Thứ Hai, Tháng Chín 20, 2021

Vấn đề quan tâm

Cảnh giác với tin tức giả mùa Covid-19

Mấy ngày gần đây, trên các mạng xã hội, một số cá nhân đã chia sẻ những thông tin sai lệch về chư Ni chùa Phước Hòa (Quận 3, TP.HCM) mắc Covid-19 và đang “rất cần” sự ủng hộ nhu yếu phẩm.

Những thông tin chưa được kiểm chứng, sai lệch đang lan tràn trên các mạng xác hội
Những thông tin chưa được kiểm chứng, sai lệch đang lan tràn trên các mạng xác hội

Sau khi thông tin được lan truyền rộng rãi, Ni sư Thích Nữ Viên Hạnh – Trụ trì chùa Phước Hòa đã xác nhận nội dung tin là hoàn toàn sai lệch: “Chùa không sử dụng mạng xã hội và cũng không vận động mọi người ủng hộ thực phẩm, thực tế, một số chư Ni có kết quả dương tính với Covid-19 nên chùa thực hiện cách ly. Trong thời gian đó, được sự giúp đỡ của Ban Trị sự Phật giáo Quận 3, Tổ đình Vĩnh Nghiêm và chính quyền sở tại, việc cung cấp thực phẩm, thuốc men luôn được đầy đủ. Đến nay, chùa đã thực hiện xong việc cách ly y tế, tất cả chư Ni có kết quả xét nghiệm âm tính, sinh hoạt được ổn định bình thường. Không có chuyện vận động”.

Về vấn đề này, ĐĐ. Thích Thiện Châu – Phó Trưởng ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN  Quận 3 cho biết: “Thời gian qua, Ban Trị sự đã tiếp nhận nhiều thông tin phản ảnh và đã có trao đổi, phản ánh với các cơ quan chức năng về việc xử lý những tức giả, tin đồn chưa được xác nhận đã gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch Covid-19, trong đó, có rất nhiều trường hợp đáng tiếc, tuy có tâm nguyện giúp đỡ, nhưng lại vội vã, khi không có sự ủy nhiệm lại tự ý thay mặt chư Tôn đức để vận động, giúp đỡ. Các Tự viện cũng nên lưu ý, cân nhắc và thận trọng, để không làm ảnh hưởng đến uy tín chung của Giáo hội và các Tự viện nói chung.”

Phân biệt tâm thật và tâm giả

Tâm giả là vì sự hiện diện của nó là do vay mượn từ nhiều thứ và liên tục bị biến đổi. Trái lại, tâm thật thì luôn thường hằng, không biến đổi và cũng không vay mượn.

Hỏi: Một chúng sinh muốn tu thành Bồ tát hay thành Phật đều phải nhận ra được chân tâm của chính mình. Vậy chân tâm là như thế nào?

Đáp: Thân thể của con người gồm có hai phần vật chất và tinh thần, mà danh từ chuyên môn trong đạo Phật gọi là Danh và Sắc. Phần vật chất (Sắc) gồm có: lông, tóc, móng, da, thịt, gân, xương và thân, đầu, tứ chi. Thành phần vật chất này do nhiều thứ hợp lại như thế, cho nên mong manh tạm bợ, không thật sự bền chắc và một ngày nào đó sẽ tan rã. Dù chúng ta cố gắng lo cho thân này ăn ngon, mặc đẹp và ở sang, nó cũng bỏ ra đi mà không một lời từ giã. Trong kinh Pháp Cú, đức Phật nói rằng:

Thân này chẳng bao lâu

Sẽ vùi sâu lòng đất,

Như cây khô, khúc gỗ

Vứt bỏ vì vô tri.

Thân thể của con người gồm có hai phần vật chất và tinh thần, mà danh từ chuyên môn trong đạo Phật gọi là Danh và Sắc. Ảnh minh họa.

Thân thể của con người gồm có hai phần vật chất và tinh thần, mà danh từ chuyên môn trong đạo Phật gọi là Danh và Sắc. Ảnh minh họa.

Về phần tinh thần hay còn gọi là phần tâm thức (Danh) bao gồm: Cảm thọ (Thọ), Suy tưởng (Tưởng), Phân biệt (Hành) và Nhận thức (Thức). Người không học Phật từ lúc sinh ra cho đến khi già chết không bao giờ biết được sự duyên hợp tạm bợ của bốn yếu tố đó để tạo thành một cái mà muôn người như một đều chấp nhận là tâm của mình. Từ sáng cho đến tối, chúng ta cứ bám chấp vào những sự suy nghĩ và những cảm thọ buồn, thương, giận, ghét, hơn thua, phải quấy là mình. Trong đạo Phật có chia hai loại tâm: một tâm thì luôn luôn sinh diệt biến đổi không ngừng là tâm giả hay ngụy tâm và một tâm thì lặng lẽ thường biết, không bị biến đổi, đó mới là cái tâm thật hay chơn tâm. Người xưa nói: “Biển cả khô rồi còn thấy đáy. Người đời đến chết chẳng biết tâm”. Nghĩa là sau này khi đến kiếp Hỏa, sự xuất hiện cùng một lúc của bảy mặt trời sẽ làm cho tất cả mọi lượng nước ở trong các biển lớn bị khô cạn và cuối cùng toàn bộ quả địa cầu bị đốt cháy thành tro, mà người đời cũng không biết được tâm là cái gì, huống nữa là chơn tâm. Muốn nhận ra và hằng sống với chơn tâm này không phải là việc dễ dàng, bởi vì chúng ta luôn luôn sống với cái tâm biến đổi giả dối.

Tại sao gọi là tâm giả? Giả là vì sự hiện diện của nó là do vay mượn từ nhiều thứ và liên tục bị biến đổi. Trái lại, tâm thật thì luôn thường hằng, không biến đổi và cũng không vay mượn. Ví dụ, từ trước hai người bạn chơi với nhau rất thân, nhưng một hôm nào đó một người nói nặng một câu đụng chạm tới ‘cái Ta’ hay làm một hành động trái ý nghịch lòng người kia, thì mới buổi sáng còn nhỏ nhẹ, thân thiết với nhau mà đến chiều chẳng buồn nói một câu và thậm chí không thèm nhìn mặt nhau nữa. Vậy cái tâm thương yêu lúc buổi sáng và cái tâm buồn giận lúc buổi chiều, cái nào là tâm thật? Những cái tâm chợt có chợt không, biến đổi liên tục như thế không phải là tâm chân thật. Chỉ vì mọi người luôn chạy đuổi theo những tâm giả đó suốt cả ngày, cho nên khi thì vui lúc thì buồn, khi sướng lúc khổ thay đổi thất thường, cho nên lúc nào cũng đau khổ. Ví dụ, tiền để trong tủ sắt khóa thật kỹ, nhưng trong một đêm bị ăn trộm cạy tủ lấy đi hết, lúc đó trong lòng buồn khổ bỏ ăn quên ngủ. Hoặc như mình đang trẻ khỏe như vậy, nhưng hôm nào đi khám bác sĩ nói bị ung thư, thì lúc đó đang vui liền hóa buồn. Như vậy, tất cả sự biến đổi đều đưa đến khổ đau. Trong kinh, đức Phật đã hỏi các vị Tỳ-kheo:

– Các thầy thấy thân này là thường hay vô thường?

Các vị Tỳ-kheo đáp rằng:

– Bạch đức Thế Tôn! Thân này là vô thường.

Đức Phật hỏi tiếp:

– Vậy vô thường là khổ hay vui?

Các vị Tỳ-kheo đáp rằng:

– Bạch đức Thế Tôn! Vô thường là khổ.

Tâm thật thì luôn thường hằng, không biến đổi và cũng không vay mượn.

Tâm thật thì luôn thường hằng, không biến đổi và cũng không vay mượn.

