người. Muốn thoát khỏi cảnh đô hộ, chỉ còn cách duy tân và tự lực tự cường. Đây cũng là thời điểm mà quân đội quốc gia cần một người tài năng như Bùi Viện.

Hoàng đế Quang Trung từng được xem là chúa tể của tất cả hải tặc Đông Nam Á, là vua của hải tặc. Phát kiến sử dụng hải tặc làm nòng cốt trong lực lượng hải quân của ông không những tạo ra một hạm đội lừng lẫy trong khu vực, lập nên những chiến công lớn mà còn làm cho an ninh hải lộ của nước ta không bị ảnh hưởng bởi nạn cướp biển. Quang Trung mất sớm năm 39 tuổi trong bao niềm tiếc nuối khi giấc mộng đưa Đại Việt trở thành cường quốc hàng hải đành dang dở.

Hơn 47 năm sau, nước Nam thời Nguyễn trong cơn nguy cấp đối mặt với chuyện mất nước đã xuất hiện một vị hào kiệt vô cùng giống với Quang Trung Hoàng đế về tài năng thống lĩnh và tầm nhìn đối với hải quân. Ông đã xây dựng nên một hạm đội tuần dương quân hiện đại vô cùng tiềm năng. Tiếc thay, mệnh trời lại trêu ngươi khi người anh tài này, cũng như Quang Trung, mất sớm năm 39 tuổi. Nước Nam một lần nữa lại để vuột mất cơ hội trở mình thành cường quốc. Thật đáng tiếc thay!

Vị hào kiệt đó chính là Bùi Viện, đô đốc hàng hải thương mại của tuần dương quân hiện đại duy nhất thời phong kiến trong sử Việt Nam.

Bùi Viện (1839 – 1878) hiệu Mạnh Dực, quê ở làng Trình Phố, tổng An Bồi, huyện Trực Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định (nay là Trình Trung, xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình). Ông sinh ra trong một gia đình nhà Nho nhưng lại không có duyên khoa cử. Năm 1864 ông đỗ Tú tài, năm 1868 đỗ Cử nhân. Nhưng sau đó hai lần thi Hội năm 1868 và 1869 ông đều hỏng thi. Có lẽ ông Trời không muốn ông đỗ đại khoa làm quan to mà muốn an bài để ông làm những việc phi thường chăng?

Hải quân Đại Nam, thời huy hoàng nay còn đâu?

Để thống nhất quốc gia, nhà Nguyễn phải ưu tiên xây dựng thủy binh hùng mạnh để giành chiến thắng trong cuộc đối đầu với quân Tây Sơn, một lực lượng hải quân có thể coi là tinh nhuệ nhất Đông Nam Á đương thời.

Nguyễn Ánh, giống như Nguyễn Huệ, cũng là một trong những vị hoàng đế hiếm hoi vô cùng tinh thông thủy chiến và nghệ thuật đóng tàu. Ông đã trực tiếp chỉ huy xây dựng hạm đội nhỏ bé của mình trở thành một lực lượng đáng sợ ở Đông Nam Châu Á và giành chiến thắng chung cuộc. Kết quả là trong vỏn vẹn 10 năm, Nguyễn Ánh đã thành lập một hạm đội với số thuyền hùng hậu lên tới 100 chiến hạm, 800 pháo hạm và 500 bán pháo hạm. Trong đó đáng kể nhất là chiếc Long Phi được trang bị đến 32 khẩu đại bác, Phụng Phi và Bằng Phi có 26 khẩu với sức chứa trên 300 người mỗi thuyền. Điều đáng nói là các chiến hạm và vũ khí này hiện đại tương đương với các đế quốc châu Âu thời đó và tất cả đều được đóng bởi chính người lính thợ Đại Nam.

(Ảnh minh họa: vietbao.vn)

Đây là một lực lượng đủ sức thống trị đường biển và đánh bại bất kỳ đối thủ nào cùng thời. Đã có rất nhiều ghi chép về giai đoạn này trong các tư liệu nước ngoài:

“Liệu cũng trong vòng 10 năm ác liệt như thế, các thần dân rất năng nổ của vua Louis XVI (chỉ Chính phủ Pháp) có thể xây dựng được đội quân hùng hậu như vậy không?”

