Thứ Ba, Tháng Chín 21, 2021

Khám phá mới

Sự thật về ngôi làng ‘ngủ’ mọi lúc, mọi nơi

Một ngôi làng ở Kazakhstan không bao giờ phải lo lắng mất ngủ, vì dân làng ở đây có thể chìm vào giấc ngủ sâu mọi lúc, mọi nơi, vào bất cứ lúc nào trong ngày.

Người dân trong làng có thể ngủ mọi lúc, mọi nơi (Ảnh: Shutterstock)

Ngôi làng này có tên là Kalachi, nằm ở Kazakhstan. Ngôi làng này còn được mệnh danh là ngôi làng “lười” vì có nhiều người ngủ suốt ngày. Ở đây, cả nam và nữ, bất kể dịp nào, đều có thể ngủ bao lâu tùy thích. Bạn có thể thấy bất cứ lúc nào, trên đường hay bất cứ nơi đâu, một nhóm người đang nằm ngủ, điều này nghe có vẻ khó tin đối với chúng ta, nhưng đó là sự thật, và họ có thể ngủ vài tiếng đến vài ngày.

Những cơn buồn ngủ triền miên của dân làng đã mang đến những phiền toái lớn cho cuộc sống hàng ngày của họ cũng như sự phát triển bình thường của ngôi làng. Dân làng có thể buồn ngủ ngay cả khi đang đi bộ, đang làm việc hoặc đang trò chuyện và thức dậy trong tình trạng mất trí nhớ, uể oải, suy nhược và đau đầu. Có người thậm chí ngủ liên tục 6 ngày mới thức dậy.

Hiện tượng kỳ lạ này khiến mọi người rất khó hiểu. Môi trường trong ngôi làng này thực sự rất tốt, môi trường trong lành và tự nhiên, là nơi tốt để bạn quên đi lo lắng, nhưng một nơi như vậy lại có ma lực khiến mọi người buồn ngủ, ngay cả các chuyên gia cũng không thể biết tại sao.

Để điều trị chứng ngủ kỳ lạ này của dân làng, chính quyền địa phương đã đặc cách mời một đoàn y tế có tiếng ở nơi khác đến để kiểm tra, nhưng kết quả kiểm tra cho thấy sức khỏe của dân làng đều như nhau. Các chuyên gia đến kiểm tra đều ở lại ngôi làng này, một lúc sau cũng xuất hiện các triệu chứng buồn ngủ nhẹ. Các chuyên gia nhận thấy đây không chỉ là vấn đề y tế, để tìm ra nguyên nhân khiến người dân buồn ngủ, chính quyền địa phương đã mời các nhà khoa học tiến hành một cuộc kiểm tra môi trường địa phương.

Nhiều người nghi ngờ nguyên nhân là do một mỏ uranium gần đó đã bị đóng cửa ngay sau khi Liên Xô. Bộ y tế Kazakhstan đã kiểm tra hơn 7.000 ngôi nhà gần đó nhưng không tìm thấy mức độ phóng xạ cao đáng kể. Họ có phát hiện mức độ phóng xạ tăng lên trong một số ngôi nhà, nhưng điều đó không đủ gây ra hiện tượng này.

Sau khi xem xét nhiều nguyên nhân khác nhau, cuối cùng các nhà khoa học đã tìm ra lời giải cho bí ẩn lâu năm này. Vấn đề thực sự chính là do não của người dân trong làng bị thiếu ôxy. Nguyên nhân là do mỏ uranium tuy đã bị đóng cửa nhưng nồng độ carbon monoxide và hydrocacbon trong không khí ở đó tăng cao. Lượng oxy trong không khí giảm dẫn đến hiện tượng ngủ bất thường này.

Sau khi xác định được vấn đề, chính phủ Kazakhstan ngay lập tức sơ tán người dân khỏi ngôi làng.

Theo Vision Times

Nghiên cứu: Học một ngôn ngữ mới bằng cách viết tay tốt hơn đánh máy

Ngày nay, mặc dù cách viết bằng tay dần được thay thế bằng cách đánh máy. Tuy nhiên, một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy viết tay giúp tăng tốc độ và hiệu quả học tập về mặt học ngôn ngữ, và tốt hơn so với việc đánh máy hay xem hình ảnh.

Viết tay giúp học ngôn ngữ mới tốt hơn (Ảnh: Shutterstock)

Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu tại Đại học Johns Hopkins, Hoa Kỳ, 42 tình nguyện viên trưởng thành đã được chỉ định học bảng chữ cái tiếng Ả Rập. Một số người trong số họ thực hành viết trên giấy; một số đánh máy; những người khác làm quen với các chữ cái bằng cách xem và trả lời video.

Viết tay, đánh máy và học bằng hình ảnh đều là những cách học hiệu quả để các tình nguyện viên học bảng chữ cái tiếng Ả Rập. Sau khi học 6 lớp, các tình nguyện viên hiếm khi mắc lỗi trong các kỳ thi, nhưng xét trên mặt bằng chung nhóm viết tay có điểm kiểm tra tốt nhất.

Tiếp theo, các nhà nghiên cứu muốn hiểu cách từng nhóm tình nguyện viên sử dụng bảng chữ cái Ả Rập. Nói cách khác, các tình nguyện viên có thể nhận dạng các chữ cái, nhưng liệu có ai có thể viết chúng một cách chuyên nghiệp, sử dụng chúng để đánh vần các từ mới, hoặc đọc các từ không quen thuộc?

Sau khi kiểm tra, nhóm viết tay vẫn cho kết quả tốt nhất.

Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng nghiên cứu này chứng minh lợi ích của việc học ngôn ngữ bằng cách viết tay. Có vẻ như bằng cách viết tay, mọi người sẽ nhớ ngôn ngữ mới tốt hơn.

Tác giả chính của báo cáo nghiên cứu này và cựu nghiên cứu sinh Tiến sĩ Robert Wiley của Đại học Johns Hopkins cho biết, kinh nghiệm mà họ thu được từ nghiên cứu này là ngay cả khi tất cả các tình nguyện viên đều có thể nhận ra các chữ cái Ả Rập, viết tay vẫn là cách tốt nhất để học một ngôn ngữ với ít thời gian hơn.

Mặc dù, 42 tình nguyện viên không phải là số lượng quá lớn cho nghiên cứu về chủ đề này, nhưng xu hướng được tiết lộ bởi nghiên cứu này là trong khi các phương pháp kỹ thuật số đã chiếm ưu thế trong giao tiếp giữa con người với nhau, thì giấy và bút truyền thống vẫn đóng một vai trò quan trọng trong việc học tập.

Theo Epoch Times

Bí ẩn: Nhà sư Miến Điện chứng kiến kiếp luân hồi sinh tử

Ở Myanmar, những người nhớ được tiền kiếp của mình rất phổ biến, phổ biến đến nỗi có một thuật ngữ riêng biệt dùng để chỉ những người này, đó là: “người tái sinh”…

Giáo sư Ian Stevenson – người mà chúng tôi đã giới thiệu trước đây, chuyên gia nghiên cứu về luân hồi chuyển thế, ông đã đến Myanmar để thực hiện điều tra nghiên cứu trên hơn 200 người từng có trải nghiệm luân hồi. Trong số đó, trải nghiệm kỳ lạ của Sobhana đã thu hút sự chú ý đặc biệt của ông. Sau khi trải qua nhiều cuộc điều tra và xác minh nghiêm ngặt, giáo sư Stevenson đã đưa câu chuyện này vào tập 4 của cuốn sách “Những trường hợp luân hồi”.

Giáo sư Stevenson.