Rõ ràng, vô thường là biến đổi bất ngờ và liên tục. Hễ có biến đổi là có khổ đau, càng sống với cái biến đổi thì chúng ta càng đau khổ. Tâm của chúng ta thường do các duyên bên ngoài tác động hoặc vay mượn mà nó không tự hiện khởi hay biến đổi. Ví dụ, ngồi xem tivi đến đoạn hài kịch thì cười ha hả và khi đến đoạn bi kịch thì lấy khăn lau nước mắt. Nếu xét kỹ thì thấy rằng trước khi xem tivi thì chúng ta không có cười hay khóc. Như vậy cười hoặc khóc là do cảnh duyên bên ngoài tác động tạo ra, còn tâm của chúng ta vốn bình thường tỉnh sáng, không có cười khóc hay vui buồn. Sự cười hoặc khóc, vui hoặc buồn đó không có thật chỉ do duyên tác động và bất ngờ thoáng hiện lên rồi tan mất. Nhưng vì chúng ta si mê, nhìn nhận nó là thật cho nên cứ chạy theo cảnh duyên bên ngoài mà khổ đau mãi.

Sau khi đã biết được tâm giả, bây giờ nói về tâm thật hay là chân tâm. Nó là cái thường hằng, không bị biến đổi hay vay mượn từ những nhân duyên ở bên ngoài, luôn sáng suốt và biết rõ tất cả. Ví dụ, khi được mọi người trong đạo tràng nêu tên hoan nghênh mình tu giỏi, chắc chắn được vãng sinh, lúc đó trong lòng khởi sự vui mừng, thì liền “Hít vào A Di; Thở ra Đà Phật” và trở về với tâm bình thường an nhiên. Như vậy cái thường biết sáng suốt, lúc buồn biết buồn, khi vui biết vui, biết rõ lúc được khen, lúc bị chê, nhưng vẫn giữ tâm như nhiên bình thường, không dao động, vẫn chánh niệm trong danh hiệu Phật, thì đó là tâm chân thật của mình thường biết sáng suốt. Tất cả cảnh duyên đến như thăng trầm, vinh nhục, được mất, khen chê, tốt xấu đến mà chúng ta không bị lung lay dao động vẫn tĩnh giác, sáng suốt giữ một câu A Di Đà Phật. Thường giữ được sự an nhiên tĩnh lặng như vậy là thấy được tâm bất biến giữ muôn ngàn biến đổi và từ đó đi sâu vào các tầng thiền định cao hơn và thể nhập tâm mình với chư Phật, Bồ tát.

Con cái có thể sám hối thay cha mẹ được không?

Để giúp người khác chuyển hóa và hướng thiện, bản thân mỗi người phải là một Phật tử thuần thành, hết sức mẫu mực, mọi hành xử, nói năng đều toát lên nét thánh thiện của tuệ giác và yêu thương.

Mỗi gia đình đều có một hoàn cảnh riêng, là cộng nghiệp (nghiệp chung) của chính các thành viên trong gia đình ấy. Có những cộng nghiệp tốt, duyên lành tái hợp, gia đình hiếu thuận hạnh phúc an vui. Có những cộng nghiệp trung tính tốt xấu lẫn lộn. Và cá biệt có những cộng nghiệp hoàn toàn không tốt, oan gia gặp gỡ. Dù cho bất cứ cộng nghiệp nào, người Phật tử có chánh kiến cần hiểu rõ rằng mình và các thành viên khác trong gia đình đang thừa tự nghiệp lực của chính mình.

Song hành với sám hối, bạn còn có thể thực thi các hạnh lành khác như bố thí, cúng dường… để hồi hướng phước báo cho người thân, cầu mong họ được an vui, phát khởi tín tâm Tam bảo.

Song hành với sám hối, bạn còn có thể thực thi các hạnh lành khác như bố thí, cúng dường… để hồi hướng phước báo cho người thân, cầu mong họ được an vui, phát khởi tín tâm Tam bảo.

Nghiệp có cũ và mới. Chúng ta sinh ra ở đời có nhiều quyền lựa chọn nhưng không có quyền lựa chọn cha mẹ cho mình nên cha mẹ được xem là nghiệp cũ của con cái. Do nghiệp duyên nhiều đời trong quá khứ đun đẩy ta làm con của cha mẹ. Không hề ngẫu nhiên, cũng không hề do ông trời, thần linh hay thượng đế nào bắt ta phải làm con của cha mẹ mà do biệt nghiệp (nghiệp riêng) của ta và cộng nghiệp với cha mẹ, anh em làm nên. Câu nói cửa miệng trong dân gian Con là nợ, vợ là oan gia, cửa nhà là nghiệp chướng phản ánh phần nào mối quan hệ giữa nghiệp cũ và nghiệp mới, giữa biệt nghiệp và cộng nghiệp hình thành nên gia đình trên cả hai phương diện hạnh phúc hay khổ đau.

Xét về nguyên tắc biệt nghiệp (nghiệp riêng) thì ai làm lành được hưởng phước, ai làm ác thì chịu quả báo. Dù lên non cao hay đi xuống vực sâu, không ai có thể trốn được nghiệp lực của mình, hay “chí thân như cha với con, mỗi người cũng theo nghiệp của mình mà đi khác đường, dầu có gặp nhau cũng chẳng bằng lòng chịu khổ cho nhau” (Kinh Địa Tạng, phẩm 5, Danh hiệu của địa ngục). Tuy vậy, trên phương diện cộng nghiệp (nghiệp chung) thì các thành viên trong những cộng nghiệp như gia đình, dòng tộc, xóm làng… lại có liên hệ mật thiết, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau. Nghiệp riêng thiện, ác (hạnh phúc, khổ đau) của người này có ảnh hưởng, chi phối sâu sắc đến người kia trong liên hệ nghiệp chung và ngược lại.

Chúng ta cũng nên khuyên người thân gieo trồng và tưới tẩm vào tâm thức họ về đạo lý nhân quả, nghiệp báo, nhân duyên và công đức Tam bảo

Chúng ta cũng nên khuyên người thân gieo trồng và tưới tẩm vào tâm thức họ về đạo lý nhân quả, nghiệp báo, nhân duyên và công đức Tam bảo

Mặt khác, muốn thực hành hiếu đạo theo đúng tinh thần Phật giáo thì ngoài hiếu tâm và hiếu dưỡng, người Phật tử phải nỗ lực khuyến hóa cha mẹ hồi tâm, kính tín Tam bảo, bỏ ác làm lành… Kinh Tăng Chi, Phật dạy: “Những ai đền ơn bằng cách nuôi dưỡng, cúng dường cha mẹ với các của cải, đồ ăn, tiền bạc thì không bao giờ đủ để trả ơn cha mẹ. Này các Tỷ kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào thiện giới; đối với cha mẹ xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào bố thí; đối với cha mẹ theo ác tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào trí tuệ. Như vậy là làm đủ và trả ơn đủ cho mẹ và cha, là chân thật báo ân”. Đức Phật còn dạy thêm về hiếu đạo trong kinh Hiếu Tử: “Cúng dường cha mẹ không gì bằng khuyên cha mẹ làm việc lành, bỏ việc ác. Nếu không thể khuyến hóa cha mẹ, phụng trì Tam bảo thời tuy có hiếu dưỡng cha mẹ cũng chưa thể gọi là hiếu. Cha mẹ hung ngược, dâm dật, tà ngụy, trái đạo… người con phải hết sức ngăn cản, mới gọi là hiếu”.

Cứ vào hai nguyên tắc về nghiệp và hiếu như đã trình bày cùng với tâm nguyện thiết tha tu học, mong mỏi làm tròn hiếu đạo đối với cha mẹ, chúng tôi nghĩ rằng nếu tinh chuyên hết lòng thì bạn sẽ thành tựu được ý nguyện báo hiếu đúng theo tinh thần Phật giáo.

Truyền thông trong Chánh pháp

Người làm truyền thông nên tránh “vơ đũa cả nắm” dẫn đến định hướng sai cho dư luận, vì tâm lý con người nói chung hay quên những điều tốt đẹp, nhớ rất lâu những điều tiêu cực. Nếu hạy theo cuộc đua “câu like” hay “giật tít” sẽ làm mất đi tâm niệm lành của người khác đối với đạo Phật chân chính.

PV: Thượng tọa có ý kiến gì về việc sử dụng hình ảnh Đức Phật để biếm họa trên mặt báo truyền thông?

– Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử và đã góp phần tích cực hình thành nên rất nhiều những giá trị đạo đức tốt đẹp trong văn hóa dân tộc, vì thế, những giá trị đạo đức cốt lõi và chân chính của Phật giáo đối với sự phát triển của xã hội là không thể phủ nhận.

Bên cạnh đó, chúng ta cũng biết rằng, trong xã hội luôn có những bộ phận lợi dụng tên tuổi của Phật giáo để làm những điều phi Phật giáo, làm ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh chân chính của đạo Phật, những vấn đề xã hội này luôn tồn tại bởi lòng tham và tâm không trong sáng nơi con người, để trục lợi cá nhân. Điều này toàn xã hội cần có trách nhiệm cùng chung tay loại bỏ những điều tiêu cực và xiển dương những điều thiện điều lành, góp phần làm cho xã hội được tịnh hóa, phát triển tốt đẹp.

Thượng tọa Thích Thanh Huân - Uỷ viên Thư ký Hội đồng trị sự Trung ương, Phó Chánh Văn phòng TW Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Pháp Vân, Hà Nội.

Thượng tọa Thích Thanh Huân – Uỷ viên Thư ký Hội đồng trị sự Trung ương, Phó Chánh Văn phòng TW Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Pháp Vân, Hà Nội.

Trong đó công tác truyền thông có vai trò quan trọng trong định hướng dư luận xã hội và góp phần hình thành những trào lưu xã hội. Điều quan trọng là người làm truyền thông cần phải phân biệt được đâu là những điều chính quan trọng và đâu là những điều phái sinh tiêu cực từ một số bộ phận cá biệt, tức là phân biệt giữa những giá trị quan trọng cốt lõi có ý nghĩa tích cực cho sự phát triển xã hội và những hiện tượng do con người lợi dụng niềm tin của quần chúng đối với đạo Phật

Những giá trị quan trọng cốt lõi có ý nghĩa tích cực cho sự phát triển xã hội là một hệ thống giáo dục đạo đức của nhà Phật lấy con người làm trung tâm giáo dục và đặt nền tảng trên Luật Nhân Quả – đạo luật vận hành và duy trì sự cân bằng của vũ trụ, điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng nền tảng đạo đức cho xã hội, giúp từng cá nhân sống có trí tuệ và đạo đức, không còn sợ hãi lệ thuộc thần quyền ban phước giáng họa trong vô minh và kiên quyết từ bỏ những hành vi mê tín dị đoan làm khổ mình khổ người, từ đó sống xứng đáng làm người, có ý thức trách nhiệm trong từng hành vi của bản thân, góp phần giúp cho gia đình và cộng đồng có được bình an và hạnh phúc chân thật.

Cần phổ biến kiến thức Phật học cho cộng đồng xã hội bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm lan tỏa những tri kiến đúng đắn về đạo đức của nhà Phật.

Cần phổ biến kiến thức Phật học cho cộng đồng xã hội bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm lan tỏa những tri kiến đúng đắn về đạo đức của nhà Phật.

Những hiện tượng do con người lợi dụng niềm tin của quần chúng đối với đạo Phật mà có những việc làm vụ lợi cho bản thân, làm hại cho xã hội, vô hình chung tạo ra sự hiểu lầm, phỉ báng đối với Phật giáo. Điều này chúng ta cần lên tiếng để “tồi tà hiển chánh”.

Những người làm truyền thông nên tránh “vơ đũa cả nắm” dẫn đến định hướng sai cho dư luận, vì tâm lý con người nói chung là hay quên những điều tốt đẹp mà lại nhớ rất lâu những điều tiêu cực, do đó, nếu truyền thông không phân định được chính – phụ mà chạy theo cuộc đua “câu like” hay “giật tít”, làm mất đi tâm niệm lành của người khách đối với đạo Phật chân chính thì đó thực sự là một điều đáng tiếc, nói cách khác là đã làm mất phúc thiện của bản thân và xã hội.

Có thể nói, phê phán những hiện tượng tiêu cực trong xã hội là một vai trò quan trọng của công tác truyền thông để thúc đẩy sự phát triển tích cực và bền vững của xã hội, và chính vì thế, việc phê phán cần phải cụ thể, đúng người, đúng việc và quan trọng là đúng cách, mang tính xây dựng và có cân nhắc.

“Gắn việc cầu nguyện với một giá trị bằng tiền đó là sự hạ thấp giá trị cao đẹp của đạo Phật” – Thượng tọa Thích Thanh Huân. Ảnh minh họa.

PV: Theo Thượng tọa, việc sử dụng hình ảnh Đức Phật để biếm họa có ảnh hưởng thế nào đến hình ảnh Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng?

– Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là bậc vĩ nhân – Ngài đã tu tập chuyển hóa tự thân, chứng đạt chân lý, Ngài đã cống hiến cho nhân loại một giá trị sống đạo đức, hướng thượng đem đến giá trị hạnh phúc chân thật.

Phật giáo là tôn giáo của trí tuệ, hiểu biết, từ bi, bình đẳng định hướng con người tới những giá trị cao đẹp trong cuộc sống, hướng tới sự chân thiện mỹ. Phật giáo không phải là tôn giáo của cầu xin, Đức Phật không phải là người ban phúc giáng họa cho bất kỳ ai. Việc gắn hình ảnh Đức Phật với những ngôn từ không phù hợp là hoàn toàn kệch cỡm, xúc phạm tới niềm tin tôn giáo của Đạo Phật. Việc đặt hiện tượng xã hội gắn vào đức tin tâm linh đó là điều không phù hợp.

Việc lễ chùa và cầu nguyện thường ngày đã trở thành nét đẹp văn hóa trong đời sống tinh thần của nhiều người dân, hằng ngày mỗi chúng ta nên nuôi dưỡng niềm tin ở nơi chính mình để thực hiện những ước nguyện cao đẹp trong cuộc sống, nên việc cầu cho gia đình bình an, mọi người có sức khỏe, đời sống an lạc là việc chính đáng. Khi tới chùa người ta vẫn thể hiện những ước vọng đó nhằm có niềm tin trong cuộc sống.

“Phật giáo không phải là tôn giáo của cầu xin, Đức Phật không phải là người ban phúc giáng họa cho bất kỳ ai” – Thượng tọa Thích Thanh Huân khẳng định.

Gắn việc cầu nguyện với một giá trị bằng tiền đó là sự hạ thấp giá trị cao đẹp của đạo Phật. Điều này chúng tôi hoàn toàn không đồng tình.

Trong những bức tranh và ngôn từ tác giả đã khiên cưỡng ép việc dùng tiền tài để cầu danh cầu lợi đối với Đức Phật. Việc làm này vô tình đã xúc phạm đến niềm tin tôn giáo, ảnh hưởng đến giá trị tâm linh cao đẹp của Đạo Phật. Cần phải tôn kính, giữ gìn sự trang nghiêm đối với những hình ảnh của Đức Phật.

Qua đây chúng ta thấy rằng hiểu biết của xã hội đối với những giá trị đạo đức cốt lõi của Phật giáo còn rất ít. Có lẽ chúng ta cần quan tâm hơn nữa tới công tác hoằng pháp, chia sẻ, phổ biến kiến thức Phật học cho cộng đồng xã hội bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm lan tỏa rộng thêm những tri kiến đúng đắn về đạo đức của nhà Phật đến với cộng đồng xã hội.

Cầu siêu và tạo phước để hồi hướng cho hương linh

Ngoài lễ cầu siêu, đạo Phật còn triển khai rất nhiều pháp thức khác nữa để gia quyến thực hành nhằm trợ duyên cho hương linh. Nhất là trong thời gian sau khi chết, từ 1 đến 49 ngày, hương linh rất mong mỏi người thân làm phước để hồi hướng phước báo cho mình.