(Trích “Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793)”, J.Barrow)

“Các xưởng đóng chiến thuyền trong xứ và các quân cảng được Ngài xếp đặt chỉnh tề, đồ sộ; người ngoại quốc đến xem phải động lòng kính phục, nếu cả châu Âu được trông thấy thì cả châu Âu cũng phải khen ngợi.

Một bên bài trí la liệt những súng trường, súng thần công, đại bác đủ hạng, những dã pháo, những xe chở súng, những viên đạn lớn nhỏ đủ cỡ… Phần nhiều so sánh với các kiểu súng đạn tốt nhất ở Tây phương, bất quá chỉ thua kém về vẻ đẹp mà thôi”.

(Le Labrousse, một người Pháp viết trong bức thư đề ngày 1/5/1800 gửi cho giám đốc trường Tu nghiệp của Hội Truyền giáo ngoại quốc ở Paris).

Hạm đội hùng mạnh kia của quân Nguyễn lẽ ra đã có thể được duy trì để chiếm ưu thế trên mặt biển vào thời đó (thế kỷ 19) và bảo vệ quyền lợi quốc gia khi mà các quốc gia Tây Âu đang bành trướng hải quân ra khắp thế giới. Thế nhưng, các vua nhà Nguyễn, sau vài cuộc phản loạn, lại trở nên e sợ chính quân đội và các tướng lĩnh của mình, họ thu hết quyền bính và hạn chế đầu tư vào quân đội. Hải quân càng thê thảm hơn khi hoàng gia xác định rằng lục địa mới là mối quan tâm hàng đầu. Họ bị bỏ bê và hầu như không có đầu tư nào đáng kể. Chưa kể chính sách bế quan tỏa cảng từ sau thời Gia Long lại càng khiến cho trình độ quân sự nhà Nguyễn trở nên lạc hậu trong khu vực. Đội ngũ chiến thuyền khét tiếng Đông Nam Á ngày nào giờ đã trở nên vô cùng nhỏ yếu và mỏng manh.

Binh lính bạc nhược ít huấn luyện:

“Các hạng lính trong nước (tổng) cộng ước (độ) hơn 119.000; trừ số thiếu ước (độ) 31.700 còn ước (độ) hơn 80.800; ở kinh các thứ lính (tổng) cộng ước (độ) 21.790 nhưng trừ lính hạ ban và các khoản khác, còn số đương ban là 9540; các tỉnh thì tỉnh lớn có ước (độ) 4 – 5000; tỉnh nhỏ cũng có số nghìn hoặc mấy trăm. Nhưng mà quân lính ấy ít tập luyện, bắn là thuật cần thiết mà mỗi năm chỉ tập một lần thôi, cho nên lâm sự thì rối lên, có khi vừa thấy quân địch đã sợ”.

Thủy quân lạc hậu thô sơ:

“Về thủy binh, đời Tự Đức có độ 7500 người cho toàn quốc, bao gồm 6, 7 chiếc tàu hơi (sau hòa ước Giáp Tuất (1874) được Pháp tặng thêm 5 chiếc tàu nhỏ), khoảng 50 thuyền lớn, nhiều chiếc bọc đồng. Tuy nhiên “thủy quân cũng như các viên quản suất, đều là tay ngang, không biện được sóng gió, không biết thuật đi bể”.

(Phan Khoang – trích lời tâu của Phạm Phú Thứ 1874)

Tranh vẽ lính thuộc quân đội nhà Nguyễn. (Ảnh: wikipedia.org)

Với tình trạng binh bị như thế, người Pháp dễ dàng chiếm lấy nước Nam là điều hiển nhiên. Năm 1873, chỉ trong vòng ba tuần, toàn bộ bốn tỉnh miền đồng bằng sông Hồng gồm Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định với 2 triệu dân cư và một số thành lũy đã rơi vào tay đội quân Pháp chỉ chừng 180 người, chỉ huy bởi viên đại úy hải quân chưa tới 35 tuổi là Francis Garnier. Có thể kể đến trường hợp thành Ninh Bình với 1.700 binh lính hạ vũ khí đầu hàng một toán quân Pháp chỉ có bảy người. Muốn thoát khỏi cảnh đô hộ, chỉ còn cách duy tân và tự lực tự cường. Đây cũng là thời điểm mà quân đội quốc gia cần một người tài năng như Bùi Viện.