Câu chuyện luân hồi của Sobhana

Câu chuyện kể về Ven Sayadaw U Sobhana sinh năm 1921, tại vùng nông thôn Myingyan của Myanmar. Ông xuất gia tu hành khi mới 15 tuổi và trở thành một nhà sư được nhiều người biết đến. Ngay từ khi còn nhỏ, Sobhana đã kể cho gia đình về kiếp trước và quá trình luân hồi của mình. Ký ức về tiền kiếp của Sobhana kéo dài suốt 58 năm và sau đó mới dần phai nhạt. Sobhana tường thuật một cách hết sức rõ ràng về kiếp trước của mình, sau khi chết thì chuyển sinh đến gia đình hiện tại như thế nào, đồng thời ông cũng tiết lộ những giấc mơ về kiếp trước và nguồn gốc nhân sinh ở kiếp này.

Báo mộng trước khi chuyển sinh

Điều kỳ lạ là, ngay trước khi Sobhana chuyển sinh ở kiếp này, cả vợ ông ở kiếp trước và mẹ ông ở kiếp này đều được báo mộng.

Cụ thể, ngày Meng Boxi [chính là Sobhana sau này] qua đời, thi thể của ông đã được đưa đi chôn cất trong một khu rừng ngay sau khi rời bệnh viện. Bảy ngày sau, theo phong tục địa phương, nhiều hòa thượng đã đến nhà ông để tụng kinh và làm pháp sự. Đêm đó, vợ của Meng Boxi là Ma Xueting và mẹ của Sobhana là Leiken đều có cùng một giấc mơ. Ma Xueting mơ thấy một ông lão mặc đồ trắng đến gặp cô và nói: “Ta đã gửi chồng của ngươi đến nhà trưởng thôn”. Sau đó ông lão biến mất. Sáng sớm hôm sau, Ma Xueting chạy đến nhà trưởng thôn và kể giấc mơ của mình cho vợ của trưởng thôn là bà Leiken nghe. Bà Leiken nói với cô rằng bà cũng mơ thấy một ông lão mặc đồ trắng. Trong giấc mơ ông lão nói rằng: “Ta sẽ giao Meng Boxi cho bà làm một thành viên trong gia đình”. Sau đó ông lão bước ra, đưa Meng Boxi vào trong nhà rồi biến mất.

Ngày 5 tháng 11 năm 1921, ông Qian Sa và vợ là Leiken ở làng Tanungdang ở quận Myingyan, Myanmar, đã hạ sinh được một cậu con trai tên là Sobhana. Sobhana còn có hai người anh trai, một chị gái và một người em trai đã chết khi còn nhỏ. Ông Qian Sa – cha của Sobhana là một người nông dân biết chữ, khi Sobhana ra đời, ông chỉ là một trưởng thôn tạm thời, mãi đến những năm cuối đời mới trở thành một trưởng thôn chính thức.

Ngay từ thuở thơ ấu Sobhana đã rất khác biệt, cậu thường nhắc lại những kí ức về kiếp trước của mình. Sau này, khi đã lớn hơn, Sobhana liền bắt đầu kể cho bố mẹ và anh chị em xung quanh về ký ức tiền kiếp và cả quá trình sau khi chết tái sinh vào gia đình này của cậu.

Sobhana chuyển sinh từ kiếp trước sang kiếp này ra sao?

Sobhana kể rằng, ở kiếp trước, tôi là một nhà thăm dò địa chất tên là Meng Boxi và vợ là Ma Xueting. Khi tôi mất, chúng tôi đã có một đứa con trai 3 tuổi. Năm 36 tuổi, tôi được đưa vào bệnh viện vì sốt cao, nôn mửa và đau bụng. Tôi nhớ rõ rằng bản thân được đưa đến bệnh viện bằng một chiếc xe bò. Lúc đó là thời điểm cuối mùa mưa nên trời vẫn còn mưa không ngớt. Sau khi đến bệnh viện, tôi được khám sức khỏe tổng thể và bác sĩ nói rằng tôi cần phải phẫu thuật. Sau đó, những gì xảy ra trong bệnh viện tôi không còn nhớ rõ.

Rồi tôi thấy bản thân ở trong rừng một mình, cảm thấy buồn, đói và rất chán nản. Lúc đó tôi đã chết rồi nhưng lại không hay biết. Tôi mặc quần áo bình thường và đi dép, để tóc dài và quấn khăn trên đầu.

Tôi dường như đã đi lang thang trong rừng được hai ba tiếng đồng hồ thì gặp một ông lão mặc quần áo trắng, râu trắng, quấn một tấm vải trắng qua vai. Từ khi nhìn thấy ông lão, tôi cảm thấy mọi bực bội của mình đều tan biến. Ông ấy gọi tên tôi và nói với tôi rằng tôi phải đi với ông ấy. Tôi đi theo ông ấy khoảng 1 giờ để đến một ngôi làng gần đó, tiến vào thôn và đi tới trước cửa nhà của tôi, trước cửa ra vào có một đoạn hàng rào và một thân cây. Ông lão bảo tôi đứng đợi dưới gốc cây đó rồi ông đi vào nhà. 5 phút sau, ông lão bước ra và nói với tôi: “Cậu phải theo tôi đến nhà khác”.

Chúng tôi đi tiếp về hướng Tây, cách nhà cũ khoảng 7 căn nhà, đến nhà của trưởng thôn. Khi đến trước ngôi nhà, ông lão lại nói tôi đứng chờ ở trước cửa. Khoảng 5 phút sau ông ấy đi ra rồi gọi tôi vào, sau đó dặn dò tôi: “Cậu hãy đợi ở đây, tôi phải trở về rồi”. Sau đó ông lão mặc áo trắng liền biến mất.

Khi ấy, tôi nhìn thấy nhiều người ở trong phòng nhưng những chuyện xảy ra sau đó thì không nhớ nữa. Khi tỉnh dậy thì tôi thấy mình đã là Sobhana của kiếp này.

Ký ức tiền kiếp không phai mờ trong suốt thời thơ ấu

Ngay từ thuở còn thơ ấu, cậu bé Sobhana luôn khẳng định rằng kiếp trước mình tên là Meng Boxi. Người thân, bạn bè, tài sản và cả những món nợ cũ chưa thu được của nhà Meng Boxi thì cậu đều nhớ rõ. Nhà của cậu ở kiếp trước và kiếp này đều ở cùng một làng, lại rất gần – chỉ cách nhau bảy hộ gia đình. Vì thế, cậu thường trở lại thăm nhà của Meng Boxi ở kiếp trước, cảm giác giống như trở về nhà mình vậy. Người vợ kiếp trước của Sobhana là Ma Xueting và hai người con của họ vẫn còn sống ở đó. Khi còn nhỏ, Sobhana thường đến đó chơi, ngôi nhà ở kiếp trước vô cùng quen thuộc với cậu bé, đôi khi cậu còn ở lại đó qua đêm.

Khi Meng Boxi qua đời, người con trai mới 3 tuổi, con gái còn chưa chào đời. Dù ở hiện tại, hai đứa con này đều đã lớn hơn Sobhana, nhưng mỗi khi Sobhana gọi họ luôn dùng giọng điệu tràn đầy yêu thương. Sobhana cũng thường xuyên đi thăm hỏi những người bạn cũ của Meng Boxi, cậu bé trực tiếp gọi tên của ‘những người bạn lớn tuổi’ này, không chịu dùng kính ngữ và đối xử với họ giống như những người bạn cũ.

Theo Epoch Times
Quỳnh Chi biên dịch

Siêu năng lực của một số trẻ em phải chăng đến từ tiền kiếp?

Trong giai thoại cổ kim, có một số đứa trẻ không lâu sau khi sinh ra đã có thể nói những lời cao thâm, tựa hồ như mang theo trong mình ký ức tiền kiếp, xuất hiện những tài năng thiên phú, và trở thành những đứa trẻ thiên tài…

Ví dụ, mười tám tháng sau khi nhà văn Anh – Magoli chào đời, câu hỏi nhân sinh đầu tiên được nêu ra là: “Có phải khói từ ống khói đến từ địa ngục không?” Khi triết gia John Stuart Mill người Anh lên ba tuổi, ông đã có thể nói, viết và dịch thông thạo tiếng Hy Lạp. Thiên phú ngôn ngữ của họ được cho là có khả năng đến từ ký ức tiền kiếp. Trẻ sơ sinh đã có thể có tri thức phi thường như vậy, trong quan điểm luân hồi chuyển sinh, nó thường được hiểu là có liên quan đến các kỹ năng sống từ đời trước.