Hỏi: Vừa qua, gia đình tôi có xảy ra chuyện, chỉ trong 60 ngày mà có hai người (bà và chú) chết. Sau đó gia đình vì quá lo lắng nên đi xem bói và nghe phán là bị chết trùng, phải chết thêm mấy người nữa. Trong lễ tuần thất thứ 3 của chú thì chú hộ lên, nhập vào một người nói do kiếp trước chú đã chém đầu một bà, nay con của bà bị chém ấy lên bắt chú và mẹ của chú đi và sẽ còn bắt thêm một số người nữa.

Chú còn nói mẹ của chú (bà tôi) ở dưới đó bị xiềng xích đánh đập. Sự việc trên khiến gia đình tôi rất hoang mang và lo lắng, xin quý Báo hoan hỷ chỉ bảo và phân tích cho tôi một số thắc mắc sau:

1. Hiện tượng chết trùng, theo nhà Phật, có hay không? Nguyên nhân và cách khắc phục.

2. Sự việc chú tôi (người chết) về nhập vào một người và nói như vậy có nên tin không?

3. Một số thầy (ở chùa) nói phải chẩn tế và dùng bùa (của đạo Phật) để hóa giải chết trùng. Điều này có đúng không?

4. Đạo Phật ngoài cầu siêu cho người chết, có cách nào khác thiết thực hơn để con cháu trong gia đình đều có thể làm được trong đời sống hàng ngày nhằm hồi hướng phước đức cho hương linh?

(duong_joong…@yahoo.com)

Đáp:

Theo quan điểm Phật giáo, pháp thức chẩn tế là phương tiện nhằm cầu siêu và hồi hướng phước báo bố thí cho hương linh.

Theo quan điểm Phật giáo, pháp thức chẩn tế là phương tiện nhằm cầu siêu và hồi hướng phước báo bố thí cho hương linh.

Bạn duong_joong thân mến!

Trong vòng hai tháng mà gia đình bạn có đến hai người mất (một già, một trẻ) là điều thật đau buồn và gây lo lắng, hoang mang cho cả nhà. Tuy vậy, thay vì tin tưởng tuyệt đối vào Tam bảo để tu tập, cầu nguyện và tạo phước nhằm hồi hướng cho hương linh thì gia đình bạn lại đi xem bói để chuốc thêm những lo lắng không cần thiết. Các vấn đề bạn hỏi, chúng tôi lần lượt trao đổi với bạn như sau:

1. Vấn đề chết trùng, đây là quan niệm về lịch số của Trung Hoa xưa do chết hay an táng nhằm ngày trùng, được lưu truyền và tin tưởng sâu sắc trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Phật giáo không có quan niệm về chết trùng, ngày trùng… Sự sống chết của mỗi người là do nghiệp lực của chính người ấy quyết định và chi phối. Sự chết cùng với ngày giờ chôn cất của một người, dù cho là thân quyến có cộng nghiệp, vẫn không thể ảnh hưởng đến đời sống hay quyết định sự chết của người thân được.

2. Việc một người hộ lên, nhập vào người khác tuy có, nhưng khó có thể xác định “vong” đó đích thực là người thân của mình. Sự lạm xưng vẫn thường xảy ra trong nhiều trường hợp như vậy. Quan trọng hơn, những gì “vong” trình bày (theo như bạn mô tả) hoàn toàn mang sắc thái “oan oan tương báo” của tín ngưỡng dân gian. Mô thức báo oán theo kiểu “do kiếp trước chú đã chém đầu một bà, nay con của bà bị chém ấy lên bắt chú và mẹ của chú đi và sẽ còn bắt thêm một số người nữa” không hề có trong quan điểm Nghiệp và Nhân quả của Phật giáo. Do vậy, nếu người Phật tử tín sâu Tam bảo, có chánh kiến rõ ràng thì không thể tin vào những lời vu vơ, thiếu căn cứ kia được. Bởi lẽ, nghiệp của ai thì người ấy trả và dòng nghiệp lực luôn vận động nên hình thức trả nghiệp cũng theo đó mà uyển chuyển, thay đổi không ngừng.

3. Như đã nói, Phật giáo không có quan niệm về ngày trùng và chết trùng nên chắc chắn không có “bùa” nào để giải trùng cả. Mặt khác, Phật giáo không hề sử dụng bùa ngải để trấn yểm hay trừ khử, xua đuổi ma quỷ. Và nếu có vị xuất gia nào sử dụng thì đó là sự vay mượn của các đạo giáo khác làm phương tiện. Tuy nhiên, đó là con dao hai lưỡi, không ít người mang hệ lụy vì quá lạm dụng vào phương tiện này. Chẩn tế, là hình thức bố thí rộng khắp cho các chúng sanh (nhất là loài ngạ quỷ đói khát) được no đủ. Theo quan điểm Phật giáo, pháp thức chẩn tế là phương tiện nhằm cầu siêu và hồi hướng phước báo bố thí cho hương linh. Nương phước báo này, hương linh có thể được tỉnh thức và sanh vào các cõi lành.

4. Ngoài lễ cầu siêu, đạo Phật còn triển khai rất nhiều pháp thức khác nữa để gia quyến thực hành nhằm trợ duyên cho hương linh. Nhất là trong thời gian sau khi chết, từ 1 đến 49 ngày, hương linh rất mong mỏi người thân làm phước để hồi hướng phước báo cho mình. Những việc làm phước thiện mà thân nhân có thể thực hiện bao gồm: Phát tâm quy y, vâng giữ 5 giới, thực tập ăn chay, đi chùa tụng kinh niệm Phật hàng đêm, tham dự các khóa tu, sống hiền thiện, sẻ chia, bố thí, cúng dường… và đem tất cả những công đức lành này hồi hướng cho hương linh.

Chúc bạn tinh tấn!

Cần tinh tế khi cúng dường y để trọn phần công đức

Mùa Vu lan – Tự tứ, kết thúc ba tháng an cư mùa mưa, mừng khánh tuế chư Tăng Ni thêm tuổi đạo, bạn phát tâm dâng cúng pháp y lên một bậc Trưởng lão Tăng là một ý tưởng tuyệt vời.

Hỏi: Tôi là một Phật tử, rất kính trọng một vị Hòa thượng đang hành đạo tại địa phương. Vào ngày Đại lễ Vu lan sắp tới đây, tôi muốn cúng dường lên Hòa thượng một lễ phẩm để tỏ lòng thành kính và gieo chút phước duyên với ngài. Tôi đã thưa hỏi Hòa thượng nên cúng dường như thế nào cho đúng pháp, ngài từ bi chỉ dạy là cúng dường gì cũng tốt nếu được làm bằng tất cả tâm thành. Sau khi về nhà suy nghĩ, tôi quyết định may một pháp y ca-sa để dâng lên Hòa thượng. Trong quá trình may chiếc y đó, tôi sẽ giữ tâm thanh tịnh, xem như đây cũng là cơ hội tu tập. Tuy nhiên, tôi không biết các quy chuẩn về pháp y ca-sa cho một vị Hòa thượng như chất liệu vải, màu sắc, quy cách, kích thước v.v… nên rất mong được quý Báo trợ duyên chỉ bày giúp tôi.

(NHÂN TRẦN, pvo3075…@gmail.com)

Bạn Nhân Trần thân mến!

Mùa Vu lan – Tự tứ, kết thúc ba tháng an cư mùa mưa, mừng khánh tuế chư Tăng Ni thêm tuổi đạo, bạn phát tâm dâng cúng pháp y lên một bậc Trưởng lão Tăng là một ý tưởng tuyệt vời. Bạn đã cẩn thận thỉnh ý Hòa thượng về việc cúng dường đúng pháp và ngài cũng dạy chung là “cúng dường gì cũng tốt nếu được làm bằng tất cả tâm thành”. Sau một thời gian suy ngẫm, bạn quyết định sẽ dâng cúng pháp y ca-sa do chính mình tự may lấy. Đặc biệt hơn nữa, trong quá trình chế tác cắt may pháp y, bạn phát nguyện gắng giữ tâm trong sạch để thành tựu trọn vẹn sự thanh tịnh cúng dường.