“Chí tang bồng hồ thỉ dạ nào khuây, phải hăm hở ra tài kinh tế”

Đường công danh có vẻ không dành cho Bùi Viện, mãi đến năm 29 tuổi ông mới đỗ cử nhân. Ngay sau khi đỗ, ông liền rời quê nhà vào Huế để thi Hội. Tiếc thay, hai lần thi Hội năm 1868 và 1869 ông Cử họ Bùi đều bị trượt! Nhưng vốn tính tình phóng khoáng, có chí khí tài năng nên việc thi đỗ hay không đối với ông dường như không quan trọng mấy. Ông tận dụng thời gian ở kinh đô để làm quen với giới quan lại, đặc biệt là những người có cùng chí hướng và quan niệm cải cách như ông. Thời điểm đó, ông quen biết Lê Tuấn, quan Tham tri bộ Lễ, người rất mến chuộng tài năng của ông.

Cơ hội đến khi năm 1871, Lê Tuấn vâng mệnh vua ra Bắc phối hợp với quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc dẹp loạn quân Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh. Lê Tuấn do không thông hiểu miền Bắc nên mời Bùi Viện theo làm cố vấn. Lần trợ giúp này khá thành công nên triều đình cũng bắt đầu biết đến Bùi Viện.

Vừa xong việc với Lê Tuấn, ông lại xắn tay áo trợ giúp cho Doãn Khuê, Doanh điền sứ Nam Định làm việc khai hoang, lấn biển. Doãn Khuê (1813-1878) là một vị quan văn mà lại có tài thao lược, từng giữ các chức Đốc học các tỉnh Nam Định và Sơn Tây kiêm Doanh điền sứ, Hải phòng sứ các tỉnh duyên hải Bắc Kỳ. Ông là một trong số ít các vị quan có tư tưởng cải cách tiến bộ dưới thời vua Tự Đức, không cam chịu ký hòa ước hàng Pháp.

Có câu: “Anh hùng sở kiến lược đồng”, vì thế mà Doãn Khuê nhìn thấy tài năng của Bùi Viện, một người trẻ tuổi nhưng có “tài kinh bang tế thế”. Ông quyết định mời Bùi Viện ra giúp việc cho mình trong nha Doanh điền sứ. Công việc của nha này không chỉ là khai hoang, mà còn tạo cơ sở địa phương để xây dựng lực lượng dân binh, dùng cho kháng chiến chống Pháp sau này.

Tại đây, Bùi Viện được giao trọng trách vừa đánh dẹp hải tặc, vừa xây dựng kiến thiết bến Ninh Hải thành thương cảng (Ninh Hải là tiền thân của cảng Hải Phòng sau này).

Nhờ công lao khai khẩn của Doãn Khuê mà vùng Nam Định xây dựng được một cơ sở vững chắc, tạo lập được một đạo quân khá tinh nhuệ. Năm 1873, chính đạo quân này dưới sự lãnh đạo của Doãn Khuê và Nguyễn Mậu Kiến đã giao tranh ác liệt với quân Pháp của Francis Garnier, chiếm được đồn Chân Định, bắn cháy một tàu chiến Pháp và đánh bại quân Pháp một trận lớn ở làng Ngô Xá. Trong điều kiện hạn chế, cách biệt về trang bị cũng như trình độ của lực lượng dân quân mà làm nên những chiến công trên quả thật là điều kỳ diệu.

Những năm công cán tại các vùng này, việc tham gia dẹp loạn và công việc ở doanh điền sứ đã đem đến cho Bùi Viện những kinh nghiệm và tầm nhìn giúp ông sau này lập nên Tuần Dương Quân, lực lượng hải quân chuyên nghiệp đầu tiên của nước Nam.