Các phương tiện truyền thông từng đưa tin một bé gái người Bulgaria có thể nói tám thứ ngôn ngữ khi chưa đầy hai tháng tuổi, bao gồm tiếng Nga, tiếng Bungari (Slavic), tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Romance, tiếng Litva trong ngữ hệ Latinh; và các phương ngữ Ả Rập trong ngữ hệ Semitic. Vụ việc này đã gây chấn động mạnh trong giới học thuật. Chiểu theo các quan niệm cố hữu mà lý giải, thì chắc chắn là một thách thức lớn.

Trẻ sơ sinh đã có thể có tri thức phi thường như vậy, trong quan điểm luân hồi chuyển sinh, nó thường được hiểu là có liên quan đến các kỹ năng sống từ đời trước. Ảnh: Shutterstock.

Ông Ligoria Toves của “Học hội thuyết tái sinh” ở Moscow, Liên Xô cũ đã giải thích vấn đề này bằng “mật mã di truyền của trí tuệ”, được không ít học giả ủng hộ, nhưng cũng bị nhiều chuyên gia phản đối. Nếu vấn đề nan giải này được lý giải dưới góc độ luân hồi, thì có lẽ kiếp trước cô bé ấy đã thông thạo nhiều ngôn ngữ; và sau khi chuyển sinh, nhờ ký ức về tiền kiếp, cô bé đã xuất hiện những tri ​​thức siêu thường mà những đứa trẻ bình thường không có.

Về luân hồi chuyển thế, Trung Quốc cổ đại đã có những ghi chép liên quan, con người ngày nay cũng có thể nhìn thấy những biểu hiện phi thường của một số hài nhi. Trong bài “Lai lịch kỳ lạ! Vị lương thần được sinh ra để phụ tá Hoàng đế Khang Hy”, chúng tôi đã từng giới thiệu về sự tích Lý Vị (1625-1684). Vào ngày đầu tiên ra đời, ông đã mở miệng và nói rằng bên ngoài trời đang có tuyết. Trong bài báo “Những quan viên triều Thanh nhớ lại ký ức tiền kiếp”, kể rằng vào ngày Lý Vân Khánh ra đời, ông đã hướng về Lý gia mà hỏi về Giang Bích, người bạn hữu của ông từ tiền kiếp.

Trong một câu chuyện vào thời nhà Minh, có người sau khi chuyển sinh không chỉ mang theo tri thức của kiếp trước, mà còn mang theo cả nỗi sợ hãi của kiếp trước. Vào năm Gia Kinh thứ 23 của Minh triều (1544, năm Giáp Thần), Trần Sỹ Nguyên (1516-1597) sau khi đỗ tiến sỹ hạng nhì, đã có một bữa tiệc cùng với người bạn đồng niên của mình là Trương Tử Trưng.

Trương Tử Trưng chỉ vào Triệu Sinh đang ngồi bàn trên và nói rằng: kiếp trước của Triệu Sinh là con nhà họ Triệu, và là một “tăng quảng sinh” (sinh viên được triều đình nuôi ăn học). Có một mùa hè, Triệu Sinh đã nghênh tiếp quan viên đốc học, bị say mềm sau khi uống rượu, ngủ gục dưới gốc cây. Người bên cạnh dùng nước lạnh dội vào đầu mong làm ông tỉnh lại, nhưng kết cục ông đã mất hút. Hồn của Triệu Sinh đã phách tán, nguyên thần phiêu đãng tứ xứ, bay đến bên một dòng suối.

Nguyên thần của Triệu Sinh nhìn thấy một con chó, sợ rằng con chó sẽ cắn mình. Khi ấy có một người phụ nữ mang thai đang đứng bên cạnh ông, và ông lập tức nấp bên cạnh nữ nhân. Trong trạng thái bất tri bất cảm, nguyên thần của ông đã y nhiên tiến nhập vào bào thai của người phụ nữ. Đêm đó, sản phụ sinh hạ được một bé trai. Triệu Sinh mở mắt ra xem, phát hiện thân thể của mình đã trở thành một hài nhi, lập tức minh bạch rằng mình đã thác sinh vào gia tộc này.

Sản phụ xuất thân từ các gia đình nghèo ở miền bắc Trung Quốc không ở cữ. Ba ngày sau khi sinh con, người chồng đi làm đồng, người phụ nữ chuẩn bị cơm nước ở nhà, và muốn mang đồ ăn cho chồng. Lúc đó, trước giường có một con chó, hài nhi chuyển sinh của Triệu Sinh nhẫn không nổi đã nói với người phụ nữ: “Khi mẹ đi ra ngoài phải đóng cửa lại, đừng để chó chạy vào làm tổn thương con”.

Người phụ nữ nghe xong sửng sốt, vội vàng chạy ra đồng kể lại sự việc cho chồng. Khi chồng cô về, liền nói đứa trẻ là yêu quái, cầm cuốc lên định đánh, hỏi: “Mày nói cái gì vậy?” Triệu Sinh sợ đến mức không dám nói nữa. Ông ấy đã chịu đựng nó trong hai hoặc ba năm, rồi mới dám mở miệng nói. Khi lên năm tuổi, một ngày nọ, Triệu Sinh đang trên đi đường thì nhận ra người thân ở kiếp trước của mình.

Dân gian bách tính thường nói, một người trước khi chuyển sinh phải uống bát canh Mạnh Bà để rửa sạch ký ức kiếp trước. Nhưng Triệu Sinh là một ngoại lệ. Có lẽ lúc thác sinh ông đã bỏ qua tình tiết này nên dù không học thi thư, ông vẫn lưu giữ được ký ức tiền kiếp và nhớ tất cả những cuốn sách mà ông đã đọc ở kiếp trước cùng những lời ông nói. Chữ viết của ông cũng tương tự như của kiếp trước, nét chữ cũng vậy. Và sau khi chuyển sinh, Triệu Sinh cũng là một “tăng quảng sinh”.

Trong số những vị khách tham dự bữa tiệc lúc đó có Trương Mậu Tham từ Tây An và Vương Khả Dung từ Thành Đô. Họ từng làm thơ để ghi chép lại giai thoại chuyển sinh này.

Theo Tống Bảo Lam, Epoch Times
Hương Thảo biên dịch

Có phải thời gian chỉ là một ảo giác?

Chúng ta có xu hướng tin rằng vận mệnh thì không cố định và rằng tất cả thời gian đã qua đều bị trôi vào quên lãng.

“Thời gian là một hình ảnh chuyển động của sự vĩnh cửu.”—Plato.

Chúng ta có xu hướng tin rằng vận mệnh thì không cố định và rằng tất cả thời gian đã qua đều bị trôi vào quên lãng, nhưng liệu sự vận động đó có thể chỉ là một ảo giác không? Một nhà vật lý trứ danh người Anh đã giải thích rằng trong một chiều không gian đặc thù, thời gian đơn giản là không tồn tại.

“Nếu bạn cố gắng đặt bàn tay của mình lên thời gian, nó sẽ luôn luôn trôi qua các ngón tay của bạn”, Julian Barbour, nhà vật lý người Anh và là tác giả cuốn “Tận cùng của thời gian: Cuộc cách mạng tiếp theo trong Vật lý học”, nói trong một cuộc phỏng vấn với Quỹ tài trợ Edge Foundation. Trong khi lời tuyên bố đậm chất thơ này vẫn còn vang vọng trong phòng, Barbour và các phóng viên có thể đã không còn bất kỳ mối liên hệ nào với bản thân họ vào một giây trước đó.

Barbour tin rằng người ta không thể nắm giữ được thời gian bởi vì nó không tồn tại. Trong khi điều này không phải là một giả thuyết mới, nó chưa từng phổ biến như thuyết tương đối của Einstein hay lý thuyết dây.