Sẽ không có gì để bàn trong việc phát tâm cúng dường pháp y này nếu bạn là một thợ may pháp phục Phật giáo chuyên nghiệp. Nhưng ở đây, bạn “không biết các quy chuẩn về pháp y ca-sa cho một vị Hòa thượng như chất liệu vải, màu sắc, quy cách, kích thước” thì khó đảm bảo rằng chiếc y ca-sa thành phẩm có thể hội đủ sự trang nghiêm, vừa ý, nói gọn là dùng được. Nếu Hòa thượng nhận y mà không dùng được (trường hợp này người nhận y thường đem cúng cho người nào cần) thì việc cúng dường pháp y của bạn có thể nói là chưa trọn phần công đức.

Thông thường, một người tu có ba y, sau đó tùy vào nhu cầu thực tiễn của mỗi vị mà có thể sắm thêm một số pháp y khác dùng trong các nghi lễ ứng phú, chứng minh hay thuyết giảng. Những loại pháp y này chỉ tương đồng về kích thước còn quy cách (số điều y, các phụ kiện…), màu sắc (vàng sẫm, vàng tươi, đỏ…), chất liệu vải (vải thường hay gấm, cứng mềm, nặng nhẹ…) hoàn toàn khác nhau. Trong thực tiễn thì người nhận y có thể cần loại y này mà chưa cần loại y kia, trong khi pháp cúng dường cần hợp thời, cúng ngay cái mà người nhận đang cần sẽ lợi ích hơn.

Vì thế, khi bạn quyết định dâng cúng pháp y ca-sa, thiết nghĩ, bạn nên gặp lại vị Hòa thượng để thưa thỉnh ngài cần loại ca-sa nào. Ví dụ, ngài cho biết hiện thời đang cần pháp y ca-sa 25 điều để chứng minh và đạo từ trong các trai lễ. Khi đã biết loại y (25 điều), bạn nên hỏi thêm về màu và chất liệu vải rồi sau đó mới tìm phương cách may y ca-sa.

Cách hay nhất là bạn cần tìm một thợ may pháp y ca-sa chuyên nghiệp. Hiện nay, những người thợ may y lành nghề và có tâm cũng khá dễ tìm. Người thợ sau khi nhận lời sẽ đến gặp người nhận y để lấy số đo chính xác và ghi nhận thêm các yêu cầu chi tiết (như kiểu cách, chất liệu của móc y, màu sắc của các đường viền…). Bạn cũng có thể nhờ người thợ này mua vải may y đúng màu sắc và chất liệu giúp bạn. Nếu hội đủ duyên lành như vậy, bạn sẽ yên tâm về phẩm vật dâng cúng của mình, và chắc chắn phẩm vật đó sẽ trang nghiêm, hợp thời, người nhận và người cúng đều hoan hỷ.

Ngoài ra, còn một cách khác có tính phương tiện là bạn dâng tiền may pháp y. Bạn cũng thưa rõ hoàn cảnh cũng như tâm nguyện, nếu được Hòa thượng hoan hỷ hứa khả cho cách này thì bạn dâng tịnh tài may y, Hòa thượng chứng minh và nhờ những vị thị giả của ngài lo liệu việc may y giúp. Thường thì những vị thị giả của các ngài sẽ chu toàn những việc như vậy rất gọn gàng và nhanh chóng. Khi nào Hòa thượng nhận được y thì pháp cúng dường của bạn thành tựu.

Chúc bạn tinh tấn!

Cần tổ chức Đại lễ cầu siêu cho các nạn nhân tử vong vì Covid

Ngày 9/8/2021, theo số liệu thống kê của Wikipedia, toàn thế giới đã có 203 triệu ca nhiễm Covid, trong đó có 4,29 triệu ca tử vong. Riêng tại Việt Nam, ghi nhận 206 ngàn ca nhiễm và 3.250 ca tử vong. Tất nhiên, con số tử vong vì Covid trên toàn cầu, sẽ tiếp tục gia tăng, khi các biến chủng Covid mới như Delta, Delta plus, Lambda lần lượt xuất hiện khắp nơi trên thế giới.

Đáng lo ngại nhất là các biến thể có khả năng kháng Vắc Xin và qua mặt xét nghiệm PCR. Thảm cảnh chết chóc bao trùm tại Ấn Độ chỉ là một mảng tối trong bức tranh hiểm hoạ tổng thể do Covid để lại. Dù chiến tranh thế giới thứ 2 đã qua đi, nhưng hiểm họa của COVID – 19 đã trở thành nỗi đau lịch sử, đó là điều chẳng ai có thể phủ nhận.

Mùa Vu Lan PL 2565 – DL 2021, Sài Gòn đau nặng khắp nơi đều giăng dây, không khí tang thương bao trùm khắp tâm dịch, khi các bệnh viện dã chiến, nhà xác, lò thiêu đều quá tải, đã phản ảnh phần nào nỗi đau sanh ly tử biệt của nhân loại trong cơn đại dịch. Thành phố buồn chết lặng trong âm vang tiếng còi xe cấp cứu. Ngoài phố không một bóng người, trừ các đoàn từ thiện, các tình nguyện viên, những ai ở tuyến đầu chống dịch làm nhiệm vụ.

Toàn quốc, đã có hơn 600 Tăng Ni Phật tử xung phong lên đường phụng sự. Quyết định tiếp nhận tạm thờ tro cốt của người qua đời vì Covid tại Chùa Long Hoa của Phật giáo Tp. HCM đã làm lòng người thêm ấm lại, ngoài sự sẻ chia đùm bọc của Tăng Ni Phật Tử trong và ngoài nước trong suốt thời gian bắt đầu thực hiện giãn cách xã hội.

Theo Thông Bạch của Hội Đồng Trị Sự GHPGVN, về việc tiến hành Đại Lễ Vu Lan Báo Hiếu PL 2565 – DL 2021, trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến vô cùng phức tạp, tất cả cơ sở tự viện Phật giáo trên toàn quốc sẽ tiếp tục cấm túc an cư, tụng kinh Vu Lan báo hiếu thâm ân Cha mẹ, hồi hướng cho Cửu Huyền Thất Tổ, Chiến sĩ trận vong, cầu nguyện dịch bệnh sớm tiêu trừ, quốc thái dân an.

Nghĩa là lễ Vu Lan năm nay, sẽ được cử hành trong phạm vi nội tự. Sẽ không có các buổi lễ Bông Hồng Cài Áo, Rửa Tay Cho Mẹ, tưởng niệm ân đức sanh thành, đầy xúc động tại các tự viện Phật giáo mà thay vào đó là các chương trình đại lễ online được phát trực tiếp. Dù vậy, tinh thần hiếu đạo của người con Phật vẫn tiếp tục lan tỏa bức thông điệp thiêng liêng cao quý về tấm gương hiếu hạnh của Bồ Tát Mục Kiền Liên trên mạng xã hội. Cho nên tầm quan trọng của mùa Vu Lan Báo Hiếu vẫn không hề suy giảm. Bởi đây là một đại lễ đã ăn sâu vào tâm thức của Dân tộc, cũng như gắn liền với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” trong văn hoá truyền thống.

Ngoài ra, Vu Lan có nghĩa là “Giải Đảo Huyền”, nên rằm tháng bảy còn được xem là ngày “Xá tội vong nhân”. Đây là dịp để chúng ta tưởng nhớ về các bậc tiền nhân đã khuất, siêu độ cho gia tiên và bố thí cho các loại Cô hồn, Ngạ quỷ. Sự ra đời pháp môn Thí Thực của Phật giáo Đại Thừa theo nhu cầu thực tế hoàn toàn có cơ sở từ kinh điển Nam Bắc Truyền, chứ không hề hư ngụy làm biến tướng Phật giáo, như những kẻ cực đoan bài xích. Điều này trong kinh Ngạ Quỷ Ngoài Bức Tường, Kinh Du Già Tập Yếu Cứu A Nan Đà La Ni Diệm Khẩu Quỹ Nghi đã nói rõ. Trong hoàn cảnh dịch bệnh hiện nay, ngoài việc tế bần, thí dược, nghi lễ Phật giáo lại trở thành một phương tiện nhập thế tối ưu nhất để xoa dịu lòng người trong cơn khủng hoảng.