(Còn tiếp)

Tĩnh Thuỷ

 

 

Hoàng đế chung thuỷ nhất lịch sử: chỉ một hoàng hậu, không nạp phi tần

0

Khi nghĩ đến các hoàng đế thời xưa, chúng ta thường liên tưởng tới “tam cung, lục viện” với hàng ngàn cung tần mỹ nữ. Thế nhưng, ít ai biết rằng có một vị hoàng đế Trung Hoa suốt một đời chung thuỷ với một hoàng hậu, hoàn toàn không nạp thêm phi tần. Vị hoàng đế ấy cũng là một người con chí hiếu.

Minh Hiếu Tông (1470 – 1505), tên thật là Chu Hựu Đường, là vị hoàng đế thứ 10 của nhà Minh và là con trai thứ 3 của Minh Hiến Tông Chu Kiến Thâm và người mẹ xuất thân hàn vi họ Kỷ. Thời kỳ ông trị vì được các sử gia ghi nhận là “Hoằng Trị trung hưng”, với rất nhiều công lao cải cách kinh tế – chính trị, trừ bỏ bè lũ quan lại bất tài và hoạn quan lộng quyền thời trước, khiến cho triều chính thông suốt, lòng người hòa hợp.

Hoàng đế chung thuỷ bậc nhất cổ kim

Dù là thân cửu ngũ chí tôn nhưng Minh Hiếu Tông lại chỉ có duy nhất một người vợ là Hiếu Thành Kính hoàng hậu Trương thị. Trương hoàng hậu trở thành vợ của Minh Hiếu Tông từ năm 1487, khi ông vẫn đang là hoàng thái tử. Sau khi lên ngôi, Minh Hiếu Tông cũng không lập thêm thê thiếp nào mà chỉ chung tình với hoàng hậu, mặc kệ cho quan lại dâng tấu khẩn cầu như thế nào đi chăng nữa.

Minh Hiếu Tông và hoàng hậu của ông duy trì những thói quen sinh hoạt hàng ngày như những cặp vợ chồng bình thường. Theo sử sách ghi lại, có một lần Trương hoàng hậu bị sưng miệng, Hiếu Tông đã tự tay bưng nước, truyền thuốc cho bà. Thậm chí, ông còn không dám ho vì sợ làm phiền bà nghỉ ngơi. Điều này đối với một người đàn ông bình thường đã là đáng quý, huống hồ là bậc đế vương.

Không chỉ vậy, Minh Hiếu Tông còn dành đãi ngộ đặc biệt cho gia đình Trương hoàng hậu. Khi lập hậu được 4 năm, phụ thân Trương hoàng hậu là Trương Loan được phong bá, khi chết đi được truy phong là Xương Quốc công. Hai em trai của hoàng hậu là Trương Hạc Linh được phong là Thọ Ninh hầu và Trương Diên Linh phong Xương hầu.

Minh Hiếu Tông. (Ảnh: wikipedia.org)

Tuổi thơ cơ cực

Có người cho rằng sở dĩ Minh Hiếu Tông suốt đời chỉ chung thuỷ với hoàng hậu là vì tuổi thơ ông đã chứng kiến những hiểm độc và nếm trải đủ đắng cay chốn hậu cung của cha mình là Minh Hiến Tông.

Mẹ đẻ của ông là Kỷ thục phi, con gái một viên quan tộc người thiểu số vùng đất Quảng Tây xa xôi. Theo Minh sử, bấy giờ Vạn quý phi là người được vua Minh Hiến Tông sủng ái nhất. Vạn quý phi sinh hạ được một hoàng tử, nhưng chẳng may bị chết yểu, từ đó bà không thể mang thai thêm lần nữa. Lo sợ người khác có thể cướp mất vị trí của mình, Vạn Quý phi lập dã tâm không để cho bất cứ phi tần nào được sinh con. Bà giết tất cả những đứa trẻ là con của hoàng đế với các phi tần khác. Chỉ cần phát hiện phi tần nào mang thai, bà lập tức bỏ thuốc độc, ép phá thai, thậm chí còn giết chết người đó, thủ đoạn vô cùng thâm độc (2).