Khái niệm vũ trụ không thời gian không chỉ hấp dẫn không cưỡng nổi đối với nhiều nhà khoa học, mà một mô hình như vậy còn có thể mở ra hướng giải đáp cho nhiều nghịch lý mà vật lý học hiện đại phải đối mặt trong khi giải thích về vũ trụ.

Chúng ta có xu hướng suy nghĩ và nhận thức rằng thời gian có bản chất tuyến tính, một quá trình quen thuộc là chảy từ quá khứ tới tương lai. Đây không chỉ là một nhận thức cá nhân của toàn nhân loại, mà còn là phạm vi mà các cơ chế cổ điển phân tích tất cả các chức năng toán học trong vũ trụ. Không có khái niệm như thế, những ý tưởng như là nguyên lý nhân quả và việc chúng ta không thể tồn tại đồng thời ở hai sự kiện, sẽ bắt đầu được xét từ một cấp độ hoàn toàn khác.

Ý tưởng về sự không liên tục của thời gian, được đưa ra bởi Barbour, cố gắng giải thích trong phạm trù lý thuyết một vũ trụ được tạo ra bởi nhiều điểm mà ông gọi là “bây giờ”. Nhưng những cái “bây giờ” đó sẽ không được hiểu như là những thời điểm thoáng qua đến từ quá khứ và sẽ chết trong tương lai; một “bây giờ” chỉ là một trong hàng triệu “bây giờ” đang tồn tại trong khảm đồ vô tận của vũ trụ gồm một chiều không gian đặc thù không thể định vị được, mỗi cái lại có liên quan với những cái khác theo một cách tinh vi, nhưng không có cái nào nổi bật hơn cái lân cận. Chúng đều tồn tại cùng một lúc .

Với một sự hòa trộn giữa đơn giản và phức tạp như thế, ý tưởng của ông Barbour hứa hẹn một giải pháp lớn cho bất cứ ai sẵn lòng chấp nhận khoảng hụt thời gian trước vụ nổ lớn Big Bang.

Ông Barbour nghĩ rằng khái niệm thời gian có thể tương tự như khái niệm integer (số nguyên). Tất cả các con số đều tồn tại đồng thời, và không thể nghĩ rằng con số 1 tồn tại trước con số 20.

Tại điểm này của sự tranh luận, chắc chắn là một độc giả có thể hỏi: “Có phải ông đang cố thuyết phục tôi rằng động tác mà tôi đang làm hiện giờ với cánh tay của mình là không tồn tại? Nếu các mảnh “bây giờ” vi mô không có liên hệ với nhau, thì bằng cách nào mà tôi nhớ được những ý tưởng đầu tiên trong bài báo này? Làm sao mà tôi nhớ được tôi đã ăn trưa với cái gì? Tại sao tôi phải thức dậy và đi làm nếu công việc thuộc về cái “tôi” khác không có can hệ gì tới tôi? Nếu tương lai đã có sẵn ở đó rồi, thì tại sao phải phấn đấu?”

Những tình thế tiến thoái lưỡng nan như vậy đã bắt nguồn từ nhận thức hão huyền rằng thời gian là phù du, như nước trong một dòng sông. Chúng ta có thể xem vũ trụ không thời gian như là một cái bánh kem vani dài, ở trong ruột có sô-cô-la lấp đầy theo chiều dài của bánh. Nếu cắt một lát, chúng ta sẽ có được cái mà chúng ta gọi là một hiện tại, một “bây giờ”.

Giả sử rằng phần nhân sôcôla ở giữa tượng trưng cho chúng ta, thì chúng ta sẽ tin rằng lát bánh của chúng ta là cái duy nhất tồn tại trong vũ trụ, và rằng những lát bánh đằng trước và đằng sau chỉ tồn tại về mặt khái niệm. Ý tưởng này sẽ nghe có vẻ buồn cười đối với người quan sát cái bánh, người ấy biết rằng tất cả các lát bánh đều đồng thời tồn tại.

Lấy một ví dụ, bạn có thể nói rằng “tôi” không phải là cùng một người với kẻ đã bắt đầu viết câu văn này. Tôi là độc nhất, có lẽ trong mối liên hệ rõ ràng với mỗi chủ thể, người mà đã viết những từ trước đó trong đoạn văn này. Thế nhưng, thậm chí vô hạn những cái “bây giờ” độc lập với nhau ấy cũng sẽ không bị phân tán. Chúng vẫn sẽ tạo nên một cấu trúc. Chúng là một khối, một cái bánh hoàn chỉnh không có mảnh vụn.

Và đây là giả thuyết của Barbour: Trong một không gian vũ trụ, tương lai (tương lai của chúng ta) đã có ở đó, được sắp đặt, và mỗi giây trong quá khứ của chúng ta cũng hiện hữu, không phải như ký ức, mà là một sự hiện hữu sống động. Điều đau đớn nhất đối với nhân loại, như các triết gia phương Đông đã nhận định, sẽ là cố gắng phá vỡ cái khuôn cố định kia.

Một người khôn ngoan, đi theo tiến trình đã được định trước, sẽ là một khuôn mặt vui vẻ ở giữa cái bánh sô-cô-la vũ trụ và cố gắng sống với cái “bây giờ” độc nhất và cực kỳ ngắn ngủi của chúng ta.

Hầu hết chúng ta đều bị thuyết phục một cách sâu sắc rằng ở một mức độ vô thức, một cái đồng hồ vũ trụ vĩ đại đang tích tắc mỗi giây trong không gian khổng lồ gọi là vũ trụ này. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ trước, Albert Einstein đã giải thích rằng thời gian thực tại có liên quan tới mỗi vật thể trong vũ trụ, và rằng thời gian là một “chủ thể” không tách biệt với không gian. Ngay cả các chuyên gia đồng bộ thời gian trên thế giới cũng biết rằng thế giới này được xử lý bởi một sự tích tắc được quy định một cách ngẫu nhiên, do đồng hồ hoàn toàn không có khả năng đo được thời gian.

Rõ ràng là, sự thay thế duy nhất là hãy chìm vào một “ảo tưởng tạm thời” của sự vô tận này, biết rằng có một không gian nơi mà quá khứ của chúng ta vẫn tồn tại và những gì chúng ta làm sẽ không hề thay đổi. Hoặc như chính Einstein nói: “Những người như chúng ta, những kẻ tin vào vật lý học, biết rằng sự phân biệt giữa quá khứ, hiện tại, và tương lai chỉ là một ảo tưởng cố chấp dai dẳng.”

Theo The Epoch Times
Bản dịch của Chánh Kiến

Vì sao con người bị mộng du?

0

Đối với đa số chúng ta, ngủ là thời điểm để nghỉ ngơi, và hoạt động mọi người thường làm nhất trong lúc này là quay ngang quay ngửa. Nhưng đối với một số khác, giấc ngủ có thể là thời điểm mà họ đi lòng vòng quanh nhà, lái xe hoặc nấu ăn trong trạng thái vô thức. Đây chính là “mộng du”.

Cho đến nay, các nhà khoa học vẫn đang cố gắng tìm ra nguyên nhân đích thực của chứng mộng du.