Đó là niềm đau mất người thân chưa nguôi, cộng thêm những trăn trở của tang quyến không lo được hậu sự cho người khuất chu toàn, của người còn sống. Trong lúc đại dịch hoành hành, các tỉnh thành còn thực hiện giãn cách xã hội, người chết đành giao cho các cơ sở y tế và dịch vụ mai táng lo liệu. Nhất là những người chết vì Covid, đã qua đời trong đau đớn và cô độc trên giường bệnh, rất cần sự hộ niệm của chư Tăng để giải thoát trong giai đoạn thân trung ấm. Huống chi không chỉ riêng Sài Gòn, hay toàn quốc mà cả những vong linh chết vì dịch bệnh trên toàn cầu, cũng đang rất cần sự trợ duyên của cộng đồng Phật giáo trong mùa lễ Vu Lan, để giúp họ siêu thoát.

Cho nên, thiết nghĩ với ý nghĩa cao đẹp ấy, GHPGVN cần kêu gọi Tăng Ni Phật tử toàn quốc tụng kinh hồi hướng cầu siêu cho các nạn nhân tử vong vì Covid-19. Đặc biệt là các Đại Tòng Lâm khắp ba miền Bắc Trung Nam nên đứng ra tổ chức các đại lễ trai đàn chẩn tế trong phạm vi cho phép, trước hoàn cảnh tang thương hiện tại cũng như sau khi đại dịch kết thúc. Do hoàn cảnh giãn cách xã hội, các gia đình Phật tử có thể đăng ký cầu siêu với nhà chùa qua mạng xã hội và chương trình đại lễ cầu siêu ở các nơi sẽ được phát trực tiếp.

Tuy nhiên, với bi nguyện thống thiết của hàng xuất sĩ, bằng năng lực thí vô uý, đối tượng được chẩn tế ở đây là tất cả nạn nhân đã chết vì Covid trên toàn cầu, không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, đẳng cấp và phạm vi lãnh thổ. Đó chính là biểu hiện “Vô duyên từ, đồng thể đại bi tâm” của Phật giáo. Nhằm xoa dịu nỗi đau mất mát người thân trong cơn đại dịch, cũng như tiếp độ chư vong linh trong cảnh giới U minh chưa được siêu thoát, bằng cách khởi tâm phát ra năng lượng Từ Bi, khiến âm siêu, dương thới.

Tuy nhiên, với tinh thần phụng sự tuỳ duyên, đối với các tự viện đang còn giãn cách, không thể thực hiện các pháp sự trọng đại như Trai Đàn Chẩn Tế, hay tại tư gia của các gia đình Phật tử, cũng nên lập bàn hương án, tuỳ nghi cúng thí, tỏ lòng thương tưởng đến các vong hồn chết vì dịch bệnh nhân dịp lễ Vu Lan. Bởi: “Phép thiêng biến ít hoá nhiều, thảy nhờ Tôn giả (A Nan) chia đều chúng sanh”.

Cho nên, không luận là cúng phẩm đơn sơ đạm bạc hay bày la liệt hương hoa, chỉ cần chư Tăng Ni Phật tử hướng đến chư vị quỷ thần Ôn dịch, Hành Bệnh Quỷ Vương và quyến thuộc của các vị ấy như Kinh Phật Thuyết Khước Ôn Hoàng Thần Chú, Kinh Địa Tạng … đã nêu, cũng như các vong linh mất vì Covid và các oan gia trái chủ nhiều đời của tất cả chúng sanh, sẽ chuyển hoá được cộng nghiệp sát sanh của nhân loại trên toàn cầu. Đó là nguyên nhân dẫn đến dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh theo tinh thần nhân quả.

Ngoài ra, pháp âm Đại Hồng Chung còn có thể xua tan oán khí do cộng nghiệp sát sanh của nhân loại đang hội tụ, nên rất mong trong thời gian giãn cách xã hội, các chùa không thể lơ là tiếng chuông, cũng như có thể linh động thỉnh chuông phi thời, ngoài hai buổi sớm tối, để cầu nguyện dịch bệnh tiêu trừ, Quốc thái dân an.

Bên cạnh sự đóng góp của y học cho nhân loại, lúc này cần lan tỏa thêm năng lượng tích cực đó là ảnh hưởng của đạo học. Lễ cầu siêu cho những người chết vì Covid của Phật giáo, đóng vai trò rất quan trọng. Chúng ta đã từng tổ chức cầu siêu cho ông bà cha mẹ để dạy về Hiếu đạo, cầu cho các Anh hùng liệt sĩ để tỏ lòng tri ân, cầu siêu cho các nạn nhân tai nạn giao thông để giáo dục ý thức tham gia giao thông và giảm trừ tai nạn, thì có thể tổ chức lễ cầu siêu cho những người chết vì Covid để chia sẻ nỗi đau nhân loại, tịnh trừ dịch khí lưu hành cũng như nhắc nhở mọi người về ý thức trách nhiệm bảo vệ tự thân và cộng đồng theo hướng dẫn y tế và quy định pháp luật trong cơn đại dịch.

Được vậy, thì mùa Vu Lan PL 2565 – DL 2021, sẽ là tháng “Cô hồn” ngập tràn tình thương và hạnh phúc. Bởi đó không còn là tháng hoang mang lo sợ của truyền thông bẩn mà là tháng sẻ chia nỗi đau cùng nhân loại, không có bất cứ tôn giáo nào có thể kham nhận ngoài nghi lễ đặc trưng của Phật giáo Đại Thừa. Rất mong chư tôn đức Tăng Ni cùng bắt tay vào hành động.

Cuối cùng, xin mượn lời bài Văn Tế Cô Hồn Dịch Bệnh, để cầu nguyện các vong linh tử nạn trong đại dịch Covid 19, được siêu thoát:

Ô hô!

Mặt trời đã khuất đầu non,

Trẻ già lặn lội mỏi mòn lang thang

Cơn dịch bệnh điêu tàn khắp chốn

Ngõ âm ty mờ mịt nhá nhem

Tình tiền danh lợi lắm phen

Còn đâu phút chốc xuôi tay được gì!

Nọ Vũ Hán tiền bay lả tả

Kia trời Âu như rạ phơi thây

Kể chi già trẻ gái trai

Sang hèn cũng thác, giàu nghèo cũng vong!

Nay tháng bảy Vu Lan trẩy hội

Chốn U Minh đại xá khai ân

Cúi xin Địa Tạng từ tôn

Ra tay cứu vớt u hồn lênh đênh.

Vì bệnh dịch không ai cúng tế

Chẳng tiễn đưa, chưa kịp trối trăn

Đến khi tử biệt dương trần

Còn mang u uất chập chờn bóng ma.

Lạy Bồ Tát Quán Âm Đại Sĩ

Đức từ bi hoá Diệm Nhiên Vương

Ngưu đầu, mã diện dẫn đường

Vô Thường Hắc – Bạch giáng lâm đàn tràng

Xin thỉnh hết cô hồn ngạ quỷ

Cô Rô Na bầu bạn gió sương

Ngụ nơi ngọn cỏ ngàn mây

Hắt hiu gió thổi nghe chuông tìm về!

Nay lễ mọn hương hoa trà quả

Nước từ bi rửa sạch oan khiên

Nguyện nhờ tôn giả A Nan

Chia đều cúng phẩm mười loài an nhiên!

A Di Đà Phật phóng quang

Đưa hồn vong giả về miền lạc bang

Còn chi danh lợi sang hèn?

Còn chi già trẻ tử sanh luân hồi?

Vô thường giấc mộng mà thôi

Không thân, bệnh huyễn, nổi trôi bởi gì?

Sao còn than thở sầu bi

Hồn ơi nhẹ gót mà lên liên đài!

Tiết tháng bảy nhằm mùa dịch bệnh

Hội Vu Lan la liệt hương hoa

Nhất tâm kính thỉnh gần xa

Cam lồ mát dạ tỉnh cơn mộng trần.

Ô hô!

Hồn hỡi mau về!

Nghe câu niệm Phật tiêu diêu sen vàng.

Nam Mô Tiến Vãng Sanh Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).