Khi biết Kỷ thị có mang, Vạn quý phi bèn sai một cung nữ đem thuốc phá thai tới bắt uống. May mắn thay, cung nữ này động lòng trắc ẩn đã không thực hiện mệnh lệnh, mà trở về nói dối rằng Kỷ thị không có thai mà bị mắc bệnh báng bụng. Vạn quý phi tin cho là thật, lệnh đuổi Kỷ thị ra sống ở An Lạc đường, một lãnh cung cực kỳ hẻo lánh. Năm Thành Hóa thứ sáu (1470), Chu Hựu Đường được Kỷ thị bí mật sinh ra. Nhờ thái giám đùm bọc che giấu, nên Vạn quý phi, hoàng đế Hiến Tông cùng hầu hết các quan đại thần không hề hay biết tới sự hiện diện của vị hoàng tử này.

Năm năm sau, Hiến Tông đã ba mươi tuổi, tâm trạng u uất bởi những đau đớn của hai lần chết con, đã thốt lên: “Trời! Trên đầu trẫm tóc đã bạc rồi, nhưng vẫn chưa có người con nào, thật đáng buồn!” Thái giám Trương Mẫn thấy thời cơ đã tới, bèn quỳ xuống tâu: “Vạn tuế gia đã có hoàng tử rồi, hiện hoàng tử đang ở Tây Nội”. Nhờ đó, cả triều đình mới biết một sự thực vô cùng đáng mừng vẫn được giữ kín bấy lâu. Hoàng đế cử Hoài Ân đến Nội các tuyên chiếu, bố cáo cho thiên hạ rõ. Hiến Tông đích thân đặt tên cho hoàng tử là Hựu Đường, phong Kỷ thị làm thục phi, đón vào cung Vĩnh Thọ.

Không lâu sau, Kỷ thục phi và thái giám Trương Mẫn bị Vạn quý phi ngầm sai người sát hại, khiến trong cung triều Minh lại thêm một nghi án. Hiếu Túc Chu thái hậu (mẹ đẻ của Hiến Tông) lo lắng hoàng tôn bị hãm hại, bèn đón Hựu Đường vào cung Nhân Thọ cùng ở với mình, nhờ vậy hoàng tử được bảo hộ nghiêm mật.

Người con hiếu thuận

Năm 1487, Hiến Tông băng hà, hoàng thái tử Chu Hựu Đường kế thừa ngôi đại thống, đổi niên hiệu là Hoằng Trị.

Mặc dù khi lên ngôi đã không còn cha mẹ, nhưng Hựu Đường vẫn nổi tiếng là ông vua chí hiếu. Ông không bao giờ sao nhãng việc vấn an, trực hầu và xin nghe lời chỉ dạy của thái hoàng thái hậu (mẹ của vua Hiến Tông – bà nội).

Đặc biệt, đối với người mẹ Kỷ thị của Hiếu Tông, tình thân quả thực khác thường. Từ thuở chào đời mãi đến khi sáu tuổi, ông chung sống với mẹ trong cảnh lén lút ở An Lạc đường lạnh lẽo âm u, Kỷ thị đã nuốt mọi niềm cay đắng vào trong lòng để nuôi con. Vừa mới thoát khỏi cuộc sống đen tối, còn chưa kịp để cho người con báo đáp công ơn dưỡng dục, thì Kỷ thị đã đột ngột qua đời. Sau khi Hựu Đường lên ngôi, ông đã truy tôn Kỷ thị làm hoàng thái hậu, đem di thể bà dời tới chôn ở Mậu Lăng, nơi an táng Hiến Tông.

Nghi án về cái chết của Kỷ thị, các đại thần đều dâng tấu xin được điều tra tìm đến tận cùng nguồn gốc. Nhiều người đề xuất cần phải làm sáng tỏ tội ác của Vạn quý phi, tước đoạt thụy hiệu của bà. Thế nhưng, Hựu Đường cho rằng nếu tiếp tục truy xét sẽ liên quan tới cha mình là Hiến Tông, điều này không hợp với đạo lý “Tử vi phụ ẩn” (con giấu tội cho cha) (1). Hựu Đường đã biểu hiện thái độ khoan dung nhân hậu, truyền chỉ không cho phép nhắc tới chuyện đó nữa, vì vậy đã được trăm họ ngợi ca. Cách thể hiện chữ hiếu của Hựu Đường khác hẳn với thói thường thế nhân, không tiêu diệt bè đảng của Vạn quý phi để trả thù cho thân mẫu. Hựu Đường đã chọn cách lấy ân báo oán, lấy từ bi hoá giải hận thù để xây dựng đạo hiếu, vì vậy đạo hiếu của ông mang tính nhân văn cao cả.