Viện Y học Giấc ngủ Mỹ (AASM) chia giấc ngủ của chúng ta thành hai giai loại – giấc ngủ REM và giấc ngủ non-REM (NREM), dựa vào việc sự chuyển động mắt nhanh (REM) có xảy ra bên dưới mí mắt hay không. Trong giấc ngủ REM, bộ não của bạn hoạt động tích cực giống như khi tỉnh táo, và đây là giai đoạn mà các giấc mơ sinh động nhất của chúng ta thường xảy ra. Còn giấc ngủ NREM thì có thể được chia thành 4 giai đoạn như sau:

  • Giai đoạn 1: Chuyển từ tỉnh sang ngủ
  • Giai đoạn 2: Chìm sâu hơn vào giấc ngủ
  • Giai đoạn 3: Bắt đầu giấc ngủ sâu, não có sóng Delta
  • Giai đoạn 4: Giai đoạn ngủ sâu, não có sóng chậm liên tục
Các giai đoạn của giấc ngủ. (Ảnh màn hình: ngungthokhingu.com)

Có một điều mà các nhà khoa học biết đó là mộng du thường xảy ra ở trẻ em và xảy ra vào thời điểm chúng ta ngủ sâu nhất, trong giai đoạn 3 và 4. Đây là lúc bạn ngủ sâu nhất và sóng não của bạn chậm nhất. Ngược lại, trong giấc ngủ REM (giấc ngủ chuyển động mắt nhanh), bộ não của bạn lại hoạt động khá tích cực, và để giúp bạn tránh khỏi việc vung tay vung chân trong những giấc mơ, các cơ bắp của cơ thể sẽ trở nên tê liệt tạm thời. Vậy nên, việc hầu hết mộng du không xảy ra trong giấc ngủ REM là điều hợp lý, bởi vì bạn đâu có cách nào đi đi lại lại trong khi các cơ bắp không thể di chuyển!

Vì mộng du xảy ra trong những giai đoạn ngủ sâu nên sẽ rất khó để đánh thức họ dậy. Nếu bạn cứ cố gắng đánh thức họ dậy bằng được thì họ có lẽ sẽ khá là bối rối vì sao họ lại không ở trên giường.

Nguyên nhân của mộng du

Có một giả thuyết rằng người ta sẽ bật dậy khỏi giường khi não họ cố gắng đi thẳng từ giấc ngủ NREM sang trạng thái thức, thay vì trải qua tuần tự các giai đoạn của một chu trình ngủ. Người ta tin rằng một tác nhân nào đó đã kích phát quá trình chuyển tiếp này. Đây là phần mà các nhà khoa học vẫn chưa rõ, nhưng họ có một vài ý tưởng.

Như đã nói từ trước, mộng du hầu hết xảy ra ở trẻ nhỏ. Một số nhà khoa học nghĩ rằng trẻ em thường mộng du bởi vì bộ não của trẻ vẫn chưa hoàn toàn phát triển. Có thể là những hormon tăng trưởng đã khiến lũ trẻ bật dậy. Nhưng có lẽ nó cũng liên quan tới chất dẫn truyền thần kinh ức chế. Có một chất dẫn truyền thần kinh gọi là GABA có tác dụng ức chế hệ thống dây thần kinh vận động của bộ não.

Mộng du hầu hết xảy ra ở trẻ nhỏ. Một số nhà khoa học nghĩ rằng trẻ em thường mộng du bởi vì bộ não của trẻ vẫn chưa hoàn toàn phát triển. (Ảnh màn hình: How You Sleep)

Đối với người lớn, chất dẫn truyền thần kinh này thường giúp hạn chế các chuyển động của cơ thể. Nhưng ở trẻ em, các nơ-ron mà giải phóng chất dẫn truyền thần kinh này vẫn chưa hoàn toàn phát triển, nên hệ thống dây thần kinh vận động của chúng có thể vẫn hoạt động. Điều này có thể dẫn tới việc lũ trẻ đi đi lại lại trong nhà khi chúng đang ngủ. Nhưng đừng lo, trẻ em thường không còn mộng du nữa khi chúng lớn lên, khi mà não bộ của chúng đã phát triển hoàn thiện.

Tuy nhiên nếu mộng du vẫn tiếp diễn đến tuổi trưởng thành thì hẳn là nó liên quan tới chứng rối loạn thần kinh, ví như ở những người nghiện rượu hoặc trầm cảm. Trong hầu hết trường hợp thì mộng du không nguy hiểm, nhưng nếu như mắc phải chứng này thì bạn vẫn nên tới gặp bác sĩ.

Giải mã bí ẩn: ‘sinh tử luân hồi’ của con người

Có rất nhiều câu chuyện được lưu truyền trong dân gian kể về sự xuất hiện của quỷ thần và nhân quả báo ứng hay luân hồi chuyển kiếp. Không những vậy, trong các bộ dã sử, bút ký thậm chí là chính sử cũng có rất nhiều câu chuyện như vậy.

Ngay cả trong thế kỷ 20, những chuyện như luân hồi chuyển thế, mượn xác hoàn hồn vẫn thường xuyên diễn ra đến tận thập niên 80, 90. Báo chí cũng thường thuật lại những tình huống này; có người tự mình trải nghiệm, có người chính mắt nhìn thấy, có người chính tai nghe thấy, tất cả đều là những câu chuyện kỳ lạ, truyền từ người này sang người khác. Cũng chính bởi có người đã đích thân trải nghiệm, chứng kiến được những điều dị thường nên khiến chúng ta không thể không tin.

Tuy nhiên các nhà khoa học, tâm lý học, y học đều phủ định điều này bởi họ không tận mắt chứng kiến. Ngay cả khi mắt thấy tai nghe, họ cũng sẽ một mực phủ định theo quan điểm của mình, nói rằng đó là một chứng rối loạn tâm thần hoặc một ảo tưởng tâm lý và gạt bỏ một cách triệt để. Vì vậy, người thì tin tưởng, kẻ thì coi đó là mê tín; có người cố gắng thu thập thông tin, quan sát, phân tích, nghiên cứu; có người không đi sâu tìm hiểu, dùng cách nói mê tín để bài xích sự thật về quỷ thần linh hồn, có thể nói đây chính là sự mê tín khoa học.

Ngay cả khi dưới áp lực mạnh mẽ của các nhà khoa học hiện đại, các nhà tâm lý học, y học lên án thuyết linh hồn là mê tín dị đoan, thì cũng có một số người giữ quan điểm ngược lại. Theo lời tựa của cuốn sách “Sự sống sau khi chết” nói rằng: ngay từ giữa thế kỷ 19, khi bị ảnh hưởng và kích thích bởi vô số những báo cáo được cho là có khả năng cảm nhận linh hồn người chết và liên lạc với thế giới tâm linh, người ta đã bắt đầu nghiên cứu hiện tượng này một cách nghiêm túc.

Kể từ đó, để chứng minh rằng loại giao tiếp và cảm ứng này rốt cuộc có khả năng hay không, những người tiên phong này đã vượt qua mọi khó khăn, làm mọi thứ có thể để điều tra và khám phá hàng trăm những ví dụ thực tế khó giải thích. Và một lĩnh vực khác thu hút mọi người đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu đó là nghệ thuật cảm ứng tâm linh. Tác giả của các tác phẩm âm nhạc, hội họa, văn học… đều là người bình thường, nhưng họ lại tuyên bố rằng những tác phẩm đó của mình được tạo ra dưới sự hướng dẫn của những bậc thầy đã tạ thế từ lâu.

Kiếp sống có luân hồi, con người chính là dựa vào thiện ác của một kiếp để quyết định người đó lên thiên đàng hay xuống địa ngục sau khi chết; người bình thường vẫn sẽ được đầu thai làm người, nhưng căn cứ vào phúc báo của họ mà phân thượng lưu hay hạ đẳng.

Sử truyền và tiểu thuyết bút ký đều ghi chép lại, có người vẫn có hồi ức của kiếp trước, thậm chí nhớ được chuyện của ba kiếp. Cho đến tận thời hiện đại, vẫn luôn có những câu chuyện về chuyển thế mượn xác hoàn hồn được đăng trên các phương tiện truyền thông.

Các nhà nghiên cứu siêu tâm lý học đã thu thập được rất nhiều ví dụ thực tế từ trong và ngoài nước. Ngoại trừ những người ở trong hoàn cảnh tự mình trải nghiệm nên tuyệt đối tin tưởng ra, người bình thường có thể không tin hoàn toàn, chỉ coi như chuyện lạ kể cho nhau nghe mà thôi.

Theo ghi chép lịch sử, việc đề xuất quan niệm mới luôn gặp phải sự phản đối của giới khoa học trong và ngoài nước, vậy nên thuyết luân hồi dù đã được lưu truyền rộng rãi nhưng vẫn chưa được công chúng chấp nhận.