Lý Diện Bích

Đăng thông tin gây hoang mang dư luận, chủ Facebook Hằng Nguyễn bị mời làm việc

Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM gửi giấy mời chủ tài khoản Facebook Hằng Nguyễn đến làm việc vì đăng bài viết có nội dung gây hoang mang dư luận.

Chiều 27/7, Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM (Sở TT&TT TP.HCM) gửi giấy mời bà N.T.H, chủ tài khoản Facebook Hằng Nguyễn đến làm việc vì đăng bài viết có nội dung ảnh hưởng đến trật tự xã hội, gây hoang mang trong nhân dân.

Đăng thông tin gây hoang mang dư luận, chủ Facebook Hằng Nguyễn bị mời làm việc - 1
Bài viết của bà H. trên trang Facebook cá nhân. (Ảnh chụp màn hình)

Theo đó, bằng tài khoản Facebook Hằng Nguyễn của mình, bà H. đã đăng bài: “Hà Nội phát lệnh lúc 0h để 6h thực hiện chỉ thị 16…” . Nội dung bài viết đề cập đến công tác chống dịch của TP.HCM, so sánh lối sống của người dân TP.HCM với người Hà Nội, đồng thời cho rằng: “Sài Gòn phải ăn cứu trợ”, “ăn đồ từ thiện của dân nghèo, mọi miền khó khăn của đất nước”…

Sau khi đăng tải, bài viết gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội, gây hoang mang, bức xúc trong nhân dân.

Nhận nhiều sự phản ứng từ cộng đồng mạng và dư luận, bà H. đã xóa bài viết và có bài xin lỗi: “Tôi xin lỗi tất cả mọi người, trong một lúc không làm chủ được suy nghĩ của mình, tôi đã đã viết một status làm tổn thương đến mọi người, tôi biết tôi sai. Tôi mong mọi người hãy mở lòng tha thứ”.

Do bà H. đang ở khu vực phong tỏa nên Thanh tra Sở TT&TT TP.HCM lùi thời gian, mời bà này tới làm việc vào ngày 13/8, ngay sau ngày kết thúc phong tỏa của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh nơi bà N.T.H cư trú.

THY HUỆ

Không có chuyện “Đại lão Hòa thượng được ơn trở lại đạo nhờ đọc kinh Mân Côi kính Đức Mẹ”

Nhiều bạn đọc gửi về tòa soạn một video phổ biến trên YouTube Thanh Long Vlog và các trang mạng xã hội khác có tên gọi “Nhờ lần chuỗi Mân côi, Hòa thượng Việt xưng tội trở lại Đạo Công Giáo” với những thắc mắc, bức xúc và cả sự nghi ngờ.

Video này cũng được đặt tên khác: “Hy hữu: Đại lão Hòa thượng được ơn trở lại đạo nhờ đọc kinh Mân Côi kính Đức Mẹ” .

Trong đoạn video có nêu danh một nhân vật được xác nhận là Hòa thượng Thích Trí Dũng, nguyên trụ trì chùa Nam Thiên Nhất Trụ (Thủ Đức, TP.HCM), mặc dù YouTuber đã dùng kỹ thuật che chữ Dũng trong pháp danh và làm nhòe chân dung của ngài tôn trí trên ban thờ.

Không có chuyện “Đại lão Hòa thượng được ơn trở lại đạo nhờ đọc kinh Mân Côi kính Đức Mẹ” ảnh 1

Câu chuyện thêu dệt làm dư luận bức xúc

Câu chuyện thêu dệt được cho là bắt nguồn từ một vị linh mục đang ở nước ngoài, “dù ở trong chùa nhưng Hòa thượng vẫn không quên Chúa, âm thầm lần hạt mân côi”, “về già Hòa thượng muốn trở lại đạo” nhưng lại ngại “thiếu bác ái với Giáo hội Phật giáo và khiến cho người ta rất sốc” và Hòa thượng đã “xin xưng tội với ngài (một vị linh mục) cho Hòa thượng sống đạo trở lại một cách âm thầm và xin ngài thỉnh thoảng cho Hòa thượng được rước lễ”.

Và theo lời kể, vị linh mục kia cũng nhờ một soeur thỉnh thoảng “kiệu mình thánh Chúa” đến chùa cho Hòa thượng rước lễ. “Trước khi viên tịch, Hòa thượng đã nhắn xin một vị linh mục khi Hòa thượng qua đời, nhờ vị linh mục kia làm lễ cầu nguyện cho Hòa thượng ở nhà thờ”…

Dường như ai cũng biết Hòa thượng Thích Trí Dũng, một vị giáo phẩm có pháp tướng và tinh thần cởi mở, ngài khánh sinh năm 1906, nguyên quán thôn Ứng Luật, xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, trong một gia đình yêu nước, kính tin Phật giáo thuần thành.

Sau khi cụ thân sinh bị thực dân Pháp bắt đày đi Côn Đảo và qua đời ở đó, Hòa thượng được chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng nhận làm con nuôi.

Hòa thượng xuất gia đầu Phật năm lên 13 tuổi với Sư tổ Thích Thanh Nghĩa tại chùa Kim Liên (Ninh Bình), được ban pháp hiệu Thanh Đàm, pháp danh Trí Đức.

Năm 1934, khi Hội Phật giáo Bắc kỳ thành lập, Hòa thượng được cử làm Ủy viên Trung ương. Năm 1946, Hòa thượng là Ủy viên Hội Liên Việt Liên khu 3, từng gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1947, Hòa thượng là người có sáng kiến giải cứu 2.000 người yêu nước bị giam cầm ở Phát Diệm (Ninh Bình).

Năm 1953, ngài vào miền Nam. Năm 1960, Hòa thượng bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam, tra tấn. Ngài đã xây dựng chùa Một Cột (Nam Thiên Nhất Trụ) ở huyện Thủ Đức tại Sài Gòn cũ (nay là TP.Thủ Đức, TP.HCM); tái thiết chùa Phổ Quang ở quận Tân Bình và nhiều ngôi chùa khác trong thành phố.

Hòa thượng được cung thỉnh làm Chứng minh Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP.HCM và suy tôn Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN năm 1997. Hòa thượng viên tịch năm 2001, thượng thọ 96 tuổi, 76 hạ lạp.

Trao đổi với Giác Ngộ về nội dung được thêu dệt trong video trên, được cho là dẫn lại từ một vị linh mục ở hải ngoại, Thượng tọa Thích Giác Dũng, trụ trì tu viện Vĩnh Nghiêm (Q.12) khẳng định “làm gì có chuyện đó”!

Được biết, Thượng tọa Thích Giác Dũng gọi Hòa thượng Thích Trí Dũng là sư bác và vẫn thường lên xuống thăm hỏi Hoà thượng lúc ngài sinh tiền. Lúc Hoà thượng viên tịch, Thượng tọa Giác Dũng và Thượng tọa Thanh Phong là những vị tổ chức tang lễ của Hoà thượng tại tổ đình Vĩnh Nghiêm.

Thượng tọa Giác Dũng kể lại rằng Hòa thượng Thích Trí Dũng là người có pháp tướng đẹp, sinh tiền ngài có mối giao hảo với chức sắc các tôn giáo khác, trong đó có một vài vị linh mục. Các soeur dòng Đa Minh gần đấy rất kính mến và gọi ngài bằng “Bố”, thỉnh thoảng kéo cả đoàn sang biểu diễn Thánh ca cho ngài nghe.

Nói với Giác Ngộ, Thượng tọa Thích Thanh Phong, trụ trì tổ đình Vĩnh Nghiêm (Q.3) cũng cho biết Đại lão Hòa thượng Thích Trí Dũng là vị có tinh thần quảng giao, được nhiều người, nhiều giới quý mến vì tính cách hòa đồng, hoan hỷ. Cụ là vị đồng môn, huynh đệ với Đức Đệ nhất Pháp chủ GHPGVN, từng gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc còn ở miền Bắc, và sau này khi sang nước ngoài dự các sự kiện ngoại giao quốc tế, cũng từng gặp nhiều nguyên thủ quốc gia, lãnh đạo tôn giáo khác, trong đó có đức Giáo hoàng Phaolô IV.