Tình cảm nhớ thương vô tận đối với mẹ hiền Kỷ thị, Hiếu Tông đi tìm thân thuộc đưa về kinh sư để báo đáp. Dù vấp phải nhiều trắc trở nhưng Hựu Đường vẫn không nản chí, lần lượt cử các quan viên tới Quảng Tây để truy tìm tông tích. Về sau, Hựu Đường lập miếu vũ tôn thờ ngoại tộc ở phủ Quế Lâm (Quảng Tây), truy phong cho cha của Kỷ thái hậu là Thôi Thành Tuyên Lực Vũ Thần Đặc Tiến Quang Lộc đại phu Trụ Quốc Khánh Nguyên Bá, thụy hiệu là Đoan Hi, truy phong mẹ của Kỷ thái hậu là Bá phu nhân.

(Ảnh minh họa: xuehua.tw)

Vị quân chủ anh minh

Khi mới lên ngôi, Minh Hiếu Tông phải đối mặt với tình thế nghiêm trọng, mâu thuẫn giữa bè đảng của Vạn quý phi và phe thái giám ngày càng trở nên sâu sắc, triều Minh lâm vào cảnh hỗn loạn. Hiếu Tông đã ra sức chỉnh đốn chế độ, chấn hưng vương triều. Ông đã cách chức rất nhiều kẻ gian tà, đồng thời ra sức tuyển chọn bổ nhiệm người hiền tài, thực thi chính sách nghiêm khắc kiểm tra phẩm chất quan lại… làm cho triều chính ngày càng vững vàng, thịnh trị.

Không chỉ nghiêm khắc trong việc chấp pháp, Hiếu Tông cũng nổi danh là một ông vua có đức khoan dung nhân từ. Ông chỉ dụ cho quần thần: “Từ nay trong khi hỏi tội, cần thiết phải giữ lòng khoan thứ nhân hậu, chấp pháp cần phải công bằng, cân nhắc từng lời nói, quan sát sắc mặt, thẩm vấn tình tiết kỹ càng” (Minh Hiếu Tông thực lục). Ông luôn sử dụng chính sách vỗ yên nhân dân, thường xuyên xuất lương thực cứu giúp những vùng bị thiên tai, hỗ trợ người nghèo, miễn giảm thuế dịch…

Sử sách Trung Quốc gọi Chu Hựu Đường là “Trung Hưng lệnh chủ”, đánh giá là ông vua triều Minh đáng ca ngợi kế tiếp sau Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Sau khi Chu Hựu Đường băng hà, căn cứ vào đức độ lúc bình sinh của ông mà hoàng tử Chu Hậu Chiếu kế ngôi đã suy tôn miếu hiệu của ông là Hiếu Tông Hoàng Đế.

Bách thiện hiếu vi tiên

Chung thuỷ và hiếu thuận là hai phẩm chất tưởng chừng tách biệt, nhưng thực ra lại rất có liên quan, cuộc đời Minh Hiếu Tông đã tỏ rõ cho người đời sau điều ấy. Phải chăng vì hiếu thuận với mẹ, nên Hiếu Tông thấu hiểu và cảm thông với những đau khổ của người phụ nữ chốn hậu cung, và ông quyết tâm không để vợ của mình phải chịu tổn thương như vậy?

Người xưa nói: “Bách thiện hiếu vi tiên” (Trong trăm điều thiện thì hiếu đứng đầu) quả là có đạo lý. Lòng hiếu thuận của một người có thể bồi dưỡng thêm, mở rộng thêm trở thành lòng kính trọng, nhân từ đối với tất cả mọi người trong thiên hạ. Một ông vua có lòng hiếu thuận thì cũng dễ dàng bao dung, nhân từ với thê tử của mình, khoan hậu đối với thần dân của mình.

Vậy nên những người phụ nữ muốn chọn cho mình ý trung nhân trọn đời chung thuỷ, phải chăng cũng cần xét xem họ có hiếu thuận với cha mẹ hay không? Với cha mẹ còn không hiếu thuận, thì mong gì đến yêu thương người nào khác nữa!