Gần đây, một tiến sĩ y khoa Mỹ đến từ đại học Yale tên là Brian L.Weise, ông từng là bác sĩ điều trị ở Khoa Tâm thần tại đại học Yale, giám đốc Khoa Nghiên cứu Tâm thần tại đại học Miami và từng giảng dạy tại đại học Pittsburgh. Ông hiện là Giám đốc Khoa Tâm thần tại Trung tâm Y tế Mount Sinai, từng phát biểu 37 bài luận văn và truyền văn khoa học. Điều đáng nói là vị bác sĩ được đào tạo khoa học một cách nghiêm ngặt này đã thực sự đề xuất cách nói con người có luân hồi.

凯瑟琳经过催眠知道她的前世。
Catherine biết được tiền kiếp của mình thông qua thôi miên (Ảnh minh họa/Nguồn ảnh: AdobeStock)

Năm 1980, một người phụ nữ 27 tuổi tên là Catherine đã tìm đến ông và xin ông điều trị vì chứng lo lắng, sợ hãi và đau đớn. Ông đã bỏ ra 18 tháng thực hiện liệu pháp tâm lý truyền thống mà không có kết quả. Cuối cùng, ông sử dụng thôi miên, muốn lần theo những tổn thương của cô từ thời thơ ấu, nhưng lại nhận được kết quả là kiếp trước của cô.

Trong khi thôi miên, Catherine nói ra không chút do dự về tên tuổi, thời gian, y phục, cây cối đều rất sinh động. Cô ấy không phải ảo tưởng hay bịa chuyện. Suy nghĩ, biểu cảm, sự chú ý đến những chi tiết nhỏ nhất của cô ấy hoàn toàn khác với con người cô khi tỉnh táo, khiến Brian L.Weise không thể phủ nhận tính chân thực trong lời cô nói. Trong một loạt các liệu pháp thôi miên, Catherine nhớ lại những ký ức của kiếp trước đã gây ra các triệu chứng của cô, đồng thời truyền tải một số thông điệp về “thực thể linh hồn” đã biến hóa lên bậc cao.

Vị tiền bối nói với cô rằng cô đã sống hơn 80 lần trên trái đất, nhưng trong liệu pháp thôi miên chỉ xảy ra 12 lần, hơn nữa có vài lần lặp lại.

Trong khi thôi miên, cô tự nói: mình từng là một nữ nô lệ thời Ai Cập cổ đại, cư dân một thuộc địa thực dân vào thế kỷ 18, một gái điếm dưới vương triều thực dân Tây Ban Nha, một phụ nữ sống trong hang động thời kỳ đồ đá, nô lệ ở Virginia vào thế kỷ 19, một phi công trong thế chiến thứ hai, một người đàn ông Hà Lan bị cắt cổ, một thủy thủ ở Wells bị thương khi làm việc trên tàu, một cô bé tham dự lễ cưới của chị gái, một cậu bé vào thế kỷ 18 chứng kiến cha mình bị hành quyết. Cô mô tả một cách sống động khung cảnh mà cô đang ở. Weise đã kiểm tra Catherine và xác định cô ấy không nói dối.

Weise tự nhủ: “Tôi e rằng vấn đề không phải là tin hay không mà là nó khiến tôi biết rằng luân hồi là một điều có thật”.

Việc chết đi ở mỗi kiếp cũng tương tự như vậy. Sau khi chết, bản thân sẽ lơ lửng bên trên thân xác, có thể nhìn thấy toàn cảnh phía dưới. Thông thường sau khi chết đi, sẽ cảm nhận được một vầng sáng rực rỡ. Cô ấy sẽ nhận được năng lượng từ vầng sáng đó và bị hút về phía nó, vầng sáng sẽ ngày càng sáng hơn. Cô bay bổng trên mây, tiếp đó bản thân bị kéo đến một không gian nhỏ hẹp nhưng ấm áp, cô sắp được sinh ra và chuyển sang một kiếp sống khác.

Trong kiếp trước của cô thường xuyên xuất hiện những người quan trọng có quan hệ với cô trong kiếp này. Theo vô số lần nghiên cứu, một nhóm linh hồn sẽ được giáng sinh cùng nhau hết lần này đến lần khác và mất rất nhiều thời gian để trả sạch nợ cho nhau. Bạo lực và công bằng, con người trong khi đối xử với nhau đều sẽ phải hoàn trả. Nếu hết một kiếp mà vẫn chưa trả hết nợ thì sang đến kiếp sau sẽ càng khó khăn hơn. Những câu chuyện về luân hồi trả nợ này không khác gì cách nói về nghiệp chướng và nhân quả báo ứng trong tôn giáo truyền thống của Trung Quốc.

Weise đã giành bốn năm để viết cuốn sách “ManyLives, Many Masters”. Phải mất bốn năm ông mới có đủ can đảm, chấp nhận rủi ro nghề nghiệp và tiết lộ những thông tin không chính thống này, để mọi người có thể hiểu được ý nghĩa thật sự của sự bất tử và cuộc sống mà ông biết. Ngay sau khi cuốn sách này được xuất bản, nó đã nằm trong bảng xếp hạng ở Florida trong hai năm liên tiếp, bìa mềm đã được in mười lần và được dịch ra mười một thứ tiếng, lưu hành rộng rãi, nhận được phản hồi tốt của nhiều bác sĩ và chuyên gia. Weise cho biết: “Cuộc sống của tôi đã thay đổi hoàn toàn kể từ khi tôi tiếp xúc với bệnh nhân này”.

Theo Vision Times

Giải mã bí ẩn ngọn đèn vĩnh cửu cháy sáng ngàn năm trong các ngôi mộ cổ

0

Theo Vision Times, không chỉ Trung Quốc mà còn ở nhiều quốc gia khác, trong các ngôi mộ cổ quy mô lớn người ta đã tìm thấy những ngọn đèn ngàn năm không tắt được gọi là “Trường Minh Đăng”. Năm 1845, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra quan tài đá của một người phụ nữ trẻ cổ đại gần Rome. Khi mở quan tài, cơ thể người phụ nữ không hề bị phân hủy mà vẫn nguyên vẹn như người sống, đặc biệt là khuôn mặt vẫn tươi tắn sinh động. Các nhà khảo cổ đã giật mình khi thấy một ngọn Trường Minh Đăng bên trong quan tài. Câu hỏi đặt ra là tại sao ở trong chiếc quan tài đá kín mít, chôn vùi trong lòng đất mà ngọn đèn đó vẫn có thể cháy sáng suốt hơn 1500 năm qua?

Năng lượng của những chiếc đèn cổ

Năng lượng của những ngọn Trường Minh Đăng này là gì? Chắc chắn nó không thể là một ngọn đèn dầu. Có người cho rằng những chiếc đèn sáng mãi không tắt này là đèn điện thời cổ đại. Nhưng chúng ta đều biết, đèn điện là sản phẩm của nền văn minh cận đại, lẽ nào người cổ đại từ hàng ngàn năm trước đã có khả năng tạo ra các thiết bị điện? Suy luận này đã sớm được chứng thực.

Kim tự tháp lớn nhất và cao nhất trong quần thể kim tự tháp Giza tại Ai Cập chính là kim tự tháp Kheops được xây dựng cách đây 4600 năm, bên trong có những bức bích họa và điêu khắc vô cùng hoành tráng. Bên trong hầm mộ và hành lang rất tối, mà những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo này chỉ có thể điêu khắc và vẽ trong điều kiện có đủ ánh sáng. Các nhà khoa học đã sử dụng các thiết bị tiên tiến nhất để phân tích bụi tích tụ trong tháp suốt 4600 năm, và phát hiện ra rằng không có khói đen và các hạt dầu khói trong bụi, cũng như không tìm thấy dấu vết của việc sử dụng đuốc hay đèn dầu. Từ đó, có thể thấy các nhà nghệ thuật Ai Cập cổ đại hoàn toàn không sử dụng đèn dầu hoặc đuốc thắp sáng khi điêu khắc và vẽ tranh trong các hầm mộ dưới lòng đất các kim tự tháp.