“Làm gì có chuyện xưng tội, rồi trở lại đạo”, Thượng tọa Thích Thanh Phong khẳng định.

Xem ghi nhận về “Chuyện một ni cô đến với Giáo điểm Tin Mừng”

Nói về video trên, Thượng tọa Thích Tâm Hải, Trưởng ban Thông tin – Truyền thông GHPGVN TP.HCM cho biết đã xác nhận thông tin nhiều nguồn, khẳng định nội dung nêu trong video là không có thật.

Thượng tọa cho biết trong kênh của YouTuber Thanh Long Vlog không chỉ có video đó, mà còn những chủ đề được cho thuộc dạng “hy hữu” như vậy để minh chứng cho sự mầu nhiệm của một tín lý tôn giáo khác cũng đã được thực hiện và phổ biến công khai.

Thượng tọa Tâm Hải chia sẻ Ban Thông tin – Truyền thông nhận được nhiều thông tin liên quan tới hiện tượng được cho là người tu (Tăng, Ni) cải đạo, được xem và chia sẻ rất nhiều qua mạng xã hội, “Chúng tôi đã đến tận cơ sở để tìm hiểu và xác minh, sự thật không phải như thế. Báo Giác Ngộ cũng từng phản ánh nhiều trường hợp gây xôn xao dư luận”, Thượng tọa cho biết.

“Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ, chuyện giả như… thật và được diễn đạt, lắp ghép hình ảnh nhằm đánh lừa công chúng đầy rẫy trên mạng xã hội. Chúng ta cần tỉnh giác để không bị lầm lẫn, rồi tự mang rác vào nhà mình. Nếu gặp trường hợp tế nhị hoặc hoài nghi, xin liên lạc với các báo Phật giáo, hoặc các Ban Thông tin – Truyền thông Phật giáo để được chia sẻ, giải thích và hướng dẫn”, Thượng tọa nói.

Cảnh giác với một số cách lạ dùng để trị Covid-19

Hỏi: Tình cờ, tôi được biết trên internet, dạo gần đây có một nhóm người truyền dạy nhau cách niệm số, đọc dãy số 126002600 kèm với Nam-mô Dược Sư Phật để trị bệnh Covid-19. Một nhóm khác thì truyền dạy nuốt trùn đất sống (địa long) cũng để phòng trị dịch bệnh Covid-19. Điều đáng nói là cả hai nhóm này đều bàn đến triết lý và tu hành Phật giáo, thậm chí mặc y phục của cư sĩ và tu sĩ Phật giáo. Xin hỏi quan điểm của Phật giáo về vấn đề này thế nào?

(TRÍ HOÀN, tri.hoa…@olamnet.com; THẢO NGUYÊN, boconganh…@gmail.com)

Ảnh minh họa

Bạn Trí Hoàn và Thảo Nguyên thân mến!

Đức Phật xác định bệnh khổ là một thực tại tất yếu của đời sống con người. Thân và tâm, theo Phật giáo, có mối liên hệ mật thiết với nhau nhưng giáo pháp đặc biệt chú trọng đến trị liệu tâm bệnh, chữa trị cho tâm hết tham ái, vô minh, chấp thủ để thành tựu giải thoát.

Thời Đức Phật còn tại thế, khi thân bị bệnh, ngoài việc điều phục nội tâm, Ngài vẫn chữa trị theo các phương pháp của y học. Sự kiện bác sĩ Kỳ-bà (quan ngự y của nước Ma-kiệt-đà) đã phát nguyện chăm sóc sức khỏe cho Đức Phật, trị liệu bệnh tật cho chư Tăng là minh chứng điển hình.

Trong kinh Phật, rải rác vẫn còn lưu lại một số cách trị bệnh theo trình độ y học thời bấy giờ. Vài trường hợp đặc biệt, như dịch bệnh ở Tỳ-xá-ly (kinh Châu báu, Tiểu bộ kinh) do các loài phi nhơn quấy nhiễu gây ra, Đức Phật dạy tán thán uy đức Tam bảo khiến chư thiên hoan hỷ, nhiếp phục loài phi nhơn, đẩy lùi dịch bệnh. Trường hợp khác, Đức Phật thường khuyên các Tỳ-kheo bị bệnh trì niệm và thực hành Thất giác chi để vượt qua tật bệnh (Kinh Tương ưng bộ, thiên Đại phẩm).

Như vậy, về căn bản, đối với việc trị liệu thân bệnh, quan điểm của Đức Phật là điều phục tâm và trị liệu theo y học. Có thể xem đây là cơ sở để hàng Phật tử ứng dụng nhằm đối phó với dịch bệnh Covid-19 đang hoành hành hiện nay. Điều phục tâm để bớt hoang mang lo lắng, thấy rõ bệnh tật là do nghiệp để tích cực chuyển nghiệp, kể cả khi nghiệp đã chín muồi thì tùy duyên thuận pháp với sinh tử mà không hề sợ hãi. Trị liệu theo y học là chữa trị bệnh theo huớng dẫn của thầy thuốc, dựa trên cơ sở khoa học, phát huy tuệ giác để nói không với các liệu pháp thiếu trí tuệ, phản khoa học, mê tín, tà kiến.

Như vậy, việc đọc một dãy số, theo những người chủ trương đó là “Phương pháp chữa bệnh đơn giản theo tượng số Chu dịch”. Chúng ta không bàn về tượng số ở đây, chỉ đối chiếu với kinh Phật thì không thấy đề cập đến cách chữa bệnh này. Theo quan điểm của y học hiện đại thì việc đọc các con số (kể cả niệm danh hiệu Phật) dường như chẳng liên hệ gì đến vấn đề trị liệu Covid-19 cả.

Việc nuốt trùn sống (địa long) cũng vậy, theo y học cổ truyền, địa long chỉ có một số công năng như thanh nhiệt hạ sốt, trấn kinh, thông kinh, hoạt lạc, bình suyễn, hạ huyết áp, lợi niệu, tiêu phù… Với y học hiện đại, mặc dù có một số nghiên cứu về các dược tính của địa long được công bố nhưng từ nghiên cứu đến thực nghiệm và cho đến khi được các cơ quan y tế có thẩm quyền chuẩn y là cả một câu chuyện dài. Do vậy, những ai chủ trương nuốt trùn sống để phòng trị Covid-19 là không đúng với quan điểm y học hiện hành.

Riêng vấn đề những người chủ trương trị bệnh theo các cách nói trên “đều bàn đến triết lý và tu hành Phật giáo, thậm chí mặc y phục của cư sĩ và tu sĩ Phật giáo”, nếu thực sự là đệ tử Phật thì cần nhớ đến hai nguyên tắc căn bản của giáo pháp là từ bi và trí tuệ. Ở đây, xét kỹ các phương pháp trị liệu này, từ bi và trí tuệ đều thiếu vắng thì cần tỉnh thức và từ bỏ. Hãy học theo Đức Phật, điều phục tâm và trị liệu theo y học đối với các loại bệnh tật.

Chúc các bạn tinh tấn!

Đọc nhiều

Cần điều tra clip và xử lý cán bộ đòi chôn sống nhà sư.

Giữa lúc cơn khủng hoảng truyền thông Phật giáo đang leo thang vì những bài báo lá cải tiếp tục bồi bút sau khi...

Sự thật về người quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao...

Ngày 13/3/2021, ngay sau khi báo Thanh Niên Online đưa tin: ”Quản lý khóa tu mùa hè bị tố cáo giao cấu trẻ em:...

Cần Lên Án Báo Tuổi Trẻ Khi Đem Phật Giáo Ra Biếm Họa

Ngày 15/1/2020, Tuổi Trẻ Online đã có sự can thiệp chỉnh sửa lại thông tin đăng tải, buộc lòng phải lên tiếng xin lỗi...

Khai tôn giáo trong căn cước công dân, phải có “giấy chứng nhận xuất...

 Đây là một thắc mắc lớn mà người viết đã nhiều lần đặt ra trong khi trực tiếp thực hiện các thủ tục liên...