Khiêm Từ

 

 

 

 

Nguồn gốc câu thành ngữ ‘Nhất ngôn cửu đỉnh’: 3 tấc lưỡi đẩy lui trăm vạn hùng binh

0

Mọi người đều biết câu thành ngữ: “nhất ngôn cửu đỉnh”, ý nghĩa là lời nói rất có trọng lượng. Vậy vì sao lại ví với “cửu đỉnh”, và “nhất ngôn cửu đỉnh” có nguồn gốc như thế nào?

Mao Toại tự tiến cử bản thân, “nhất ngôn cửu đỉnh” ra đời từ đó

Trong thời kỳ Chiến Quốc, nước Tần tấn công nước Triệu ở Hàm Đan (kinh đô nước Triệu). Bình Nguyên Quân của nước Triệu đến nước Sở cầu viện, muốn liên kết với nước Sở để chống lại nước Tần. Bình Nguyên Quân muốn tuyển 20 môn khách cùng đến nước Sở để thuyết phục, nhưng tìm tới tìm lui chỉ tìm được 19 người, còn thiếu một người thì phải làm thế nào đây? Lúc ấy, có một người tên là Mao Toại tự tiến cử mình, Bình Nguyên Quân bèn thu nạp anh ta.

Đến nước Sở, Bình Nguyên Quân vẫn không có cách nào thuyết phục Sở Vương viện trợ nước Triệu. Cuối cùng Mao Toại cầm kiếm đi về phía trước, hướng đến Sở Vương phân tích tình thế với một phong thái chính nghĩa, lời nói trang nghiêm, khí thế hùng hồn; Sở Vương bèn đáp ứng việc thiết lập giao ước đồng minh với nước Triệu.

Bình Nguyên Quân sau khi trở về nước Triệu, nghĩ đến việc đã dùng cả một ngày mà không thể thuyết phục được Sở Vương, vậy mà Mao Toại chỉ với mấy câu mà khiến cho Sở Vương không nói được lời nào, mới tán thưởng Mao Toại rằng: “Mao tiên sinh đến Sở; mà khiến nước Triệu được tôn trọng nặng như cửu đỉnh, như chuông Đại Lữ. Mao tiên sinh dùng ba tấc lưỡi còn mạnh hơn cả trăm vạn hùng binh”.

Thành ngữ: “Nhất ngôn cửu đỉnh” chính là từ điển cố đó mà ra vậy.

Vì sao gọi là ‘cửu đỉnh’?

‘Đỉnh’ là vật dụng dùng để cúng tế Thần minh và tổ tiên (có dạng như chậu), cũng có thể là vật dụng để đựng thức ăn. Sau khi Đại Vũ trị thuỷ thành công, kiến lập nên vương triều nhà Hạ, đã chia thiên hạ thành chín châu (cửu châu) là: Kí, Duyện, Thanh, Kinh, Dương, Lương, Ung, Từ, Dự. Thêm vào đó, ông lệnh cho thuộc hạ thu thập đồng xanh (kim loại đồng) ở các châu, đúc thành chín đỉnh. Trên mỗi đỉnh có sông núi, con người, sản vật… của các châu được khắc lên đó. Cửu đỉnh đại biểu cho cửu châu, cũng chính là đại biểu cho thiên hạ.

Đại Vũ xem cửu đỉnh là bảo khí trấn quốc, là biểu tượng của vương quyền thiên tử. Nhưng bảo đỉnh trấn quốc này sau khi kinh qua ba triều đại là Hạ, Thương, Chu; trong thời kỳ nhà Tần diệt nhà Chu, có một bảo đỉnh đã lạc mất ở sông Tứ Thủy (nay thuộc Tế Ninh, Sơn Đông), tám cái còn lại lưu lạc ở đâu thì không rõ. Tần Thủy Hoàng và Hán Văn Đế đều từng nghĩ cách vớt bảo đỉnh từ Tứ Thủy, nhưng đều mất công vô ích. Cửu đỉnh chính là tiêu mất một cách thần bí như vậy.