Giữa mùa hè năm 1936, khi một nhóm công nhân đường sắt đang lát nền đường tại thôn Rabua ngoại ô Baghdad, thủ đô của Iraq, họ đã vô tình khai quật một ngôi mộ cổ được xây bằng những phiến đá khổng lồ, bên trong có một chiếc quan tài đá. Sau khi biết tin, các nhà khảo cổ Iraq đã tới khai quật cẩn thận và phát hiện một số lượng lớn vàng bạc và đồ tùy táng có giá trị từ thời Ba Tư cổ đại từ năm 248 đến năm 226 trước Công nguyên. Nhà khảo cổ học người Đức Wali Haram Cavinig, người phụ trách bảo tàng Iraq, trong khi dọn dẹp các văn vật đã phát hiện một chiếc bình sứ màu trắng sữa cao 15cm bên trong chứa đầy nhựa đường. Trong lớp nhựa đường có một ống đồng dài 6cm, đường kính khoảng 2.6 cm, bên trong ống đồng lại có một lớp nhựa đường ôm lấy một thanh sắt cao hơn ống đồng khoảng 1cm, phần nhô cao hơn này hoàn toàn bị gỉ sét. Có nơi xuất hiện một lớp vật chất màu vàng xám, trông như được phủ một lớp chì, bên dưới thanh sắt là lớp nhựa đường dày 3cm ngăn cách thanh sắt và ống đồng. Sau nhiều lần nghiên cứu, Cavinig tin rằng chiếc bình là một loại pin hóa học cổ đại, chỉ cần đổ một ít axit hoặc nước kiềm vào bình, nó có thể phát ra điện.

Những ngọn đèn cháy mãi ngàn năm (Ảnh minh hoạ: pixabay)

Suy đoán của Cavinig đã gây chấn động cả giới khảo cổ khi đó, nhiều học giả tỏ ra nghi ngờ suy luận này. Ngay khi các nhà khảo cổ học từ khắp nơi trên thế giới tìm đến muốn nghiên cứu kỹ hơn về loại pin hóa học cổ đại này, Cavinig lại lặng lẽ trở về Berlin với cục pin cùng thanh sắt, ống đồng và bình gốm… trong chiếc quan tài đá để tiến hành một thí nghiệm quan trọng khác. Không lâu sau, Cavinig đã tuyên bố kết quả nghiên cứu mới nhất của mình, ông cho rằng dựa trên phân tích chất liệu của 10 viên pin trong các di vật được khai quật, những viên pin này được sử dụng hàng loạt vào thời điểm đó với mục đích thông qua cách dẫn giải để dát vàng lên tượng điêu khắc hoặc trang sức.

Suy luận của Cavinig có chính xác hay không?

Học giả người đức Manly Ajbalich quyết định chế tạo một chiếc pin cổ giống hệt để xác thực. Ông làm ống đồng, bình gốm… theo đúng quy cách của những đồ vật khai quật được, rồi lắp chúng thành pin cổ. Sau đó ông đổ nước nho tươi vào bình, ngay lập tức kim chỉ của vôn kế nhảy lên con số nửa vôn. Tiếp đến, Ajbalich lại tiến hành một thử nghiệm mạ kim loại. Ông nhấc một bức tượng, nhúng nó vào dung dịch nước bột vàng được nối với cục pin cổ đại. Hai giờ sau, trước mắt ông đã xuất hiện một bức tượng mạ vàng lấp lánh. Sau nhiều lần thử nghiệm, cuối cùng người ta đã xác nhận rằng chiếc bình gốm cổ cách đây hơn 2000 năm này có thể tạo ra điện và người cổ đại hơn 2000 năm trước đã sử dụng pin cổ để mạ vàng bằng điện.

Tại sao trên đường ray tàu hoả luôn có đá sỏi?

0

Di chuyển bằng tàu hỏa luôn là một trải nghiệm thú vị, khi bạn có thể chiêm ngưỡng những khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp cùng cuộc sống bình dị. Ngoài đó ra, có một thứ mà bạn sẽ luôn thấy xuất hiện trong suốt hành trình trên chuyến tàu của mình, đó là những viên đá nhỏ nằm dọc đường ray mà con tàu đi qua. Đã bao giờ bạn thắc mắc vì sao lại có đá trên các đường ray tàu hỏa như vậy chưa?

Thanh tà vẹt

Một đường ray tàu hỏa thường sẽ có hai đường ray chính đặt song song với nhau từ một trạm này tới một trạm khác và một loạt các thanh ngang được đặt vuông góc giữa hai đường ray chính. Những thanh ngang này được gọi là thanh tà vẹt. Một thanh tà vẹt thường có hình chữ nhật và được làm từ gỗ hoặc xi măng. Ngày nay, các thanh tà vẹt chủ yếu được làm từ các khối xi măng. Chức năng chính của thanh tà vẹt là giữ cho hai đường ray chính luôn ổn định và cách đều nhau. Chúng cũng giúp truyền áp lực từ ray xuống mặt đất bên dưới tốt hơn.

Đá ba-lát

Điều đầu tiên mà các bạn cần biết đó là những viên đá mà chúng ta vẫn thấy trên các đường ray tàu hỏa được gọi chung là đá ba-lát. Những viên đá này được dải đều dọc suốt đường ray tạo thành một lớp nền để giữ các thanh tà vẹt cũng như hai đường ray chính.

Nhìn thoáng qua những viên đá này, chúng ta sẽ không thấy có điều gì đặc biệt. Tuy nhiên, không phải viên đá nào cũng có thể dùng làm đá ba-lát cho đường ray tàu hỏa. Ví dụ, nếu chúng ta dùng những viên đá tròn và mịn, chúng sẽ dễ dàng bị lăn và di chuyển qua lại khi có tác động từ sự di chuyển của tàu. Điều này sẽ khiến chúng trở nên vô dụng, vì mục đích chính của những viên đá này là tạo nên sự liên kết cho các thành phần của đường ray. Vì vậy, những viên đá ba-lát được lựa chọn cần phải có bề mặt sần sùi và sắc cạnh. Điều này sẽ giúp chúng ít bị di chuyển hơn.

Đá ba-lát và thanh tà vẹt giúp đường ray ổn định khi gánh sức nặng hàng nghìn tấn của những chiếc tàu hoả (Ảnh: pixabay)

Trong phần lớn thời gian, đường ray chỉ nằm im và không chịu bất kì áp lực gì, nhưng một phần nhỏ thời gian còn lại nó phải gánh sức nặng hàng nghìn tấn của những chiếc tàu hoả, nên việc giữ cho đường ray ổn định trong khoảng thời gian này là điều vô cùng quan trọng.

Ngoài tác dụng giữ ổn định cho đường ray chính và các thanh tà vẹt lớp đá ba-lát này còn có một vài chức năng khác. Đầu tiên có thể kể đến việc chúng ngăn không cho các loại cây cỏ mọc lên, khiến cho kết cấu bề mặt phía dưới đường ray trở nên yếu đi.

Một tác dụng quan trọng khác là nó ngăn nước tiếp xúc với đường ray một cách thường xuyên. Điều này không có nghĩa là chúng có thể ngăn chặn đường ray tiếp xúc với nước một cách hoàn toàn, nhưng chúng có thể giúp cho nước rút đi nhanh hơn để tránh ảnh hưởng tới kết cấu bề mặt của đất xung quanh và dưới đường ray.

Ngoài ra, do nằm lộ thiên và phải chịu ảnh hưởng của nhiều loại thời tiết khắc nghiệt, kích cỡ của đường ray có thể thay đổi, lớp đá này sẽ giúp tăng tính đàn hồi cho đường ray.

An Liên(t/h)

Điều gì sẽ xảy ra sau khi chết?