(Ảnh minh họa: aboluowang)

Nhà Tần phát binh đến nhà Chu đoạt cửu đỉnh

Vào cuối triều đại nhà Chu, nước Tần phát binh hướng về Đông Chu, muốn đoạt cửu đỉnh của nhà Chu. Thiên tử nhà Chu lúc bấy giờ phái ‘Đại phu’ (một chức quan) là Nhan Suất hướng đến nước Tề để cầu trợ và phải đồng ý điều khoản là tặng cửu đỉnh cho Tề quốc.

Sau khi nước Tề phái binh đẩy lui quân Tần thì Tề Vương chuẩn bị đòi cửu đỉnh. Nhan Suất muốn phân tán ý định ấy của Tề Vương, bèn hỏi Tề Vương là muốn mượn một con đường nào đó để vận chuyển cửu đỉnh về Tề quốc. Kết quả là không có con đường nào đáp ứng được, vì Nhan Suất kể năm xưa sau khi Chu Võ Vương phạt Trụ lấy được cửu đỉnh xong, để vận chuyển một đỉnh phải dùng đến chín vạn người, cửu đỉnh phải mất tổng cộng là 81 vạn người! Dù Tề Vương có ngần ấy nhân lực, cũng không có con đường nào đủ rộng để có thể vận chuyển về nước Tề. Cuối cùng Tề Vương bãi bỏ việc ấy, cũng không đề cập đến chuyện vận chuyển cửu đỉnh nữa.

Tần Võ Vương ‘nâng đỉnh mà vỡ xương bánh chè’

Thời kỳ Chiến Quốc, Tần Võ Vương sau khi hạ thành Nghi Dương, đã trực tiếp tiến vào Lạc Dương, Thiên tử nhà Chu đích thân nghênh tiếp. Tần Võ Vương tiến tới tông miếu nhà Chu và thấy được chín cái đỉnh. Tần Võ Vương bản thân là người có sức lực phi phàm Trời cho, nên khi nhìn thấy đỉnh của Ủng Châu, ông muốn cùng đại lực sĩ Mạnh Thuyết so tài nâng đỉnh. Sau khi dùng hết sức nâng đỉnh lên khỏi mặt đất nửa thước thì đột nhiên tay ông không còn chút lực, cái đỉnh đó rơi xuống, đè lên chân của ông, làm chân ông bị vỡ nát, và ông chết ngay trong đêm đó.

Trong “Văn Tâm Điêu Long” quyển 18, Lưu Hiệp có nói rằng: “Một lời nói quý giá nặng hơn cửu đỉnh, ba tấc lưỡi hơn cả trăm vạn hùng binh”.

Mao Toại xuất ngôn, đã khiến Sở Vương xuất binh cứu Triệu. Lời nói của Nhan Suất đã thoái lui được thiên vạn địch quân, bảo hộ được cửu đỉnh. Thời Chiến Quốc binh mã loạn lạc, ‘nhất ngôn cửu đỉnh’ không chỉ yêu cầu trí tuệ đầy đủ, mà còn phải có đủ dũng khí. Tần Võ Vương dùng sức mạnh ngang ngược, cho rằng tự mình có thể đủ sức nâng đỉnh, kết quả chết nơi đất khách, trở thành trò cười cho thiên hạ.

Theo secretchina.com

Mạn Vũ biên dịch

 

Đọc nhiều

Cần điều tra clip và xử lý cán bộ đòi chôn sống nhà sư.

Giữa lúc cơn khủng hoảng truyền thông Phật giáo đang leo thang vì những bài báo lá cải tiếp tục bồi bút sau khi...

Sự thật về người quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao...

Ngày 13/3/2021, ngay sau khi báo Thanh Niên Online đưa tin: ”Quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao cấu trẻ em:...

Cần Lên Án Báo Tuổi Trẻ Khi Đem Phật Giáo Ra Biếm Họa

Ngày 15/1/2020, Tuổi Trẻ Online đã có sự can thiệp chỉnh sửa lại thông tin đăng tải, buộc lòng phải lên tiếng xin lỗi...

Khai tôn giáo trong căn cước công dân, phải có “giấy chứng nhận xuất...

 Đây là một thắc mắc lớn mà người viết đã nhiều lần đặt ra trong khi trực tiếp thực hiện các thủ tục liên...