0

Trên thế gian này, chưa từng có loài hoa nào mãi mãi không tàn, cũng không có chiếc lá nào mãi mãi không rụng xuống. Con người cũng như vậy, từ xưa đến nay con người đều biết rằng trăm năm sau bất cứ ai cũng không thể thoát khỏi cái chết.

Nhưng mọi thứ sau khi chết sẽ như thế nào? Đây chính là một câu đố mà bất cứ người nào đang sống cũng muốn phá giải, cho dù ngày nay khoa học rất phát triển, nhưng vẫn còn rất nhiều điều bí ẩn đang chờ chúng ta giải đáp. Sau khi chúng ta chết đi có linh hồn không? Nếu thực sự có, vậy những linh hồn đó có đi đến một không gian khác không? Câu trả lời mà các nhà khoa học đưa ra sau đây sẽ khiến chúng ta thật khó mà tin nổi.

Trong cuộc sống thường ngày, chắc chắn chúng ta đã từng nghe nói đến có một số người rõ ràng được tuyên bố là đã chết, nhưng kết quả lại đột nhiên sống lại, hơn nữa còn có thể kể lại trải nghiệm kỳ lạ của mình cho mọi người xung quanh nghe. Thật ra, trạng thái sắp chết mà chưa chết này, trong khoa học gọi là “kinh nghiệm cận tử”.

Vào năm 2017, một nhóm nghiên cứu của viện y học Đại học New York đã công bố một nghiên cứu đáng kinh ngạc. Nhóm nghiên cứu này sau khi tiến hành điều tra những bệnh nhân nhập viện do ngưng tim đã phát hiện, có 20% bệnh nhân ngưng tim nói rằng đã nhìn thấy một luồng ánh sáng, có người còn có thể nói một cách rõ ràng về cuộc đối thoại của các bác sĩ trong quá trình cấp cứu, thậm chí có người nói rằng đã nhìn thấy bản thân nằm trên bàn cấp cứu.

Tại sao ở trong trạng thái cận tử lại có cảnh tượng kỳ lạ đến như vậy? Các nhà khoa học cũng cảm thấy rất tò mò về vấn đề khó tin này. Stephen Hawking từng nói rằng bất cứ thông tin gì trong vũ trụ đều không biến mất, khi bạn cho rằng nó đã biến mất, chẳng qua nó chỉ chuyển sang một hình thức tồn tại khác. Phải biết rằng, ý thức của con người về bản chất cũng là một loại thông tin, nếu dựa theo như những gì Hawking nói thì có nghĩa là linh hồn thật sự tồn tại.

Theo lý thuyết lượng tử, cơ thể chỉ là biểu hiện vật chất của ý thức tinh thần (Ảnh: pixabay)

Thực tế dựa theo lý thuyết lượng tử, cơ thể chỉ là biểu hiện vật chất của ý thức tinh thần, sự biến mất của biểu hiện vật chất không có nghĩa là sự biến mất của ý thức tinh thần. Còn có nhà khoa học chỉ ra rằng, ý thức tinh thần bên trong con người không thật sự tồn tại ở vũ trụ vật lý của hiện tại, nó có thể kéo dài trong không gian cao chiều và không gian hiện tại giống như lực hấp dẫn, hoặc nó vốn dĩ là “phản chiếu” của không gian cao chiều tại không gian hiện tại. Vì sự hạn chế của quy luật, vật chất giữa các chiều khác nhau sẽ không thể tương thích với nhau, do vậy những vật ở không gian cao chiều đi vào không gian thấp chiều cần phải tìm được vật trung gian, nếu không sẽ buộc phải giảm chiều theo quy luật vũ trụ.

Cũng giống như con người nếu như muốn đi vào trong thế giới hai chiều hoàn toàn bằng phẳng, chắc chắn không thể dùng cơ thể ba chiều thực sự để đi vào, cần phải tìm được một thứ gì đó trong thế giới hai chiều, phản chiếu ý thức vào trong vật thể đó, từ đó thực hiện sự chuyển hóa của chiều. Nếu như linh hồn là “phản chiếu” của thế giới cao chiều tại chiều hiện tại, vậy tại sao phải mạo hiểm bị giảm chiều để đi đến chiều hiện tại?

Trong lượng tử lực học, ý thức là sự tồn tại không thể bỏ sót, nó không giống với thứ có thể có hoặc không trong thế giới vật chất, bởi vì ý thức ở trong một mức độ nào đó có thể quyết định được vật chất, tức là vật chất do ý thức quyết định mà được hình thành. Căn cứ theo lý thuyết M của Edward Witten, vũ trụ có 11 chiều. Nếu như ý thức quyết định được sự tồn tại của vật chất, vậy thì nguồn gốc của ý thức chắc chắn phải cao hơn 11 chiều. Vì vậy, có nhà khoa học cho rằng, sinh mệnh không có sự chấm dứt theo ý nghĩa thực sự, đối với ý thức mà nói, mỗi một sự kết thúc đều là một sự bắt đầu mới.

Vật chất giữa các chiều khác nhau sẽ không thể tương thích với nhau (Ảnh: Pixabay)

Loại phỏng đoán này thực sự là đảo lộn nhận thức, nhưng những chuyện đảo lộn nhận thức trong vũ trụ này còn ít hay sao? Bạn có tin trên đời này tồn tại một thứ không nhìn thấy, không chạm được nhưng thực sự có tồn tại không? Vật chất tối chính là một thứ như vậy. Cho nên đảo lộn nhận thức không có nghĩa là sai lầm. Trong phỏng đoán của các nhà khoa học, ý thức không phải chỉ là sự tồn tại chưa biết đến nào đó cao hơn 11 chiều, mà nó còn là một tổng thể hoàn chỉnh. Mỗi người trong chúng ta có vẻ như là có ý thức khác nhau, nhưng về bản chất thì những ý thức này vốn dĩ là một cá thế riêng biệt được phân hóa từ ý thức chính. Mà ý thức chính nằm ở trong không gian cao chiều không phải là một loại sinh vật nào, rất có thể là một nguyên tắc cơ bản và lực cơ bản, giống như tốc độ ánh sáng không đổi để duy trì sự vận hành của vũ trụ.

Nếu thật sự là như vậy, có thể giải thích được tạo sao nó lại mạo hiểm bị giảm chiều để đi đến chiều hiện tại, bởi vì đây là một loại bản năng của quy luật vũ trụ. Tóm lại, nếu như suy đoán này là chính xác, thì cái chết không còn khiến người ta khiếp sợ như vậy nữa, bởi vì kết thúc chính là bắt đầu cuộc sống mới. Nhưng đối với một cá nhân mà nói, kết thúc có nghĩa là kết thúc, tất cả mọi thứ liên quan đến bạn đều bị thời gian vô tình xóa bỏ. Nếu thật sự có kiếp sau, thì cũng không có liên quan gì đến bạn trong kiếp sống này. Trân trọng cuộc sống hiện tại mới là điều quan trọng nhất.

Theo SOH
Châu Yến biên dịch

Đọc nhiều

Cần điều tra clip và xử lý cán bộ đòi chôn sống nhà sư.

Giữa lúc cơn khủng hoảng truyền thông Phật giáo đang leo thang vì những bài báo lá cải tiếp tục bồi bút sau khi...

Sự thật về người quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao...

Ngày 13/3/2021, ngay sau khi báo Thanh Niên Online đưa tin: ”Quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao cấu trẻ em:...

Cần Lên Án Báo Tuổi Trẻ Khi Đem Phật Giáo Ra Biếm Họa

Ngày 15/1/2020, Tuổi Trẻ Online đã có sự can thiệp chỉnh sửa lại thông tin đăng tải, buộc lòng phải lên tiếng xin lỗi...

Khai tôn giáo trong căn cước công dân, phải có “giấy chứng nhận xuất...

 Đây là một thắc mắc lớn mà người viết đã nhiều lần đặt ra trong khi trực tiếp thực hiện các thủ tục liên...